Thứ Năm, 18 tháng 12, 2014

THỰC TẠI VÀ HOANG ĐƯỜNG 31/b




PHẦN III:     Nguồn cội

“Đừng chê cõi trần nhơ
Đừng khen cõi trần đẹp
Cõi trần là thản nhiên
Chỉ có đời nhơ, đẹp.”
.


CHƯƠNG IX: THỜI CUỘC

“Nếu như sau cái đêm tối tăm của thời trung cổ, các ngành khoa học đột nhiên sống lại với một sức mạnh không ngờ và bắt đầu phát triển nhanh chóng một cách kỳ diệu, thì sự kỳ diệu ấy cũng chính là nhờ sản xuất mà có”
Ph. Ăngghen

***
(tiếp theo)
Vào 3 giờ 30 phút sáng, ngày 22-6-1941, không một lời tuyên chiến, phát xít Đức bất ngờ nổ súng, ào ạt tấn công trên khắp biên giới phía tây Liên Xô, từ biển Đen đến biển Bantích.
Toàn thế giới nín thở, tuyệt đại đa số lo âu nhưng không ít chính khách tư bản khấp khởi.
Trước đó, ngày 12-5-1941, Bộ chỉ huy tối cao Đức đã đề ra chỉ thị cho sĩ quan và binh lính Đức như sau:
“Hãy nhớ và thực hiện:
- Không có thần kinh, trái tim và sự thương xót - anh được chế tạo từ sắt, thép Đức…
- Hãy tiêu diệt trong mình mọi sự thương xót và đau khổ, hãy giết bất kỳ người Nga nào và không được dừng lại dù trước mặt anh là ông già hay phụ nữ, con gái hay con trai.
- Chúng ta phải bắt thế giới đầu hàng… anh là người Đức, và là người Đức thì phải tiêu diệt mọi sự sống cản trở con đường của anh”.
Ngay từ ngày đầu, phát xít Đức đã làm chủ bầu trời bằng cuộc tập kích không quân vào các sân bay nằm trong vùng phía tây Liên Xô, gây thiệt hại ghê gớm, tạo điều kiện cho lực lượng mặt đất  của chúng tiến sâu vào lãnh thổ Liên Xô. Cuộc tiến công đã ít nhiều gây ra bất ngờ đối với Nhà nước Xô Viết.
Dù trong tình thế chịu bất lợi to lớn về nhiều mặt, nhưng lực lượng vùng biên giới của Hồng quân đã chống cự quyết liệt và anh dũng. Một trong những tấm gương tiêu biểu là cuộc chiến đấu ở pháo đài Brét. Các chiến sĩ Xôviết, dưới sự chỉ huy của thiếu tá P. M. Gabrilốp, đã ngoan cường cố thủ trong pháo đài từ những giờ phút đầu chiến tranh đến tận cuối tháng 7-1941, khi mặt trận đã lùi xa hàng trăm km về phía đông. Pháo đài Brét đã trở thành biểu tượng về tinh thần bất khuất của Hồng quân.



PHẦN III:     Nguồn cội

“Đừng chê cõi trần nhơ
Đừng khen cõi trần đẹp
Cõi trần là thản nhiên
Chỉ có đời nhơ, đẹp.”
.


CHƯƠNG IX: THỜI CUỘC

“Nếu như sau cái đêm tối tăm của thời trung cổ, các ngành khoa học đột nhiên sống lại với một sức mạnh không ngờ và bắt đầu phát triển nhanh chóng một cách kỳ diệu, thì sự kỳ diệu ấy cũng chính là nhờ sản xuất mà có”
Ph. Ăngghen

***
(tiếp theo)
Vào 3 giờ 30 phút sáng, ngày 22-6-1941, không một lời tuyên chiến, phát xít Đức bất ngờ nổ súng, ào ạt tấn công trên khắp biên giới phía tây Liên Xô, từ biển Đen đến biển Bantích.
Toàn thế giới nín thở, tuyệt đại đa số lo âu nhưng không ít chính khách tư bản khấp khởi.
Trước đó, ngày 12-5-1941, Bộ chỉ huy tối cao Đức đã đề ra chỉ thị cho sĩ quan và binh lính Đức như sau:
“Hãy nhớ và thực hiện:
- Không có thần kinh, trái tim và sự thương xót - anh được chế tạo từ sắt, thép Đức…
- Hãy tiêu diệt trong mình mọi sự thương xót và đau khổ, hãy giết bất kỳ người Nga nào và không được dừng lại dù trước mặt anh là ông già hay phụ nữ, con gái hay con trai.
- Chúng ta phải bắt thế giới đầu hàng… anh là người Đức, và là người Đức thì phải tiêu diệt mọi sự sống cản trở con đường của anh”.
Ngay từ ngày đầu, phát xít Đức đã làm chủ bầu trời bằng cuộc tập kích không quân vào các sân bay nằm trong vùng phía tây Liên Xô, gây thiệt hại ghê gớm, tạo điều kiện cho lực lượng mặt đất  của chúng tiến sâu vào lãnh thổ Liên Xô. Cuộc tiến công đã ít nhiều gây ra bất ngờ đối với Nhà nước Xô Viết.
Dù trong tình thế chịu bất lợi to lớn về nhiều mặt, nhưng lực lượng vùng biên giới của Hồng quân đã chống cự quyết liệt và anh dũng. Một trong những tấm gương tiêu biểu là cuộc chiến đấu ở pháo đài Brét. Các chiến sĩ Xôviết, dưới sự chỉ huy của thiếu tá P. M. Gabrilốp, đã ngoan cường cố thủ trong pháo đài từ những giờ phút đầu chiến tranh đến tận cuối tháng 7-1941, khi mặt trận đã lùi xa hàng trăm km về phía đông. Pháo đài Brét đã trở thành biểu tượng về tinh thần bất khuất của Hồng quân.

Thứ Tư, 17 tháng 12, 2014

Mấy lời giập giạp




Cuối tháng 11-2014, Thắng Tô yêu cầu tôi chia sẻ bài viết về chuyến đi chơi Hoa Kỳ đăng bên OTOFUN. Ngay lúc đó, tôi cũng chưa mặn mà lắm, ỡm ờ trả lời cho qua chuyện. Tính tôi thế! Trước khi nhận lời với bạn về một việc cụ thể gì đó thì cần tìm hiểu kỹ càng, không thể ào ào hoặc qua loa, hời hợt… và lo sợ có thể làm hỏng việc bạn yêu cầu. Nhưng khi đã nhận lời thì làm nhiệt tình, hết khả năng và điều kiện cho phép: có chất lượng và lâu dài.

