Hiển thị các bài đăng có nhãn hưnghóa. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 29 tháng 9, 2019

Ban LL K6 Trỗi đi tiền trạm



Trong 2 ngày 24 và 25/9/2019 Ban LL K6 Trỗi đã tiến hành chuyến đi tiền trạm chuẩn bị cho những chương trình kỷ niệm 55 năm Ngày Truyền thống Nhà trường. Ban LL K6 đã mời anh Bùi Vinh – Trưởng Ban LL Trường TSQ NVT và một số bạn K6 cùng đi.
7 giờ sáng, khi ánh nắng đã lên trong mù nhẹ, đoàn xuất phát từ HN.

Điểm đến đầu tiên là Trại Cờ, Phố Thắng, Hiệp Hoà, Bắc Giang. Đây đang là nơi đóng quân của Phân hiệu Đào tạo lái xe – Trường TCKT PKKQ. Được các đ/c lãnh đạo đơn vị cùng anh Chuẩn, người cùng thời đã sống ở đây với anh em Trỗi, tiếp đón chu đáo đoàn, chụp ảnh chung bên cây xoài BLL Trỗi đã trồng và thăm Nhà truyền thống Nhà trường. Một điểm đến mà anh em K6 có thể qua thăm để sang Trại Hoè (nay đã thành khu dân cư) ngắm lại con mương anh em mình hay tắm, bơi, mà nghe nói, anh Nguyễn Thiện Nhân suýt đuối nước ở đây.

Hơn 9h đoàn hành quân lên xã Mỹ Yên, Đại Từ, Thái Nguyên, nơi 54 năm trước Trường ta đã đóng quân. Sau đúng 2 tiếng, đoàn đến nơi. Cây đa hồi ấy rất to, nay không còn; vẫn nhận ra Trại Cau, Trại Đồi và xóm chúng tôi tạm ở trong nhà dân khi mới tới đây trong khi chờ bộ đội dựng nhà bằng tranh, tre, nứa lá, đào giao thông hào trú ẩn, nhận ra khe núi mà những chiếc F-105D, mỗi khi thả bom Thành phố Thái Nguyên xong, quay về căn cứ. Lãnh đạo xã cùng các bác đã quen biết BLL Nhà trường niềm nở đón chúng tôi. Chị Nhì và anh Khê đang từ huyện trở về. Sớm được các anh thông tin tình hình nhân sự mới của xã. Anh Khương, Bí thư cũ, vừa xin nghỉ sớm để sự chuyển giao thuận lợi và sự tín nhiệm cùng với truyền thống đoàn kết thống nhất, các anh cũng khẳng định chắc chắn kết quả bầu cử sẽ hết sức tốt đẹp, nếu không muốn nói trước là 100%. Và với niềm tin đó, chúng tôi là những người đầu tiên được chúc mừng chị Nhì và anh Khê trước phiên họp quyết định. Ngược lại, các anh chị đó chia sẻ niềm vui chung của lãnh đạo xã đầu tiên cũng cho anh em Trỗi. Đến Yên Mỹ, chúng tôi không thể quên ra Nghĩa trang LS của xã để thắp hương cho các anh hùng LS của xã và bạn Đỗ Khắc Tiến của K6 chúng ta.

Sau khi chung vui bữa cơm trưa với lãnh đạo xã Mỹ Yên, chúng tôi đi lên Khu Tưởng niệm Hồ Chủ tịch trên ATK. Ở đây, chúng tôi kính cẩn dâng hương Bác trong Đền thờ, thăm Đồi Pụ Đồn (Đồi Phong Tướng). Nếu có thời gian, có thể đi thăm Nhà sàn của Bác ở Tỉn Keo dưới chân Đền Thờ hoặc sang thăm Khu Di tích Tân Trào, Lán Nà Nưa cũng chỉ cách đó 8km.

6 giờ chiều chúng tôi sang Đoàn AĐD16 Quân khu 1 để nghỉ tối ở đây. Đoàn 16 đã có một cơ ngơi khang trang hơn trước rất nhiều. Nếu tổ chức cho một đoàn dăm bảy chục người ở, giao lưu, thăm quan và thưởng thức các món ăn dân gian ở Việt Bắc thì rất thuận lợi. Anh em ở Đoan 16 cũng rất tận tình, chu đáo và vui vẻ nhận lời nếu chúng ta có nhu cầu.

Sáng sớm 25/9 chúng tôi rời đây để đi về Trung Hà, nơi chúng tôi đã từng đóng quân sau nghỉ hè 1968 để chuẩn bị cho năm học lớp 8 niên khoá 1968-1969. Chúng tôi đặt vấn đề trước việc tổ chức hội khoá ở đây. Lãnh đạo Trường Trung cấp Kỹ thuật Công binh rất sẵn sàng chào đón và giúp đỡ. Anh Bùi Vinh cũng trao đổi thêm với Nhà trường về các phương án xây dựng Bia lưu niệm Trường TSQ NVT tại địa điểm Nhà trường đã bố trí.

Sau chuyến đi này, kết hợp với gặp mặt toàn Trường NVT năm 2020 nhân 55 năm Ngày Truyền thống, Ban LL K6 sẽ thống nhất đề xuất thời gian, địa điểm, chương trình gặp mặt K6 ba miền để cuộc gặp mặt về nguồn đó thực sự nhiều ý nghĩa, có dịp chia sẻ kỷ niệm và thành công tốt đẹp.


Trong 2 ngày 24 và 25/9/2019 Ban LL K6 Trỗi đã tiến hành chuyến đi tiền trạm chuẩn bị cho những chương trình kỷ niệm 55 năm Ngày Truyền thống Nhà trường. Ban LL K6 đã mời anh Bùi Vinh – Trưởng Ban LL Trường TSQ NVT và một số bạn K6 cùng đi.
7 giờ sáng, khi ánh nắng đã lên trong mù nhẹ, đoàn xuất phát từ HN.

Điểm đến đầu tiên là Trại Cờ, Phố Thắng, Hiệp Hoà, Bắc Giang. Đây đang là nơi đóng quân của Phân hiệu Đào tạo lái xe – Trường TCKT PKKQ. Được các đ/c lãnh đạo đơn vị cùng anh Chuẩn, người cùng thời đã sống ở đây với anh em Trỗi, tiếp đón chu đáo đoàn, chụp ảnh chung bên cây xoài BLL Trỗi đã trồng và thăm Nhà truyền thống Nhà trường. Một điểm đến mà anh em K6 có thể qua thăm để sang Trại Hoè (nay đã thành khu dân cư) ngắm lại con mương anh em mình hay tắm, bơi, mà nghe nói, anh Nguyễn Thiện Nhân suýt đuối nước ở đây.