Khi mới nghỉ hưu, các cụ Chi bộ cử làm Bí thư, tôi kiên quyết chối từ đến mức căng thẳng, tôi dọa… xin ra. Còn việc này thì rất hợp với điều kiện hiện nay của tôi: thời gian vô tư, có ít nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực IT, đã từng có nhiều thâm niên tham gia các diễn đàn trên mạng xã hội, thậm chí tự lập và quản trị cùng lúc 5 (năm) cái blog…

Tuy nhiên, như đã trình bày ở trên, việc tôi cần cân nhắc ở đây là nội dung tham gia với bantroik6. Những kỷ niệm về thời tuổi trẻ (nói chung) và học ở Trường Văn hóa Quân đội (nói riêng) là đề tài đương nhiên rồi. Ngoài ra, thêm một chủ đề nữa: chia sẻ với bạn bè những sở thích riêng.

Cũng như nhiều người, tôi có nhiều cái thích có từ rất sớm và nay đến độ đam mê. Đó là thú ham mê chơi ảnh. Tôi đã từng được nhận “nhuận ảnh” từ báo Nhân dân khi mới ngoài 20 tuổi. Còn giờ đây, quanh tôi là hàng chục ngàn tấm ảnh kỷ niệm được thu xếp vào hai chục cuốn album lớn và mấy cái máy ảnh, máy quay…

Một thú vui nữa của tôi là sưu tầm và thưởng thức dòng nhạc cổ điển. Mấy năm gần đây đã phải nhịn ăn, nhịn mặc… nhặt nhạnh được hơn ngàn CD của nhiều hãng sản xuất tên tuổi thế giới.

Thứ nữa là thích dịch chuyển với cái slogan của tôi hiện nay - “Những chuyến đi là cuộc đời”.

Tóm lại, nội dung tôi tham gia với bantroik6 là chuyện xưa dưới hình thức ghi chép các mẩu ký ức và chuyện kể các chuyến đi của tôi bằng hình thức phóng sự với các hình ảnh tôi chụp được.

Về thời lượng, tôi đăng ký với bantroik6 cách 4 đến 5 ngày post một bài, để các bạn kịp đọc, “ném đá”, “chém gió” (từ chuyên môn của dân mạng)… và còn để không gian cho các bloger khác.

Riêng với Thắng Tô: bạn giúp tôi thể hiện các bài viết theo các form truyền thống của blog.

Mong được các bạn quan tâm, động viên.

Xin cảm ơn!

Bài kỳ sau: Xuyên Việt, hành trình qua các di sản thế giới (Phóng sự ảnh)
 ❧ ❀ ❧ 










Cuối tháng 11-2014, Thắng Tô yêu cầu tôi chia sẻ bài viết về chuyến đi chơi Hoa Kỳ đăng bên OTOFUN. Ngay lúc đó, tôi cũng chưa mặn mà lắm, ỡm ờ trả lời cho qua chuyện. Tính tôi thế! Trước khi nhận lời với bạn về một việc cụ thể gì đó thì cần tìm hiểu kỹ càng, không thể ào ào hoặc qua loa, hời hợt… và lo sợ có thể làm hỏng việc bạn yêu cầu. Nhưng khi đã nhận lời thì làm nhiệt tình, hết khả năng và điều kiện cho phép: có chất lượng và lâu dài.

Khi mới nghỉ hưu, các cụ Chi bộ cử làm Bí thư, tôi kiên quyết chối từ đến mức căng thẳng, tôi dọa… xin ra. Còn việc này thì rất hợp với điều kiện hiện nay của tôi: thời gian vô tư, có ít nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực IT, đã từng có nhiều thâm niên tham gia các diễn đàn trên mạng xã hội, thậm chí tự lập và quản trị cùng lúc 5 (năm) cái blog…

Tuy nhiên, như đã trình bày ở trên, việc tôi cần cân nhắc ở đây là nội dung tham gia với bantroik6. Những kỷ niệm về thời tuổi trẻ (nói chung) và học ở Trường Văn hóa Quân đội (nói riêng) là đề tài đương nhiên rồi. Ngoài ra, thêm một chủ đề nữa: chia sẻ với bạn bè những sở thích riêng.

Cũng như nhiều người, tôi có nhiều cái thích có từ rất sớm và nay đến độ đam mê. Đó là thú ham mê chơi ảnh. Tôi đã từng được nhận “nhuận ảnh” từ báo Nhân dân khi mới ngoài 20 tuổi. Còn giờ đây, quanh tôi là hàng chục ngàn tấm ảnh kỷ niệm được thu xếp vào hai chục cuốn album lớn và mấy cái máy ảnh, máy quay…

Một thú vui nữa của tôi là sưu tầm và thưởng thức dòng nhạc cổ điển. Mấy năm gần đây đã phải nhịn ăn, nhịn mặc… nhặt nhạnh được hơn ngàn CD của nhiều hãng sản xuất tên tuổi thế giới.

Thứ nữa là thích dịch chuyển với cái slogan của tôi hiện nay - “Những chuyến đi là cuộc đời”.

Tóm lại, nội dung tôi tham gia với bantroik6 là chuyện xưa dưới hình thức ghi chép các mẩu ký ức và chuyện kể các chuyến đi của tôi bằng hình thức phóng sự với các hình ảnh tôi chụp được.

Về thời lượng, tôi đăng ký với bantroik6 cách 4 đến 5 ngày post một bài, để các bạn kịp đọc, “ném đá”, “chém gió” (từ chuyên môn của dân mạng)… và còn để không gian cho các bloger khác.

Riêng với Thắng Tô: bạn giúp tôi thể hiện các bài viết theo các form truyền thống của blog.

Mong được các bạn quan tâm, động viên.

Xin cảm ơn!

Bài kỳ sau: Xuyên Việt, hành trình qua các di sản thế giới (Phóng sự ảnh)
 ❧ ❀ ❧ 







Thứ Ba, 16 tháng 12, 2014

THỰC TẠI VÀ HOANG ĐƯỜNG 31/a




PHẦN III:     Nguồn cội

“Đừng chê cõi trần nhơ
Đừng khen cõi trần đẹp
Cõi trần là thản nhiên
Chỉ có đời nhơ, đẹp.”
.


CHƯƠNG IX: THỜI CUỘC

“Nếu như sau cái đêm tối tăm của thời trung cổ, các ngành khoa học đột nhiên sống lại với một sức mạnh không ngờ và bắt đầu phát triển nhanh chóng một cách kỳ diệu, thì sự kỳ diệu ấy cũng chính là nhờ sản xuất mà có”
Ph. Ăngghen


Hậu quả của cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918) cùng với sự thành công của Cách mạng tháng Mười Nga đã kích thích sự nổi dậy mạnh mẽ phong trào đấu tranh của nhân dân lao động toàn thế giới. Năm 1919, ở Hungari đã thành lập được chính quyền Xô viết và tồn tại 133 ngày. Ở xứ Bavie (Đức) và Đông Xlôvaki cũng đã nổi dậy lật đổ chính quyền, đòi thành lập chính quyền Xô viết. Ở nhiều nước tư bản khác như Anh, Pháp, Mỹ… phong trào đấu tranh của công nhân cũng lan rộng, sôi nổi hơn. Tại châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latinh, ở nhiều nước thuộc địa và nửa thuộc địa như Triều Tiên, Trung Quốc, Ấn Độ, Iran, Ai Cập, Braxin, Pêru, Cuba, Mêhicô…, phong trào chống thực dân, đế quốc đòi độc lập dân tộc, dân chủ cũng diễn ra mạnh mẽ. Đặc biệt, ở Mông Cổ, cuộc cách mạng nhân dân đã thành công đưa đến việc thành lập nhà nước cộng hòa nhân dân.



PHẦN III:     Nguồn cội

“Đừng chê cõi trần nhơ
Đừng khen cõi trần đẹp
Cõi trần là thản nhiên
Chỉ có đời nhơ, đẹp.”
.


CHƯƠNG IX: THỜI CUỘC

“Nếu như sau cái đêm tối tăm của thời trung cổ, các ngành khoa học đột nhiên sống lại với một sức mạnh không ngờ và bắt đầu phát triển nhanh chóng một cách kỳ diệu, thì sự kỳ diệu ấy cũng chính là nhờ sản xuất mà có”
Ph. Ăngghen


Hậu quả của cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918) cùng với sự thành công của Cách mạng tháng Mười Nga đã kích thích sự nổi dậy mạnh mẽ phong trào đấu tranh của nhân dân lao động toàn thế giới. Năm 1919, ở Hungari đã thành lập được chính quyền Xô viết và tồn tại 133 ngày. Ở xứ Bavie (Đức) và Đông Xlôvaki cũng đã nổi dậy lật đổ chính quyền, đòi thành lập chính quyền Xô viết. Ở nhiều nước tư bản khác như Anh, Pháp, Mỹ… phong trào đấu tranh của công nhân cũng lan rộng, sôi nổi hơn. Tại châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latinh, ở nhiều nước thuộc địa và nửa thuộc địa như Triều Tiên, Trung Quốc, Ấn Độ, Iran, Ai Cập, Braxin, Pêru, Cuba, Mêhicô…, phong trào chống thực dân, đế quốc đòi độc lập dân tộc, dân chủ cũng diễn ra mạnh mẽ. Đặc biệt, ở Mông Cổ, cuộc cách mạng nhân dân đã thành công đưa đến việc thành lập nhà nước cộng hòa nhân dân.

Những năm tháng ở trường Văn hóa Quân đội (1. Trại Hòe)







Những năm tháng ở trường Văn hóa Quân đội




Tôi bước vào cuộc sống quân ngũ từ rất sớm. Lúc đó là vào tháng 5 năm 1965, tôi lên học ở trường Văn hóa Quân đội (sau này trường mang tên liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi). Có lẽ tôi là một trong những học sinh đầu tiên của Trường và theo học cho đến lúc cuối cùng, chứng kiến sáu lần di chuyển địa điểm trong thời gian tròn 5 năm. Những câu chuyện về một thời xa xưa ấy luôn nằm trong tâm thức tôi cho đến tận ngày hôm nay, thỉnh thoảng trong những giấc mơ tôi cũng gặp lại những khuôn mặt, phong cảnh tuy mờ nhạt nhưng quen thuộc. Lo đến một ngày nào đó, không có điều kiện nhớ lại, tôi tập hợp những mảnh vụn của ký ức trong những trang viết hồi tưởng này.


Trại Hòe, ngày đầu quân ngũ

Lúc đầu, Trường đóng quân tại Trại Hòe (nay gọi là thôn Ngọc Tân, xã Ngọc Sơn, huyện Hiệp Hòa, Bắc Giang). Cuộc sống tập thể theo nề nếp quân đội đã đưa tôi, một chú bé lên 10 tuổi đi vào khuôn phép. Tôi cũng nhanh chóng thích nghi với cuộc sống, mặc dù bây giờ nghĩ lại và so sánh với cuộc sống hiện tại của các cháu nhỏ tầm tuổi ấy thì rõ ràng là những chuyển biến ngoài sức tưởng tượng gần như huyền thoại.

Nơi chúng tôi ở là một doanh trại quân đội nằm trên ngọn đồi trọc, rộng rãi và bằng phẳng. Ở đó có sẵn vài dãy nhà vách đan phên nứa, lợp lá cọ. Các dãy nhà sắp xếp chạy xung quanh một cái sân rộng, bên những cây trẩu cao lá to xanh mát và bên dưới là những luống trồng dứa. Giữa trường là khoảng sân rộng, trơ đất có chỗ đá bóng và thỉnh thoảng có chiếu phim vào buổi tối. Một lối vào thẳng cái sân đó. Phía đối diện lối vào là nhà ăn lớn, phía sau là bếp, có một giếng nước to. Bên trái là khu vực Hiệu bộ (cách gọi Ban Giám hiệu Nhà trường lúc đó vì phải chia ra các khu vực). Bọn lớp 5 chúng tôi ở đối diện qua cái sân với khu Hiệu bộ.