Hơn 9h đoàn hành quân lên xã Mỹ Yên, Đại Từ, Thái Nguyên, nơi 54 năm trước Trường ta đã đóng quân. Sau đúng 2 tiếng, đoàn đến nơi. Cây đa hồi ấy rất to, nay không còn; vẫn nhận ra Trại Cau, Trại Đồi và xóm chúng tôi tạm ở trong nhà dân khi mới tới đây trong khi chờ bộ đội dựng nhà bằng tranh, tre, nứa lá, đào giao thông hào trú ẩn, nhận ra khe núi mà những chiếc F-105D, mỗi khi thả bom Thành phố Thái Nguyên xong, quay về căn cứ. Lãnh đạo xã cùng các bác đã quen biết BLL Nhà trường niềm nở đón chúng tôi. Chị Nhì và anh Khê đang từ huyện trở về. Sớm được các anh thông tin tình hình nhân sự mới của xã. Anh Khương, Bí thư cũ, vừa xin nghỉ sớm để sự chuyển giao thuận lợi và sự tín nhiệm cùng với truyền thống đoàn kết thống nhất, các anh cũng khẳng định chắc chắn kết quả bầu cử sẽ hết sức tốt đẹp, nếu không muốn nói trước là 100%. Và với niềm tin đó, chúng tôi là những người đầu tiên được chúc mừng chị Nhì và anh Khê trước phiên họp quyết định. Ngược lại, các anh chị đó chia sẻ niềm vui chung của lãnh đạo xã đầu tiên cũng cho anh em Trỗi. Đến Yên Mỹ, chúng tôi không thể quên ra Nghĩa trang LS của xã để thắp hương cho các anh hùng LS của xã và bạn Đỗ Khắc Tiến của K6 chúng ta.

Sau khi chung vui bữa cơm trưa với lãnh đạo xã Mỹ Yên, chúng tôi đi lên Khu Tưởng niệm Hồ Chủ tịch trên ATK. Ở đây, chúng tôi kính cẩn dâng hương Bác trong Đền thờ, thăm Đồi Pụ Đồn (Đồi Phong Tướng). Nếu có thời gian, có thể đi thăm Nhà sàn của Bác ở Tỉn Keo dưới chân Đền Thờ hoặc sang thăm Khu Di tích Tân Trào, Lán Nà Nưa cũng chỉ cách đó 8km.

6 giờ chiều chúng tôi sang Đoàn AĐD16 Quân khu 1 để nghỉ tối ở đây. Đoàn 16 đã có một cơ ngơi khang trang hơn trước rất nhiều. Nếu tổ chức cho một đoàn dăm bảy chục người ở, giao lưu, thăm quan và thưởng thức các món ăn dân gian ở Việt Bắc thì rất thuận lợi. Anh em ở Đoan 16 cũng rất tận tình, chu đáo và vui vẻ nhận lời nếu chúng ta có nhu cầu.

Sáng sớm 25/9 chúng tôi rời đây để đi về Trung Hà, nơi chúng tôi đã từng đóng quân sau nghỉ hè 1968 để chuẩn bị cho năm học lớp 8 niên khoá 1968-1969. Chúng tôi đặt vấn đề trước việc tổ chức hội khoá ở đây. Lãnh đạo Trường Trung cấp Kỹ thuật Công binh rất sẵn sàng chào đón và giúp đỡ. Anh Bùi Vinh cũng trao đổi thêm với Nhà trường về các phương án xây dựng Bia lưu niệm Trường TSQ NVT tại địa điểm Nhà trường đã bố trí.

Sau chuyến đi này, kết hợp với gặp mặt toàn Trường NVT năm 2020 nhân 55 năm Ngày Truyền thống, Ban LL K6 sẽ thống nhất đề xuất thời gian, địa điểm, chương trình gặp mặt K6 ba miền để cuộc gặp mặt về nguồn đó thực sự nhiều ý nghĩa, có dịp chia sẻ kỷ niệm và thành công tốt đẹp.

Thứ Năm, 9 tháng 11, 2017

Giỗ lần thứ 3 bạn Đảo



Phương Hậu Đặng - 6 Tháng 11 lúc 22:27
Chân thành cảm ơn các anh, em, những người bạn thân thiết của anh Duy Đảo và các cháu đã tới, chia sẻ với gia đình nhân kỷ niệm ba năm ngày mất của anh Đảo. Cảm ơn các anh, em vì những lý do riêng không đến được cũng gửi lời thăm viếng !



Phương Hậu Đặng - 6 Tháng 11 lúc 22:27
Chân thành cảm ơn các anh, em, những người bạn thân thiết của anh Duy Đảo và các cháu đã tới, chia sẻ với gia đình nhân kỷ niệm ba năm ngày mất của anh Đảo. Cảm ơn các anh, em vì những lý do riêng không đến được cũng gửi lời thăm viếng !

Thứ Hai, 11 tháng 9, 2017

Gặp mặt nhân dịp thầy Lê Đức Soạn và các bạn K6 miền Trung ra thăm Hà Nội





Gặp mặt nhân dịp thầy Lê Đức Soạn và
các bạn K6 miền Trung ra thăm Hà Nội


Kính gửi các bạn K6 NVT!
Nhân dịp thầy Lê Đức Soạn (chính trị viên K6 thời kỳ ở Hưng Hóa 1968-1970) và các bạn K6 miền Trung (Nguyễn Kim Phú, Nguyễn Kim Hồ và Phan Triều Tiên) ra thăm Hà Nội, Ban LL K6 xin thông báo chương trình hoạt động của đoàn để các bạn nắm bắt và tạo điều kiện tốt nhất cho chuyến đi của thầy thành công, an toàn về sức khỏe và đi lại.
  1. Ngày 15/9/2017 (thứ sáu):
    5h30 (nếu theo đúng giờ tàu hỏa chạy) thầy đến Hà Nội ở KS Công Đoàn. Đoàn nghỉ ngơi, ăn trưa ở KS.
    17h30 Ban LL K6 thăm thầy và 19h00 mời thầy bữa cơm kính thầy.
  2. Ngày 16/9/2017 (thứ bảy):
    8h00 Ban LL K6 đưa thầy và các bạn K6 miền Trung đi thăm lại địa điểm K6 NVT đóng quân tại Trung Hà và Hưng Hóa.
    Chiều tối đoàn trở lại KS nghỉ ngơi.
  3. Ngày 17/9/2017 (chủ nhật):
    8h00 Ban LL đưa thầy đi thăm thầy Phong (đại đội trưởng K6).
    Chiều tối đoàn trở lại KS nghỉ ngơi.
  4. Ngày 18/9/2017 (thứ hai):
    10h00 Ban LL và các bạn K6 gặp mặt và chiêu đãi nhân dịp thầy và các bạn K6 miền Trung ra thăm Hà Nội tại số 1 Trấn Vũ-Hà Nội.
Để đảm bảo sức khỏe cho thầy Soạn, Ban LL xin các bạn K6 dựa vào lịch hoạt động của đoàn mà sắp xếp thời gian thích hợp đến thăm thầy tại KS Công đoàn, tránh làm thầy mệt vì thầy đã cao tuổi.
Rất mong các bạn K6 NVT tham dự đầy đủ để buổi gặp mặt thầy trò sau nhiều năm xa cách thành công tốt đẹp.