Chúng tôi được phát quần áo, tư trang như quân đội và đương nhiên kỷ luật, trật tự nội vụ, giờ giấc như quân đội. Những ngày đầu chúng tôi được tập trung học tập về tình hình đất nước, truyền thống quân đội, cho đến nội quy, điều lệnh nội vụ, cách sắp xếp tư trang cá nhân, tập gấp chăn màn và xếp ở đầu gường như người lính thực thụ. Giờ giấc sinh hoạt hàng ngày theo hiệu lệnh còi của cán bộ quản lý và kẻng chung của Trường.

Mặc dù gian khổ, thiếu thốn nhưng bù lại, chúng tôi được sống trong một thiên nhiên thú vị.











Những buổi trưa hè nắng trung du chói chang, những con thằn lằn chạy ngang dọc trên cột nhà. Ngoài sân, cái nắng hắt lên từ khoảng sân rộng khiến con mắt cứ luôn phải nheo lại. Lũ ve thả sức kêu ran trên những cây mít, cây bạch đàn, cây trẩu. Gió thổi mạnh qua gian nhà trống mang tới không gian thoáng đãng mát mẻ.

Doanh trại nằm trên một ngọn đồi, nước sinh hoạt chủ yếu dùng nước giếng. Giếng ở vùng này sâu lắm, có lẽ tới chục mét mới có nước. Nước chỉ dùng cho nhu cầu vệ sinh cá nhân buổi sáng. Có một cái giếng to nằm sau nhà ăn. Còn tắm, giặt thì phải ra mương thuỷ lợi, nằm phía sau doanh trại.

Lúc đó chiến tranh đã bắt đầu lan ra phía Bắc. Thỉnh thoảng lại nghe ì ầm tiếng máy bay phản lực xa xa, rồi dần dần chúng vụt bay qua ở trên cao. Khi có kẻng báo động vang lên là chúng tôi nhảy xuống mấy cái giao thông hào phía sau nhà ngồi nghe ngóng, mắt dõi lên trời xanh và khi báo yên thì lại sinh hoạt bình thường. Thỉnh thoảng, vào ngày Chủ nhật được nghỉ, đón cha mẹ lên thăm nom, tiếp tế… nếu không có thì tha thẩn loanh quanh trong vùng. Có lần, tôi được rủ đi chơi xa hơn, tất nhiên là phải lần lượt và được phép ra khỏi doanh trại. Đó là lần đi xuống thị trấn phố Thắng, phố huyện Hiệp Hòa. Lang thang đi bộ hai ba tiếng mới ra đến phố huyện. Cả dãy phố nhà cửa lèo tèo, đường xá vắng vẻ, bụi bặm. Một phố huyện trung du nghèo nàn như các phố huyện miền Bắc thời chiến tranh. Sau khi lượn một vòng, bọn tôi gặp hàng kem. Đủ tiền ăn một que kem rồi về. Trên đường về có ghé qua Trại Cờ ngó xem nơi ăn ở của các khóa lớn hơn. Nhà cửa ở Trại Cờ khang trang, ngăn nắp hơn, cây xanh nhiều hơn ở chỗ chúng tôi và không khí có vẻ nhộn nhịp, vui vẻ hơn.

Trong các bụi cây quanh vùng có nhiều dây leo lạc tiên. Tìm được đám quả lạc tiên chín là một hạnh phúc lớn trong các chuyến đi khám phá. Dân quanh vùng hay mang nông sản, hoa quả đến bán cho chúng tôi. Lần đầu tiên tôi được biết đến quả chay, trái cây trông như quả dâu tây, màu đỏ, có nhiều tép như bưởi, ăn chua chua ngòn ngọt, …

Thời gian này vui thú nhất của bọn học trò chúng tôi là ra mương tắm. Chiều chiều, đến giờ nghỉ bọn chúng tôi kéo nhau ra rải khắp dọc bờ mương. Đây là mương thủy lợi, nước chảy mạnh khi mở các cửa cống. Ở đây tôi mới biết bơi do bạn bè chỉ bảo và liều mạng bơi ào ào. Từ bơi chó chuyển sang bơi sải, bơi đứng, bơi ếch, bơi bướm,… và đương nhiên là cũng nhiều lần… no nước. Trò chơi thích thú nhất của chúng tôi là nhảy từ trên thành cống Bốn cửa xuống mương theo kiểu “nhảy dù”. Vừa sợ, vừa sướng nên cứ thi nhau nhảy, lại còn rủ nhau nhảy tập thể, rồi thi nhảy xa hơn… Đã có người bị hút vào miệng cống, nhưng cũng chả đứa nào sợ.

Ở Trại Hòe được khoảng 3 tháng thì chuyển địa điểm. Vào một buổi chiều muộn khi mà chúng tôi cơm nước xong xuôi thì một đoàn xe tải tiến vào sân trường và đỗ thành một dãy dài. Nhà trường gõ kẻng tập hợp chúng tôi, thầy Hiệu trưởng Bùi Khắc Quỳnh phổ biến kế hoạch hành quân. Theo đó, ngay lập tức chúng tôi phải mang toàn bộ tư trang lên xe chạy hành quân ngay trong đêm. Đi đâu không biết, đoàn xe cứ chạy ì ì cả đêm. Khoảng nửa đêm, đang ngủ gà gật, chúng tôi lại phải xuống xe đi qua một cái phà. Đến gần sáng, đoàn xe mới dừng lại. Chúng tôi đã đến địa điểm mới. Sau này có tin là ngay sau khi chúng tôi dời khỏi Trại Hòe thì địa điểm này bị máy bay ném bom.

(Còn nữa)
















Những năm tháng ở trường Văn hóa Quân đội




Tôi bước vào cuộc sống quân ngũ từ rất sớm. Lúc đó là vào tháng 5 năm 1965, tôi lên học ở trường Văn hóa Quân đội (sau này trường mang tên liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi). Có lẽ tôi là một trong những học sinh đầu tiên của Trường và theo học cho đến lúc cuối cùng, chứng kiến sáu lần di chuyển địa điểm trong thời gian tròn 5 năm. Những câu chuyện về một thời xa xưa ấy luôn nằm trong tâm thức tôi cho đến tận ngày hôm nay, thỉnh thoảng trong những giấc mơ tôi cũng gặp lại những khuôn mặt, phong cảnh tuy mờ nhạt nhưng quen thuộc. Lo đến một ngày nào đó, không có điều kiện nhớ lại, tôi tập hợp những mảnh vụn của ký ức trong những trang viết hồi tưởng này.


Trại Hòe, ngày đầu quân ngũ

Lúc đầu, Trường đóng quân tại Trại Hòe (nay gọi là thôn Ngọc Tân, xã Ngọc Sơn, huyện Hiệp Hòa, Bắc Giang). Cuộc sống tập thể theo nề nếp quân đội đã đưa tôi, một chú bé lên 10 tuổi đi vào khuôn phép. Tôi cũng nhanh chóng thích nghi với cuộc sống, mặc dù bây giờ nghĩ lại và so sánh với cuộc sống hiện tại của các cháu nhỏ tầm tuổi ấy thì rõ ràng là những chuyển biến ngoài sức tưởng tượng gần như huyền thoại.

Nơi chúng tôi ở là một doanh trại quân đội nằm trên ngọn đồi trọc, rộng rãi và bằng phẳng. Ở đó có sẵn vài dãy nhà vách đan phên nứa, lợp lá cọ. Các dãy nhà sắp xếp chạy xung quanh một cái sân rộng, bên những cây trẩu cao lá to xanh mát và bên dưới là những luống trồng dứa. Giữa trường là khoảng sân rộng, trơ đất có chỗ đá bóng và thỉnh thoảng có chiếu phim vào buổi tối. Một lối vào thẳng cái sân đó. Phía đối diện lối vào là nhà ăn lớn, phía sau là bếp, có một giếng nước to. Bên trái là khu vực Hiệu bộ (cách gọi Ban Giám hiệu Nhà trường lúc đó vì phải chia ra các khu vực). Bọn lớp 5 chúng tôi ở đối diện qua cái sân với khu Hiệu bộ.

Chúng tôi được phát quần áo, tư trang như quân đội và đương nhiên kỷ luật, trật tự nội vụ, giờ giấc như quân đội. Những ngày đầu chúng tôi được tập trung học tập về tình hình đất nước, truyền thống quân đội, cho đến nội quy, điều lệnh nội vụ, cách sắp xếp tư trang cá nhân, tập gấp chăn màn và xếp ở đầu gường như người lính thực thụ. Giờ giấc sinh hoạt hàng ngày theo hiệu lệnh còi của cán bộ quản lý và kẻng chung của Trường.

Mặc dù gian khổ, thiếu thốn nhưng bù lại, chúng tôi được sống trong một thiên nhiên thú vị.











Những buổi trưa hè nắng trung du chói chang, những con thằn lằn chạy ngang dọc trên cột nhà. Ngoài sân, cái nắng hắt lên từ khoảng sân rộng khiến con mắt cứ luôn phải nheo lại. Lũ ve thả sức kêu ran trên những cây mít, cây bạch đàn, cây trẩu. Gió thổi mạnh qua gian nhà trống mang tới không gian thoáng đãng mát mẻ.

Doanh trại nằm trên một ngọn đồi, nước sinh hoạt chủ yếu dùng nước giếng. Giếng ở vùng này sâu lắm, có lẽ tới chục mét mới có nước. Nước chỉ dùng cho nhu cầu vệ sinh cá nhân buổi sáng. Có một cái giếng to nằm sau nhà ăn. Còn tắm, giặt thì phải ra mương thuỷ lợi, nằm phía sau doanh trại.

Lúc đó chiến tranh đã bắt đầu lan ra phía Bắc. Thỉnh thoảng lại nghe ì ầm tiếng máy bay phản lực xa xa, rồi dần dần chúng vụt bay qua ở trên cao. Khi có kẻng báo động vang lên là chúng tôi nhảy xuống mấy cái giao thông hào phía sau nhà ngồi nghe ngóng, mắt dõi lên trời xanh và khi báo yên thì lại sinh hoạt bình thường. Thỉnh thoảng, vào ngày Chủ nhật được nghỉ, đón cha mẹ lên thăm nom, tiếp tế… nếu không có thì tha thẩn loanh quanh trong vùng. Có lần, tôi được rủ đi chơi xa hơn, tất nhiên là phải lần lượt và được phép ra khỏi doanh trại. Đó là lần đi xuống thị trấn phố Thắng, phố huyện Hiệp Hòa. Lang thang đi bộ hai ba tiếng mới ra đến phố huyện. Cả dãy phố nhà cửa lèo tèo, đường xá vắng vẻ, bụi bặm. Một phố huyện trung du nghèo nàn như các phố huyện miền Bắc thời chiến tranh. Sau khi lượn một vòng, bọn tôi gặp hàng kem. Đủ tiền ăn một que kem rồi về. Trên đường về có ghé qua Trại Cờ ngó xem nơi ăn ở của các khóa lớn hơn. Nhà cửa ở Trại Cờ khang trang, ngăn nắp hơn, cây xanh nhiều hơn ở chỗ chúng tôi và không khí có vẻ nhộn nhịp, vui vẻ hơn.

Trong các bụi cây quanh vùng có nhiều dây leo lạc tiên. Tìm được đám quả lạc tiên chín là một hạnh phúc lớn trong các chuyến đi khám phá. Dân quanh vùng hay mang nông sản, hoa quả đến bán cho chúng tôi. Lần đầu tiên tôi được biết đến quả chay, trái cây trông như quả dâu tây, màu đỏ, có nhiều tép như bưởi, ăn chua chua ngòn ngọt, …

Thời gian này vui thú nhất của bọn học trò chúng tôi là ra mương tắm. Chiều chiều, đến giờ nghỉ bọn chúng tôi kéo nhau ra rải khắp dọc bờ mương. Đây là mương thủy lợi, nước chảy mạnh khi mở các cửa cống. Ở đây tôi mới biết bơi do bạn bè chỉ bảo và liều mạng bơi ào ào. Từ bơi chó chuyển sang bơi sải, bơi đứng, bơi ếch, bơi bướm,… và đương nhiên là cũng nhiều lần… no nước. Trò chơi thích thú nhất của chúng tôi là nhảy từ trên thành cống Bốn cửa xuống mương theo kiểu “nhảy dù”. Vừa sợ, vừa sướng nên cứ thi nhau nhảy, lại còn rủ nhau nhảy tập thể, rồi thi nhảy xa hơn… Đã có người bị hút vào miệng cống, nhưng cũng chả đứa nào sợ.