BAN LIÊN LẠC K6 KÍNH BÁO





Mời xem:
  1. Gặp mặt nhân dịp thầy Lê Đức Soạn và các bạn K6 miền Trung ra thăm Hà Nội
  2. Hoạt động của đoàn thầy bạn miền Trung
  3. Thầy Soạn cùng đại diện K6 thăm thầy Phong ở TT Hồ, Bắc Ninh
  4. K6 gặp mặt đón thầy Soạn ở Bãi Pháo
  5. Học trò của thầy Soạn - Hà mèo





Gặp mặt nhân dịp thầy Lê Đức Soạn và
các bạn K6 miền Trung ra thăm Hà Nội


Kính gửi các bạn K6 NVT!
Nhân dịp thầy Lê Đức Soạn (chính trị viên K6 thời kỳ ở Hưng Hóa 1968-1970) và các bạn K6 miền Trung (Nguyễn Kim Phú, Nguyễn Kim Hồ và Phan Triều Tiên) ra thăm Hà Nội, Ban LL K6 xin thông báo chương trình hoạt động của đoàn để các bạn nắm bắt và tạo điều kiện tốt nhất cho chuyến đi của thầy thành công, an toàn về sức khỏe và đi lại.
  1. Ngày 15/9/2017 (thứ sáu):
    5h30 (nếu theo đúng giờ tàu hỏa chạy) thầy đến Hà Nội ở KS Công Đoàn. Đoàn nghỉ ngơi, ăn trưa ở KS.
    17h30 Ban LL K6 thăm thầy và 19h00 mời thầy bữa cơm kính thầy.
  2. Ngày 16/9/2017 (thứ bảy):
    8h00 Ban LL K6 đưa thầy và các bạn K6 miền Trung đi thăm lại địa điểm K6 NVT đóng quân tại Trung Hà và Hưng Hóa.
    Chiều tối đoàn trở lại KS nghỉ ngơi.
  3. Ngày 17/9/2017 (chủ nhật):
    8h00 Ban LL đưa thầy đi thăm thầy Phong (đại đội trưởng K6).
    Chiều tối đoàn trở lại KS nghỉ ngơi.
  4. Ngày 18/9/2017 (thứ hai):
    10h00 Ban LL và các bạn K6 gặp mặt và chiêu đãi nhân dịp thầy và các bạn K6 miền Trung ra thăm Hà Nội tại số 1 Trấn Vũ-Hà Nội.
Để đảm bảo sức khỏe cho thầy Soạn, Ban LL xin các bạn K6 dựa vào lịch hoạt động của đoàn mà sắp xếp thời gian thích hợp đến thăm thầy tại KS Công đoàn, tránh làm thầy mệt vì thầy đã cao tuổi.
Rất mong các bạn K6 NVT tham dự đầy đủ để buổi gặp mặt thầy trò sau nhiều năm xa cách thành công tốt đẹp.

BAN LIÊN LẠC K6 KÍNH BÁO





Mời xem:
  1. Gặp mặt nhân dịp thầy Lê Đức Soạn và các bạn K6 miền Trung ra thăm Hà Nội
  2. Hoạt động của đoàn thầy bạn miền Trung
  3. Thầy Soạn cùng đại diện K6 thăm thầy Phong ở TT Hồ, Bắc Ninh
  4. K6 gặp mặt đón thầy Soạn ở Bãi Pháo
  5. Học trò của thầy Soạn - Hà mèo

Chủ Nhật, 2 tháng 7, 2017

CHỦ NHẬT THÁNG 6 NGÀY 25






Ngày này năm 2017 sẽ khắc sâu trong tâm khảm anh em trường TSQ – NVT đặc biệt là K6 những người vinh dự đại diện cho nhà trường trực tiếp tham dự. Mấy cha đùa nhau: “diễn sao cho khéo” kẻo hổ danh K6, đại đội sống trọn 5 năm dưới mái trường TSQ.

Số là BLL nhà trường kết hợp với THQĐ làm phim tài liệu về trường văn hóa quân đội TSQ – NVT. Tồn tại 5 năm (1965 – 1970) trong khoảng thời gian đó nhà trường đứng chân tại nhiều địa phương. Bắt đầu là Hiệp Hòa (Bắc Giang) rồi Đại Từ (Thái Nguyên) Quế Lâm (Trung Quốc) cuối cùng là Trung Hà (Hà tây) Hưng Hóa (Phú Thọ). Thời gian ở Hưng Hóa và Trung Hà là 2 năm. Nhà trường phân làm 2 phân hiệu, bộ phận đóng tại Hưng Hóa gồm K4,5 và 6 bộ phận tại Trung Hà gồm K7,8. Các K1,2,3 đã ra trường. Anh em K6 lúc này tuổi 15, 16 mấy thằng khi tắm giếng vẫn trêu nhau: “chim khôn đã biết tha rác rồi”. Và tại đây với độ tuổi bẻ gãy sừng trâu nhiều chuyện kỳ thú xảy ra với K6, giờ kể lại còn cười rũ. Chuyện xảy ra đã gần nửa thế kỷ nhắc lại còn rưng rưng cảm động. Cha nào đa cảm còn khóc thầm, chắc tủi thân vì già rồi chả mần được chi, chẳng bù cho ngày xưa, cái thời đái thủng lá khoai.

Trở lại việc làm diễn viên quần chúng trong dự án làm phim nói trên. BLL K6 ra quân lệnh: ăn mặc oách không quần sooc, ông nào lính mặc quân phục sao vạch đầy đủ. Cánh dân sự ăn mặc lịch sự, ngon zai đến mức vợ nghi ngờ mấy cha đi tán gái dối già. Ông Khánh choang dậy từ 4 giờ sáng chỉnh trang sắc đẹp lại còn xa xỉ… chơi tí nước hoa mà R7 quảng cáo. Cánh dân sự hoàn thành vượt mức trên giao. Cánh quân sự gần một nửa các đại tá bất tuân quân lệnh. Lý do các cha đưa ra là nóng và lâu không mặc quân phục giờ mặc lại ngại. Chẳng hiểu ra làm sao. K6 có 2 tướng: Phạm Hòa Bình bận không tham dự, tướng Tạ Quang Chính nghiêm chỉnh ngay ngắn rõ con nhà nòi. Đúng 7 giờ 40 anh em có mặt tại số 1 Trấn Vũ lên xe nhằm Trung Hà, Hưng Hóa thẳng tiến. Hơn chục anh em khác đi xe riêng tự đến điểm hẹn. Trong đoàn có anh Ngô Thế Vinh K5 đại diện BLL nhà trường và khách mời là các thầy cô đã từng dậy tại trường. 9g45 hội quân đầy đủ tại Hưng Hóa. Theo sự sắp đặt của đạo diễn, anh em răm rắp tuân theo. Diễn viên quần chúng đợi đến lượt “hơi bị lâu” sốt ruột, tiếc công trang điểm. Nghĩ cũng phải, hang ngày quần sooc áo cộc chém gió tại quán bia chả phải lễ nghi (mỏi chân bỏ mẹ). Nay áo bỏ trong quần nghiêm cẩn đã nóng lại càng nóng. Chưa thấy ống kính lia về phía mình, bức xúc (chắc do nóng) Khánh choang và Trịnh Cường được một số anh em kích động định “tạo phản”. Trưởng BLL Vũ Điện Biên phong thanh biết chuyện dỗi, nói: “Năm nay trở đi luân phiên làm trưởng BLL. Bắt đầu là Trịnh Cường rồi Khánh choang… . K6 đặt hắn Biên rồ, quá đúng. Nghe vậy Cường, Khánh lui ngay không nói chi. Hai tên trao đổi: “Để hai thằng tao hư đủ rồi, cho anh em K6 nó lành”, Hai cha này nghĩa hiệp, trượng phu đáo để. Tôi nghĩ bụng: “Hôm nay Trịnh Cường cầm cái thế nào cũng có hậu Trung Hà, Hưng Hóa nghĩa là rẽ sang La Phù (Thanh Thủy) tắm suối nước nóng. Nghe nói ở đó có nhiều chuyện vui lại ngon bổ rẻ”. Vụ này nếu xảy ra cánh quân sự tính sao khi ăn mặc nghiêm chỉnh sao và vạch. Cái này phải tham vấn Khánh choang, người ăn nói “choáng” nhất k6. Cánh quân sự thở phào nhẹ nhõm may không lộ. Tụi này lo xa, lính Trỗi không bao giờ khai báo “ông cán bộ đang nằm trong đống rơm nhà hàng xóm”. Trung dũng kiên cường là ở đó, mặc cho sư tử gầm rú, chuyện nhỏ. Dẹp xong vụ “tạo phản” Biên rồ nhắc việc phải làm khi sang Trung Hà. Lúc này ống kính lia về các cha, cảnh các cha lên thăm phòng ngủ, thăm khu nhà bếp và cảnh ngồi tán gẫu trên bãi cỏ trước nhà… . Xem chừng các cha rất tự nhiên, có thể tự hào về khoe với con cháu: “Hôm nay bố mày đi đóng phim đấy. oách chưa”. Đến ngày 22/12 này các bạn xem truyền hình quân đội đánh giá các đại ca diễn có được không. Nếu được, nghĩa là điện ảnh nước nhà bỏ sót tài năng đó.

Sang Trung Hà anh em quay quần chụp ảnh tại bia đá khắc ghi những ngày đóng quân tại đây. Trường trung cấp kỹ thuật công binh cử tiêu binh đứng hai hàng dọc trên con đường vào bia kỷ niệm. Ban giám hiệu nhà trường chủ trì buổi đón tiếp. Phóng viên truyền hình phỏng vấn thầy cô giáo và một số đại diện K6. Xong mọi việc như kịch bản mấy cha ngồi tán dóc. Một cha nói: “Đến tiết mục cuối đây. Chuẩn bị nâng lên hạ xuống”. Đứng lên, lăm lăm tiến về phía nhà ăn nơi cách đây 3 năm anh em đã ngồi dự tiệc. Trưởng BLL Vũ Điện Biên ngăn lại: “Vào hội trường kia, giao lưu gặp mặt chủ nhà đã chứ”. Một cha nói: “Lại vỗ tay à”. Tôi cười: “Đánh chén do gia chủ mời cũng nên vỗ tay chứ. Ngoại giao nhân dân mà”. Trước khi vào bữa tiệc, tất cả chủ và khách chụp ảnh lưu niệm trước căn nhà 3 tầng của ban giám hiệu. Hoành tráng trang trọng như nghi lễ quốc gia. Vào tiệc theo đúng điều lệnh 6 người một mâm. Bữa cơm vui vẻ đầm ấm. Trong tiệc rượu anh em không quên nhắc nhau ngày 5/7 tới dự đám cưới đại tá xe tăng Hoàng Tam Châu, trai tân còn sót của K6. Một cha nói: “Thằng Châu liệu mần răng rứa. Với tao, giờ này chẳng có bong hồng nào phá hỏng được đời sống thanh bình trong đũng quần tao”. Đưa mắt nhìn sang Trịnh Cường, Khánh choang,Thái bò… . Chuyện đề này phải tham khảo ý kiến mấy cha đó. Phỏng vấn Anh Minh về cô dâu, hắn cười nói: “Cứ dự cưới khắc biết”. Sợ lại bị hố như lần K6 lên Thiên Sơn (Ba Vì), ừ thì nín thở chờ xem. Cơm đã đủ, rượu ngà ngà theo thông lệ đến đoạn hậu: hát cho nhau nghe. Đăng Sơn, Duy Sơn hát bài truyền thong công binh tặng gia chủ ĐÀO CÔNG SỰ. Đỗ Dũng dạo này bẽn lẽn như con gái mới về nhà chồng, nài nỉ mãi mới chịu phô diễn bài tủ NGƯỜI CHIẾN SỸ ẤY. Trịnh Cường muốn hát bài tiếng Trung tặng hai cô giáo cũ song ngại Mao ít Mao nhiều, tôi cầm micro giải thích đây là hát tặng cô giáo chẳng liên quan gì đến Mao cả. Anh em tán thưởng, tay chơi Cường khỉ hát vẫn xung lắm. Còn nhiều, nhiều anh em lên phô diễn tài năng đã được tôi luyện trong các lò KARAOKE, không ai chịu về nhì. Đúng là tính ngông và ngang của mấy cha trường Trỗi. Có chết nết không đổi. Cuộc vui khép lại bằng bài hát truyền thông nhà trường SINH RA TRONG KHÓI LỬA.

Một ngày đầy ý nghĩa đã qua. Chắc hẳn hơn 50 anh em K6 có mặt ngày hôm đó sẽ không bao giờ quên. Ôn lại kỷ niệm xưa, tình bạn bè chiến hữu ngày càng gắn bó. Ra Bắc vào Nam, lính Trỗi gọi nhau có mặt liền. Viêt ra những dòng này gọi là lưu bút. Cảnh trí Hưng Hóa Trung Hà thay đổi nhiều các bạn nên xem thêm phóng sự ảnh của nhiếp ảnh gia Trần Vinh Quang (dân Trỗi K6 gọi Quang 2 lỗ) sẽ cảm nhận rõ bằng hình ảnh.