Ở Trại Hòe được khoảng 3 tháng thì chuyển địa điểm. Vào một buổi chiều muộn khi mà chúng tôi cơm nước xong xuôi thì một đoàn xe tải tiến vào sân trường và đỗ thành một dãy dài. Nhà trường gõ kẻng tập hợp chúng tôi, thầy Hiệu trưởng Bùi Khắc Quỳnh phổ biến kế hoạch hành quân. Theo đó, ngay lập tức chúng tôi phải mang toàn bộ tư trang lên xe chạy hành quân ngay trong đêm. Đi đâu không biết, đoàn xe cứ chạy ì ì cả đêm. Khoảng nửa đêm, đang ngủ gà gật, chúng tôi lại phải xuống xe đi qua một cái phà. Đến gần sáng, đoàn xe mới dừng lại. Chúng tôi đã đến địa điểm mới. Sau này có tin là ngay sau khi chúng tôi dời khỏi Trại Hòe thì địa điểm này bị máy bay ném bom.

(Còn nữa)










Thứ Hai, 15 tháng 12, 2014

Ảnh tư liệu: Giấy chứng nhận tốt nghiệp cấp hai

FB Nguyễn Anh, FB Quang Trần Vinh


Hai giấy khác nhau, bản nào là bản nào?



FB Nguyễn Anh, FB Quang Trần Vinh


Hai giấy khác nhau, bản nào là bản nào?



THỰC TẠI VÀ HOANG ĐƯỜNG 30



THỰC TẠI VÀ HOANG ĐƯỜNG (III)



PHẦN III:     Nguồn cội

“Đừng chê cõi trần nhơ
Đừng khen cõi trần đẹp
Cõi trần là thản nhiên
Chỉ có đời nhơ, đẹp.”
.


CHƯƠNG VIII: NGÀY HỘI

“Cách mạng là ngày hội của những người bị áp bức và bị bóc lột. Không lúc nào quần chúng nhân dân có thể tỏ ra là người sáng tạo trật tự xã hội mới tích cực như trong thời kỳ cách mạng. Trong những thời kỳ như thế… thì nhân dân có thể làm được những kỳ công”
V. I. Lênin


Nếu chúng ta là một loài khổng lồ nào đó không phải loài người nhưng cũng có tư duy nhận thức, sống đâu đó trong Thái dương hệ và có thể quan sát loài người, thì sẽ thấy sự vận động của xã hội loài người là thuộc về khách quan và dù có mang tính đặc thù, lạ lẫm đến mấy chăng nữa thì cũng không ngoài tự nhiên, nghĩa là vận động ấy cũng phải tuân thủ những nguyên lý phổ biến, cơ bản nhất của Tự Nhiên Tồn Tại. Xét ở góc độ này thì rõ ràng loài người cũng là một hệ thống, hay thực thể như vô vàn những sự vật - hiện tượng khác tồn tại (có hạn định) trong Vũ Trụ, nghĩa là xét ở nét chung nhất, vận động nội tại của nó cũng chẳng khác gì vận động nội tại của cục sắt, của trái núi, hay của hạt cát.


THỰC TẠI VÀ HOANG ĐƯỜNG (III)



PHẦN III:     Nguồn cội

“Đừng chê cõi trần nhơ
Đừng khen cõi trần đẹp
Cõi trần là thản nhiên
Chỉ có đời nhơ, đẹp.”
.


CHƯƠNG VIII: NGÀY HỘI

“Cách mạng là ngày hội của những người bị áp bức và bị bóc lột. Không lúc nào quần chúng nhân dân có thể tỏ ra là người sáng tạo trật tự xã hội mới tích cực như trong thời kỳ cách mạng. Trong những thời kỳ như thế… thì nhân dân có thể làm được những kỳ công”
V. I. Lênin


Nếu chúng ta là một loài khổng lồ nào đó không phải loài người nhưng cũng có tư duy nhận thức, sống đâu đó trong Thái dương hệ và có thể quan sát loài người, thì sẽ thấy sự vận động của xã hội loài người là thuộc về khách quan và dù có mang tính đặc thù, lạ lẫm đến mấy chăng nữa thì cũng không ngoài tự nhiên, nghĩa là vận động ấy cũng phải tuân thủ những nguyên lý phổ biến, cơ bản nhất của Tự Nhiên Tồn Tại. Xét ở góc độ này thì rõ ràng loài người cũng là một hệ thống, hay thực thể như vô vàn những sự vật - hiện tượng khác tồn tại (có hạn định) trong Vũ Trụ, nghĩa là xét ở nét chung nhất, vận động nội tại của nó cũng chẳng khác gì vận động nội tại của cục sắt, của trái núi, hay của hạt cát.

Chủ Nhật, 14 tháng 12, 2014

THỰC TẠI VÀ HOANG ĐƯỜNG 29




PHẦN III:     Nguồn cội

“Đừng chê cõi trần nhơ
Đừng khen cõi trần đẹp
Cõi trần là thản nhiên
Chỉ có đời nhơ, đẹp.”
.


CHƯƠNG VII: BẤT KHUẤT

“… Tinh thần Hà Nội, tính cách Hà Nội - đó là tổng hợp tất cả những gì tốt đẹp nhất trong tâm hồn Việt Nam cao quí… Hà Nội khởi dậy từ trong lòng mình sức trẻ mới của một xã hội đang đi lên kết hợp với truyền thống nghìn xưa quyện trong không khí mà mỗi tấc đất đều thấm máu anh hùng của Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội”
(Trích xã luận báo Nhân Dân, số ra ngày 26-12-1972)



Năm 1802, Nguyễn Ánh đặt niên hiệu là Gia Long, sai Lê Quang Định làm chánh sứ sang nhà Thanh xin phong vương và đổi tên nước thành Nam Việt. Thế là năm Giáp Tý (1804), vua Thanh phái Án sát Tề Bồ Sâm sang phong vương cho Gia Long và định tên nước ta là Việt Nam (ngược lại với từ mà Ánh đã “xin”!)



PHẦN III:     Nguồn cội

“Đừng chê cõi trần nhơ
Đừng khen cõi trần đẹp
Cõi trần là thản nhiên
Chỉ có đời nhơ, đẹp.”
.