FB Duy Sơn Vũ - 01 Tháng 7 lúc 13:22







Ngày này năm 2017 sẽ khắc sâu trong tâm khảm anh em trường TSQ – NVT đặc biệt là K6 những người vinh dự đại diện cho nhà trường trực tiếp tham dự. Mấy cha đùa nhau: “diễn sao cho khéo” kẻo hổ danh K6, đại đội sống trọn 5 năm dưới mái trường TSQ.

Số là BLL nhà trường kết hợp với THQĐ làm phim tài liệu về trường văn hóa quân đội TSQ – NVT. Tồn tại 5 năm (1965 – 1970) trong khoảng thời gian đó nhà trường đứng chân tại nhiều địa phương. Bắt đầu là Hiệp Hòa (Bắc Giang) rồi Đại Từ (Thái Nguyên) Quế Lâm (Trung Quốc) cuối cùng là Trung Hà (Hà tây) Hưng Hóa (Phú Thọ). Thời gian ở Hưng Hóa và Trung Hà là 2 năm. Nhà trường phân làm 2 phân hiệu, bộ phận đóng tại Hưng Hóa gồm K4,5 và 6 bộ phận tại Trung Hà gồm K7,8. Các K1,2,3 đã ra trường. Anh em K6 lúc này tuổi 15, 16 mấy thằng khi tắm giếng vẫn trêu nhau: “chim khôn đã biết tha rác rồi”. Và tại đây với độ tuổi bẻ gãy sừng trâu nhiều chuyện kỳ thú xảy ra với K6, giờ kể lại còn cười rũ. Chuyện xảy ra đã gần nửa thế kỷ nhắc lại còn rưng rưng cảm động. Cha nào đa cảm còn khóc thầm, chắc tủi thân vì già rồi chả mần được chi, chẳng bù cho ngày xưa, cái thời đái thủng lá khoai.

Trở lại việc làm diễn viên quần chúng trong dự án làm phim nói trên. BLL K6 ra quân lệnh: ăn mặc oách không quần sooc, ông nào lính mặc quân phục sao vạch đầy đủ. Cánh dân sự ăn mặc lịch sự, ngon zai đến mức vợ nghi ngờ mấy cha đi tán gái dối già. Ông Khánh choang dậy từ 4 giờ sáng chỉnh trang sắc đẹp lại còn xa xỉ… chơi tí nước hoa mà R7 quảng cáo. Cánh dân sự hoàn thành vượt mức trên giao. Cánh quân sự gần một nửa các đại tá bất tuân quân lệnh. Lý do các cha đưa ra là nóng và lâu không mặc quân phục giờ mặc lại ngại. Chẳng hiểu ra làm sao. K6 có 2 tướng: Phạm Hòa Bình bận không tham dự, tướng Tạ Quang Chính nghiêm chỉnh ngay ngắn rõ con nhà nòi. Đúng 7 giờ 40 anh em có mặt tại số 1 Trấn Vũ lên xe nhằm Trung Hà, Hưng Hóa thẳng tiến. Hơn chục anh em khác đi xe riêng tự đến điểm hẹn. Trong đoàn có anh Ngô Thế Vinh K5 đại diện BLL nhà trường và khách mời là các thầy cô đã từng dậy tại trường. 9g45 hội quân đầy đủ tại Hưng Hóa. Theo sự sắp đặt của đạo diễn, anh em răm rắp tuân theo. Diễn viên quần chúng đợi đến lượt “hơi bị lâu” sốt ruột, tiếc công trang điểm. Nghĩ cũng phải, hang ngày quần sooc áo cộc chém gió tại quán bia chả phải lễ nghi (mỏi chân bỏ mẹ). Nay áo bỏ trong quần nghiêm cẩn đã nóng lại càng nóng. Chưa thấy ống kính lia về phía mình, bức xúc (chắc do nóng) Khánh choang và Trịnh Cường được một số anh em kích động định “tạo phản”. Trưởng BLL Vũ Điện Biên phong thanh biết chuyện dỗi, nói: “Năm nay trở đi luân phiên làm trưởng BLL. Bắt đầu là Trịnh Cường rồi Khánh choang… . K6 đặt hắn Biên rồ, quá đúng. Nghe vậy Cường, Khánh lui ngay không nói chi. Hai tên trao đổi: “Để hai thằng tao hư đủ rồi, cho anh em K6 nó lành”, Hai cha này nghĩa hiệp, trượng phu đáo để. Tôi nghĩ bụng: “Hôm nay Trịnh Cường cầm cái thế nào cũng có hậu Trung Hà, Hưng Hóa nghĩa là rẽ sang La Phù (Thanh Thủy) tắm suối nước nóng. Nghe nói ở đó có nhiều chuyện vui lại ngon bổ rẻ”. Vụ này nếu xảy ra cánh quân sự tính sao khi ăn mặc nghiêm chỉnh sao và vạch. Cái này phải tham vấn Khánh choang, người ăn nói “choáng” nhất k6. Cánh quân sự thở phào nhẹ nhõm may không lộ. Tụi này lo xa, lính Trỗi không bao giờ khai báo “ông cán bộ đang nằm trong đống rơm nhà hàng xóm”. Trung dũng kiên cường là ở đó, mặc cho sư tử gầm rú, chuyện nhỏ. Dẹp xong vụ “tạo phản” Biên rồ nhắc việc phải làm khi sang Trung Hà. Lúc này ống kính lia về các cha, cảnh các cha lên thăm phòng ngủ, thăm khu nhà bếp và cảnh ngồi tán gẫu trên bãi cỏ trước nhà… . Xem chừng các cha rất tự nhiên, có thể tự hào về khoe với con cháu: “Hôm nay bố mày đi đóng phim đấy. oách chưa”. Đến ngày 22/12 này các bạn xem truyền hình quân đội đánh giá các đại ca diễn có được không. Nếu được, nghĩa là điện ảnh nước nhà bỏ sót tài năng đó.