CHƯƠNG VII: BẤT KHUẤT

“… Tinh thần Hà Nội, tính cách Hà Nội - đó là tổng hợp tất cả những gì tốt đẹp nhất trong tâm hồn Việt Nam cao quí… Hà Nội khởi dậy từ trong lòng mình sức trẻ mới của một xã hội đang đi lên kết hợp với truyền thống nghìn xưa quyện trong không khí mà mỗi tấc đất đều thấm máu anh hùng của Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội”
(Trích xã luận báo Nhân Dân, số ra ngày 26-12-1972)



Năm 1802, Nguyễn Ánh đặt niên hiệu là Gia Long, sai Lê Quang Định làm chánh sứ sang nhà Thanh xin phong vương và đổi tên nước thành Nam Việt. Thế là năm Giáp Tý (1804), vua Thanh phái Án sát Tề Bồ Sâm sang phong vương cho Gia Long và định tên nước ta là Việt Nam (ngược lại với từ mà Ánh đã “xin”!)

Thứ Sáu, 12 tháng 12, 2014

Trại Hòe sau… 50 năm


(Phóng sự ảnh)


Có ý định về thăm lại Trại Hòe từ lâu, nay nhờ Google maps, quyết định dành hẳn một ngày cho chuyến đi.


Đầu tiên đến Thị trấn Phố Thắng - Trung tâm phố Thắng



Từ phố Thắng đi lên theo QL 37 đi Thái Nguyên, qua ngã ba Trại Cờ chừng 3 km… Điểm dễ nhận ra nhất là con mương thủy lợi và cống Bốn cửa, vậy nên cứ tìm đến con mương thủy lợi và lần lần theo dọc mương là xác định được vị trí xưa.


Đây rồi, cống Bốn cửa, chiều chiều ra nhảy xuống mương… 

(Phóng sự ảnh)


Có ý định về thăm lại Trại Hòe từ lâu, nay nhờ Google maps, quyết định dành hẳn một ngày cho chuyến đi.


Đầu tiên đến Thị trấn Phố Thắng - Trung tâm phố Thắng



Từ phố Thắng đi lên theo QL 37 đi Thái Nguyên, qua ngã ba Trại Cờ chừng 3 km… Điểm dễ nhận ra nhất là con mương thủy lợi và cống Bốn cửa, vậy nên cứ tìm đến con mương thủy lợi và lần lần theo dọc mương là xác định được vị trí xưa.


Đây rồi, cống Bốn cửa, chiều chiều ra nhảy xuống mương… 

THỰC TẠI VÀ HOANG ĐƯỜNG 28



THỰC TẠI VÀ HOANG ĐƯỜNG (III)



PHẦN III:     Nguồn cội

“Đừng chê cõi trần nhơ
Đừng khen cõi trần đẹp
Cõi trần là thản nhiên
Chỉ có đời nhơ, đẹp.”
.


CHƯƠNG VI: MIỀN ĐẤT VÕ

“Nay con đã khôn lớn và có bản lĩnh hơn người. Hãy xuống núi mà đem tài đức giúp đời giúp người. Con sống xứng đáng thì thầy chết cũng yên lòng”
(Hòa thượng- võ sư Thiện Hoa căn dặn đệ tử. Thiện Tâm, người sau này là thượng tọa Thích Thiện Tánh - tức võ sư Mai Văn Phát)

“Càng sống, tôi càng nhận ra rằng học võ không phải để múa hay, đánh giỏi, hạ nhanh và nhất là để có con rắn đen tự mãn trong máu thịt, mà chính học võ cốt biến được con rắn đen xấu xí kia thành “thanh gươm trí tuệ” chém tan bức màn vô minh, nhìn thấy được thực tướng của sự vật. Môn võ tuyệt thế chính là môn võ để chiến thắng chính mình. Và đó cũng chính là câu chuyện về thánh võ Kadgapa (một trong 84 vị thánh của Tây Tạng) khi người đi tìm môn võ tuyệt thế trong thiên hạ”
(Lời thổ lộ của nữ võ sư Phạm Cô Gia, khi bà đã 90 tuổi)

Như đã hứa, chúng ta sẽ kể một đôi dòng về võ nghệ và miền đất “con gái cũng biết múa roi đi quyền”.
Môi trường tự nhiên vừa ổn định tương đối vừa luôn bất ổn, vừa chuyển hóa có tính chu kỳ vừa có lúc đột biến ngẫu nhiên, đã tạo ra khó khăn cho sự sống còn của sinh vật. Những biểu hiện nhằm khẳng định sự có mặt, sự tồn tại của vạn vật ở thế giới vô sinh biến thành sự cố gắng sống còn bản năng của muôn loài trong thế giới hữu sinh. Sự cố gắng vượt qua khó khăn để sống còn không gì khác hơn là biến hóa thích nghi. Sự biến hóa (hay tiến hóa) để thích nghi có tính đa phương chiều, đa dạng, tùy vào trạng thái tiến hóa trước đó của sinh vật và mỗi giống loài sinh vật. Một trong những cách thức tiến hóa thích nghi ở muông thú là hoàn thiện “kỹ năng chiến đấu” để rình, vồ mồi, để chống trả tự vệ, trốn thoát “kẻ thù”, để đánh thắng trong việc tranh giành “quyền lợi”. Những động tác tối ưu, mang lại hiệu quả cao trong “chiến đấu” để sống còn, được lặp đi lặp lại, hun đúc lại, được “truyền thụ” cho nhau, “bắt chước” nhau một cách trực quan, sau đó ổn định dần dần thành bản năng, di truyền bằng con đường sinh học cho đời sau; không phải và cũng không thể là tất cả, mà chỉ là những gì cô đọng nhất, “tinh hoa” nhất. Ở muông thú đã thấp thoáng, dù lờ mờ, hình bóng của võ nghệ.


THỰC TẠI VÀ HOANG ĐƯỜNG (III)



PHẦN III:     Nguồn cội

“Đừng chê cõi trần nhơ
Đừng khen cõi trần đẹp
Cõi trần là thản nhiên
Chỉ có đời nhơ, đẹp.”
.


CHƯƠNG VI: MIỀN ĐẤT VÕ

“Nay con đã khôn lớn và có bản lĩnh hơn người. Hãy xuống núi mà đem tài đức giúp đời giúp người. Con sống xứng đáng thì thầy chết cũng yên lòng”
(Hòa thượng- võ sư Thiện Hoa căn dặn đệ tử. Thiện Tâm, người sau này là thượng tọa Thích Thiện Tánh - tức võ sư Mai Văn Phát)

“Càng sống, tôi càng nhận ra rằng học võ không phải để múa hay, đánh giỏi, hạ nhanh và nhất là để có con rắn đen tự mãn trong máu thịt, mà chính học võ cốt biến được con rắn đen xấu xí kia thành “thanh gươm trí tuệ” chém tan bức màn vô minh, nhìn thấy được thực tướng của sự vật. Môn võ tuyệt thế chính là môn võ để chiến thắng chính mình. Và đó cũng chính là câu chuyện về thánh võ Kadgapa (một trong 84 vị thánh của Tây Tạng) khi người đi tìm môn võ tuyệt thế trong thiên hạ”
(Lời thổ lộ của nữ võ sư Phạm Cô Gia, khi bà đã 90 tuổi)

Như đã hứa, chúng ta sẽ kể một đôi dòng về võ nghệ và miền đất “con gái cũng biết múa roi đi quyền”.
Môi trường tự nhiên vừa ổn định tương đối vừa luôn bất ổn, vừa chuyển hóa có tính chu kỳ vừa có lúc đột biến ngẫu nhiên, đã tạo ra khó khăn cho sự sống còn của sinh vật. Những biểu hiện nhằm khẳng định sự có mặt, sự tồn tại của vạn vật ở thế giới vô sinh biến thành sự cố gắng sống còn bản năng của muôn loài trong thế giới hữu sinh. Sự cố gắng vượt qua khó khăn để sống còn không gì khác hơn là biến hóa thích nghi. Sự biến hóa (hay tiến hóa) để thích nghi có tính đa phương chiều, đa dạng, tùy vào trạng thái tiến hóa trước đó của sinh vật và mỗi giống loài sinh vật. Một trong những cách thức tiến hóa thích nghi ở muông thú là hoàn thiện “kỹ năng chiến đấu” để rình, vồ mồi, để chống trả tự vệ, trốn thoát “kẻ thù”, để đánh thắng trong việc tranh giành “quyền lợi”. Những động tác tối ưu, mang lại hiệu quả cao trong “chiến đấu” để sống còn, được lặp đi lặp lại, hun đúc lại, được “truyền thụ” cho nhau, “bắt chước” nhau một cách trực quan, sau đó ổn định dần dần thành bản năng, di truyền bằng con đường sinh học cho đời sau; không phải và cũng không thể là tất cả, mà chỉ là những gì cô đọng nhất, “tinh hoa” nhất. Ở muông thú đã thấp thoáng, dù lờ mờ, hình bóng của võ nghệ.

Thứ Tư, 10 tháng 12, 2014

THỰC TẠI VÀ HOANG ĐƯỜNG 27




PHẦN III:     Nguồn cội

“Đừng chê cõi trần nhơ
Đừng khen cõi trần đẹp
Cõi trần là thản nhiên
Chỉ có đời nhơ, đẹp.”
.


CHƯƠNG V: XUÂN LỬA ĐỐNG ĐA

“Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quí báu của ta. Từ xưa đên nay, mỗi khi Tổ Quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn; nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước.”
(Hồ Chí Minh)

Triều đại nhà Lê do Lê Lợi khai nghiệp (1428 - 1527) thường được gọi là Triều Lê Sơ để phân biệt với triều Tiền Lê (mà Lê Hoàn là đời vua thứ nhất) và với triều Hậu Lê (được dựng lên sau triều Mạc).
Kinh đô Đại Việt, thành Đông Kinh thời Lê (Sơ), trên cơ sở thành Thăng Long - Đông Đô thời Lý, Trần, được tu bổ và xây dựng thêm theo qui cách đế đô của một quốc gia quân chủ chuyên chế phương Đông. Vòng thành ngoài vẫn mang tên là “thành Đại La”, vào năm 1477 được Lê Thánh Tông cho xây dựng lại vòng thành thứ hai được chính thức gọi là Hoàng Thành. Năm 1474 và năm 1500, nhà Lê cho sửa chữa và tôn tạo lại tường thành phía tây và phía đông của Hoàng Thành. Năm 1516, Hoàng Thành được mở rộng thêm về phía đông: “đắp thành to rộng mấy nghìn trượng, bao vây cả điện Tường Quang, quán Trấn Vũ, chùa Thiên Hoa ở phường Kim Cổ, từ phía đông đến phía tây - thành trong cùng gọi là Cung Thành hay Phượng Thành. Năm 1490, vòng thành này được “đắp rộng thêm ra ngoài trường đấu võ, dài rộng 8 dặm” (Sđd).



PHẦN III:     Nguồn cội

“Đừng chê cõi trần nhơ
Đừng khen cõi trần đẹp
Cõi trần là thản nhiên
Chỉ có đời nhơ, đẹp.”
.


CHƯƠNG V: XUÂN LỬA ĐỐNG ĐA

“Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quí báu của ta. Từ xưa đên nay, mỗi khi Tổ Quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn; nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước.”
(Hồ Chí Minh)

Triều đại nhà Lê do Lê Lợi khai nghiệp (1428 - 1527) thường được gọi là Triều Lê Sơ để phân biệt với triều Tiền Lê (mà Lê Hoàn là đời vua thứ nhất) và với triều Hậu Lê (được dựng lên sau triều Mạc).
Kinh đô Đại Việt, thành Đông Kinh thời Lê (Sơ), trên cơ sở thành Thăng Long - Đông Đô thời Lý, Trần, được tu bổ và xây dựng thêm theo qui cách đế đô của một quốc gia quân chủ chuyên chế phương Đông. Vòng thành ngoài vẫn mang tên là “thành Đại La”, vào năm 1477 được Lê Thánh Tông cho xây dựng lại vòng thành thứ hai được chính thức gọi là Hoàng Thành. Năm 1474 và năm 1500, nhà Lê cho sửa chữa và tôn tạo lại tường thành phía tây và phía đông của Hoàng Thành. Năm 1516, Hoàng Thành được mở rộng thêm về phía đông: “đắp thành to rộng mấy nghìn trượng, bao vây cả điện Tường Quang, quán Trấn Vũ, chùa Thiên Hoa ở phường Kim Cổ, từ phía đông đến phía tây - thành trong cùng gọi là Cung Thành hay Phượng Thành. Năm 1490, vòng thành này được “đắp rộng thêm ra ngoài trường đấu võ, dài rộng 8 dặm” (Sđd).