Sang Trung Hà anh em quay quần chụp ảnh tại bia đá khắc ghi những ngày đóng quân tại đây. Trường trung cấp kỹ thuật công binh cử tiêu binh đứng hai hàng dọc trên con đường vào bia kỷ niệm. Ban giám hiệu nhà trường chủ trì buổi đón tiếp. Phóng viên truyền hình phỏng vấn thầy cô giáo và một số đại diện K6. Xong mọi việc như kịch bản mấy cha ngồi tán dóc. Một cha nói: “Đến tiết mục cuối đây. Chuẩn bị nâng lên hạ xuống”. Đứng lên, lăm lăm tiến về phía nhà ăn nơi cách đây 3 năm anh em đã ngồi dự tiệc. Trưởng BLL Vũ Điện Biên ngăn lại: “Vào hội trường kia, giao lưu gặp mặt chủ nhà đã chứ”. Một cha nói: “Lại vỗ tay à”. Tôi cười: “Đánh chén do gia chủ mời cũng nên vỗ tay chứ. Ngoại giao nhân dân mà”. Trước khi vào bữa tiệc, tất cả chủ và khách chụp ảnh lưu niệm trước căn nhà 3 tầng của ban giám hiệu. Hoành tráng trang trọng như nghi lễ quốc gia. Vào tiệc theo đúng điều lệnh 6 người một mâm. Bữa cơm vui vẻ đầm ấm. Trong tiệc rượu anh em không quên nhắc nhau ngày 5/7 tới dự đám cưới đại tá xe tăng Hoàng Tam Châu, trai tân còn sót của K6. Một cha nói: “Thằng Châu liệu mần răng rứa. Với tao, giờ này chẳng có bong hồng nào phá hỏng được đời sống thanh bình trong đũng quần tao”. Đưa mắt nhìn sang Trịnh Cường, Khánh choang,Thái bò… . Chuyện đề này phải tham khảo ý kiến mấy cha đó. Phỏng vấn Anh Minh về cô dâu, hắn cười nói: “Cứ dự cưới khắc biết”. Sợ lại bị hố như lần K6 lên Thiên Sơn (Ba Vì), ừ thì nín thở chờ xem. Cơm đã đủ, rượu ngà ngà theo thông lệ đến đoạn hậu: hát cho nhau nghe. Đăng Sơn, Duy Sơn hát bài truyền thong công binh tặng gia chủ ĐÀO CÔNG SỰ. Đỗ Dũng dạo này bẽn lẽn như con gái mới về nhà chồng, nài nỉ mãi mới chịu phô diễn bài tủ NGƯỜI CHIẾN SỸ ẤY. Trịnh Cường muốn hát bài tiếng Trung tặng hai cô giáo cũ song ngại Mao ít Mao nhiều, tôi cầm micro giải thích đây là hát tặng cô giáo chẳng liên quan gì đến Mao cả. Anh em tán thưởng, tay chơi Cường khỉ hát vẫn xung lắm. Còn nhiều, nhiều anh em lên phô diễn tài năng đã được tôi luyện trong các lò KARAOKE, không ai chịu về nhì. Đúng là tính ngông và ngang của mấy cha trường Trỗi. Có chết nết không đổi. Cuộc vui khép lại bằng bài hát truyền thông nhà trường SINH RA TRONG KHÓI LỬA.

Một ngày đầy ý nghĩa đã qua. Chắc hẳn hơn 50 anh em K6 có mặt ngày hôm đó sẽ không bao giờ quên. Ôn lại kỷ niệm xưa, tình bạn bè chiến hữu ngày càng gắn bó. Ra Bắc vào Nam, lính Trỗi gọi nhau có mặt liền. Viêt ra những dòng này gọi là lưu bút. Cảnh trí Hưng Hóa Trung Hà thay đổi nhiều các bạn nên xem thêm phóng sự ảnh của nhiếp ảnh gia Trần Vinh Quang (dân Trỗi K6 gọi Quang 2 lỗ) sẽ cảm nhận rõ bằng hình ảnh.


FB Duy Sơn Vũ - 01 Tháng 7 lúc 13:22


Chủ Nhật, 25 tháng 6, 2017

Về thăm lại Hưng Hóa, nơi chúng tôi để lại một phần đời niên thiếu...


Sáng ngày 25/6/2017, bên bờ hồ Trúc Bạch êm đềm, đại diện các thày, các cô, đại diện BLL Trường Văn hóa Quân đội Nguyễn Văn Trỗi cùng với hơn 50 cựu học sinh Khóa 6 đã tập trung đông đủ.


Sáng ngày 25/6/2017, bên bờ hồ Trúc Bạch êm đềm, đại diện các thày, các cô, đại diện BLL Trường Văn hóa Quân đội Nguyễn Văn Trỗi cùng với hơn 50 cựu học sinh Khóa 6 đã tập trung đông đủ.

Thứ Tư, 3 tháng 5, 2017

Ảnh xưa của bạn Kim Hồ

Đăng lại các ảnh xưa của bạn Kim Hồ chia sẻ trên FB (có chỉnh sửa chút ít).

Môt thời khó quên !

Đã qua 45 năm rồi ! Hồi ấy khổ mà vui !
Ở 1 d tên lửa bảo vệ Hà nội, Thanh Hóa, Nam Đinh, Ninh Bình... và 7 năm ở trường SQPK




Ba thiếu sinh quân Trường VHQĐ Nguyễn Văn Trỗi nè



30 LNĐ HN
Nguyễn Kim Hồ Mình cũng đoán như Hung Chi thôi: Hồ k6, Đôn Nguyên k3 và Đôn Nhân k5. Ảnh này cách đây khoản 50 năm


Thầy Lê Đức Soạn chính chị viên k6 bạn Trỗi !



Đây là lưu bút của thầy nói về quê thầy.

Thầy viết chữ rất đẹp!


Đây là thầy giáo k6 bạn Trỗi, bạn có biết ai không ?

Nguyễn Kim Hồ: Thầy này hình như tên Hội. Mình nhớ không chắc lăm !



Thầy Khoát hè 1970



Thầy Khoát, thầy Ứng và KH hè 1970



Đây là BCH Liên chi đoàn 9 hè 1970. Các bạn có nhận ra những ai không ?

Nguyễn Kim Hồ: Đứng sau là thầy Soạn và Nguyễn thị Thành. Ngồi sát thầy phía sau là Huy Hùng. Những người khác tự nhận (nếu có) và nhờ các bạn xác định giúp !
Trong danh sách bạn Trỗi k6 mình thấy thiếu cái tên Trần Lô Giang vào đoàn sớm hình như có trong BCH Liên chi đoàn ??!
BCH liên chi đoàn lúc ấy 11 người có thể là :Hùng, Hoàng, Hồ, Trọng, Thị Thành, Thiệp, Hà Tuấn, M Chinh Vũ Hùng, Đỗ H Bình...



Lớp 9A hè 1970

Những lớp học "hiện đại" của chúng ta


Ảnh chụp hè 1968 tại hiệu ảnh Quốc tế Hà Nội

Kim Hồ, Đoàn Nhật Thắng, Ôn Minh Thảo, Đinh Quân, Nguyễn Văn Minh.


Bốn chiến binh k6 Trỗi ở bán đảo Sơn trà Đà Nẵng 1999








Đăng lại các ảnh xưa của bạn Kim Hồ chia sẻ trên FB (có chỉnh sửa chút ít).

Môt thời khó quên !

Đã qua 45 năm rồi ! Hồi ấy khổ mà vui !
Ở 1 d tên lửa bảo vệ Hà nội, Thanh Hóa, Nam Đinh, Ninh Bình... và 7 năm ở trường SQPK




Ba thiếu sinh quân Trường VHQĐ Nguyễn Văn Trỗi nè



30 LNĐ HN
Nguyễn Kim Hồ Mình cũng đoán như Hung Chi thôi: Hồ k6, Đôn Nguyên k3 và Đôn Nhân k5. Ảnh này cách đây khoản 50 năm


Thầy Lê Đức Soạn chính chị viên k6 bạn Trỗi !



Đây là lưu bút của thầy nói về quê thầy.

Thầy viết chữ rất đẹp!


Đây là thầy giáo k6 bạn Trỗi, bạn có biết ai không ?

Nguyễn Kim Hồ: Thầy này hình như tên Hội. Mình nhớ không chắc lăm !



Thầy Khoát hè 1970



Thầy Khoát, thầy Ứng và KH hè 1970



Đây là BCH Liên chi đoàn 9 hè 1970. Các bạn có nhận ra những ai không ?

Nguyễn Kim Hồ: Đứng sau là thầy Soạn và Nguyễn thị Thành. Ngồi sát thầy phía sau là Huy Hùng. Những người khác tự nhận (nếu có) và nhờ các bạn xác định giúp !
Trong danh sách bạn Trỗi k6 mình thấy thiếu cái tên Trần Lô Giang vào đoàn sớm hình như có trong BCH Liên chi đoàn ??!
BCH liên chi đoàn lúc ấy 11 người có thể là :Hùng, Hoàng, Hồ, Trọng, Thị Thành, Thiệp, Hà Tuấn, M Chinh Vũ Hùng, Đỗ H Bình...



Lớp 9A hè 1970

Những lớp học "hiện đại" của chúng ta


Ảnh chụp hè 1968 tại hiệu ảnh Quốc tế Hà Nội

Kim Hồ, Đoàn Nhật Thắng, Ôn Minh Thảo, Đinh Quân, Nguyễn Văn Minh.


Bốn chiến binh k6 Trỗi ở bán đảo Sơn trà Đà Nẵng 1999








Thứ Sáu, 1 tháng 4, 2016

Những ngày tháng đáng nhớ trên đất Hưng hoá - Phú thọ (Hoàng Anh)











Những ngày tháng đáng nhớ
trên đất Hưng hoá - Phú thọ




Khi từ Trung Quốc về, sau tết Kỉ dậu 1969, nhà trường chúng tôi chuyển tới đóng quân trên vùng đất Hưng hoá Phú thọ cạnh bên dòng sông, nhánh của sông Hồng, trong doanh trại của trường công binh. Từ đường cái vào, men qua một cái nhà thờ đổ nát, là trạm gác của trường, ngay phía trước là sân cỏ rộng, có một bục sân khấu nhỏ bằng đất, thường dùng làm lễ chào cờ, sân có thể dùng đá bóng mỗi buổi chiều được, và là nơi thao diễn kĩ thuật, hay thể thao gì đó. Tiếp đến là một nhà lớn của ban chỉ huy, trực ban đơn vị, phía sau là hai dãy nhà 2 tầng là nơi chúng tôi ở và học tập, sau nhà cuối bên trái có cái giếng to, chúng tôi thường tắm giặt chung ở đó, nằm giữa là con đường chạy xuống khu hậu cần và bếp ăn, hai bên có hàng phượng già rợp bóng, rải hoa lá xuống đường mỗi khi có gió lướt qua. Tôi còn nhớ từ ngoài nhìn vào, bên trái khu nhà ở, có một khu nhà xưởng lớn, bỏ hoang chắc cũng khá lâu, nên thấy cây cỏ dại, lạc tiên phủ mọc um tùm lên các giây thép ngăn từng khu, phân bò khô cứng rải khắp trong ngoài nền xưởng, trên lối đi qua xưởng, một cái biển không dấu đổ xiêu, vắt vẻo “Tram sưa chua”mà lũ học trò chúng tôi cứ thích đọc trẹo đi là “trạm sữa chua”! Hòm thơ của đại đội tôi (khoá 6) lúc đó được phổ biến cho lớp, tôi còn nhớ là HT 42267 XP.
Thời gian này khoá 6 chúng tôi học tiếp chương trình kì học 2 lớp 8 (1968-1969). Các lớp học bàn ghế được kê bằng các khối rầm gỗ lớn, dài mà bên công binh vẫn dùng làm cầu phao cho xe pháo đi qua. Ngày 22/3/1969 Toàn tiểu đoàn chúng tôi phát động đợt sinh hoạt chính trị “Thế hệ trẻ anh hùng” nhân ngày thành lập đoàn 26/3, trên giao chỉ tiêu thi đua “người tốt việc tốt” cho từng chi đoàn, chấm theo thang điểm 10. Mỗi cá nhân phải tự đăng kí nâng loại học tập cho mình. Bên hậu cần, các anh chị nuôi cũng tổ chức thi đua tìm tòi cải tiến kĩ thuật nấu nướng để bữa ăn ngon hơn.
Một tin rất vui với lũ trẻ chúng tôi là trong thời gian này nhà trường quyết định xây thêm một lò bánh mỳ. Thế là từ nay chúng tôi mỗi bữa, mỗi đứa được thêm nửa chiếc bánh mỳ nóng giòn thơm ngon, thay vì những cục bột luộc vừa đen, vừa cứng còng, dai ngoách trước đây, mà lũ trẻ vẫn nói đùa: ”ném chó chó cũng chết!”
Mỗi tháng hồi đó, nhà trường lại tổ chức chiếu phim phục vụ cho học sinh, như trong tối thứ 7 cuối tháng tư năm ấy, trên cho xem bộ phim có tên là “Lửa” một bộ phim Việt nam, mà lâu quá tới giờ tôi cũng chẳng nhớ nội dung nó nói gì.
Ngoài việc học tập, chúng tôi còn phải thi đua tăng gia trồng trọt, cắt cử phân công nhau chăm bón rau, để nâng thêm mức ăn hàng ngày, nhờ có ruộng rau muống của từng đơn vị, chúng tôi có rau ăn đều đều. Việc bình bầu người tốt việc tốt được tiến hành hàng tuần, thực ra cái tuổi ham ăn thích chơi nhiều của lũ tôi kiếm ra việc tốt cũng hơi bị khó, nên cũng cố căn cứ vào việc làm của từng người như bạn này có thành tích cắt tóc cho mọi người, bạn khác thì gánh nước giúp cô nuôi, thậm chí có cậu chỉ làm cái hót rác… cũng được chi đoàn đánh giá cao có tinh thần tập thể! anh em nhất trí bầu luôn, xét kết nạp ngay nó vào đoàn!
Chương trình học của chúng tôi dự kiến sẽ kết thúc học kì 2 lớp 8 vào khoảng tháng 6 tháng 7 năm1969.
Thời gian này trời nắng nóng, nên ban ngày chúng tôi thường học trong tình trạng mệt mỏi, hay khát nước, dễ buồn ngủ lắm. Buổi tối trời mát hơn, chúng tôi tranh thủ học khuya hơn, sau giờ học chúng tôi, từng nhóm có thể tranh thủ chơi xà, chơi đàn ghi ta (lúc này lớp có phong trào một số bạn thích tập đàn ghita có lẽ xuất phát từ khi có anh Chí Hiếu lớp trên xuống biểu diễn làm thằng nào cũng mê), rồi cuối cùng là vệ sinh tắm giặt.
Một kỉ niệm nhớ đời, là có một tối do cố với cái gàu tôi bị té nhào xuống giếng, chân đạp vào đá đau điếng, ngực thì bị chà vào thành giếng, may quá chỉ xước mấy vết rớm máu ở ngực, phải gọi mấy đứa bạn ra thòng dây kéo lên.
Một chuyện nữa cũng thật buồn cười, có lần có đến sáu bảy đứa lớp tôi xuống ăn cơm muộn, xuống bếp thì nhà bếp đã dọn sạch, trời thì tối thui, nhưng đói thì đầu gối cũng phải bò, một thằng mò mẫm trong chạn còn một chậu cơm, thằng kia cố vét thùng kiếm được muôi mỡ, có gói muối chúng tôi trộn thêm ít mì chính của nhà mang đi để ăn với cơm, đang chuẩn bị ăn… thì lại có một đứa quờ quạng thế nào cũng bê ra được cả một chậu quân dụng không biết canh hay nước rau đầy sóng sánh, cả lũ đang đói hí hửng ra mặt, vớ cái môi vừa chan vừa húp xì sụp ăn lấy ăn để… cho đến khi có một thằng lấy đũa ngoáy vào trong chậu chắc muốn tìm xem còn chút rau nào không, khi nó nhấc lên: thì eo ôi từ trong chậu một chiếc giẻ lau bàn đen thui lõng tỏng nước văng tung toé! cả lũ trợn mắt, lúc ấy nhìn cái giẻ bẩn, thằng nào thằng ấy đều muốn khạc, muốn ói tất cả những gì vừa tống vào bụng!
Tháng 5/1969 Nhà trường lại mở chiến dịch thi đua “Quyết thắng 4” nhằm động viên mọi học sinh học tốt, tu dưỡng tốt. do yêu cầu của trên, cần rút ngắn thời gian học trước một tháng, mà chất lượng học không giảm, nên mỗi học sinh phải tự lập đề cương ôn tập cho phù hợp, thời gian biểu học tập mỗi lớp, được tăng tiết (4-5 tiết/mỗi buổi).
Ngày 18/5/1969 hôm ấy là ngày chủ nhật, chúng tôi hành quân dã ngoại ra xã Đào xá, vừa là để thăm nơi bác Hồ đã tới trồng cây trong dịp tết vừa rồi, vừa là phát động thi đua và giao lưu kết nghĩa với đoàn thanh niên địa phương. Trong phần văn nghệ của chi đoàn địa phương, tôi còn nhớ tiết mục có 2 cô gái lên trông cũng hay hay, tuy không xinh lắm nhưng hát bài chèo tự sáng tác cũng khá tự nhiên, trong đó có mấy câu mến yêu từng bộ phận công tác của xã như:

“Em mến yêu tang tình là anh tài vụ,
Tính tính tính không thừa không thiếu xu một xu…”
“Em mến yêu tang tình là anh xã đội….
….

cứ thế, có thế thôi mà cũng làm chúng tôi cứ cười ngặt nghẽo như những lũ dở hơi.
Có lẽ cái năm 1969 ấy, hè về sớm hơn mọi khi, mới vào tháng 5 mà hoa phượng đã nở đỏ như những mâm xôi gấc khổng lồ, tiếng ve kêu râm ran khắp cả khu trại, trời nóng oi bức hơn, lũ trẻ chúng tôi tắm có đứa 3-4 lần mà cũng không thấy bớt cái oi bức, khi đó các giếng lại cạn nước khá nhanh, nên việc tắm giặt lại càng khó khăn, vất vả hơn. Nhiều đứa trong chúng tôi phải trốn trại, lén ra sông ở bên kia đường để tắm, giặt. Ai đã sống trong thời gian ấy chắc không hẳn quên tiềng kẻng hiệu lệnh, tiếng kèn, tiếng nhạc hiệu lệnh. Tôi còn nhớ mỗi buổi trưa hồi ấy toàn trường lại vang lên bản nhạc “Hội chợ Ba tư”: tèn ten ten tén tèn ten ten… đánh thức toàn trường, còn ở đầu cầu thang lớp tôi, thầy Thưởng thường mang một chiếc accodeon bấm phòm, phòm dục mọi người dậy!
Cũng trong khoảng thời gian sau đó, thầy giáo phụ trách chúng tôi lại bị ốm, việc quản lý học sinh khá lỏng lẻo, mặc dù bên đoàn đã ra kế hoạch tự quản, các cuộc họp cũng liên tục để chấn chỉnh, nhưng vẫn bắt đầu có một số chuyện không hay xảy ra khi bước vào lớp 9 như có bạn trốn học đi chơi, lấy của nhau (thỉnh thoảng lại nghe mất đồ, quần áo, có tuần mất tới 6 cái balô của 6 bạn) rủ nhóm đi trêu chọc thanh niên địa phương, …nên mới có việc một số bạn cá biệt được đưa đi phân hiệu II ở Thạch thất rèn luyện! Trong trường lại xảy ra tai nạn: một bạn hình như ở lớp dưới, trèo cây cao bị té, chấn thương rất nặng phải đưa đi cấp cứu, ban lãnh đạo nhà trường phải ra thông báo cấm leo trèo, cấm tắm sông! Không khí nhà trường có vẻ lại càng căng thẳng hơn, khi mà cái tin phong thanh trường chuẩn bị chuyển nhiệm vụ, giải tán hệ học sinh vào hè 1970!














Rồi kỳ nghỉ hè năm 1969 cũng đã đến, chúng tôi kết thúc năm học lớp 8, được nghỉ phép trở về gia đình với bao ngổn ngang lo lắng… nhưng mỗi đứa đều thầm chặc lưỡi: “thôi kệ nó, hãy nghỉ đã chuyện đâu có đó!”
Cuối tháng 8 năm ấy tôi bị sốt xuất huyết nặng, không thể lên trường trả phép đúng hạn cùng các bạn được, cùng thời gian ấy đồng bào cả nước nghe tin Bác Hồ mệt nặng, cả bầu trời cũng trĩu nặng u ám! mấy ngày sau thì nghe Bác mất, đúng là “Trời tuôn nước mắt đời tuôn mưa” cả nước khóc chịu tang Bác!
Vào những ngày để tang Bác, ngày 10 tháng 9 năm 1969 thấy trong người hơi khoẻ, tôi với thằng em trai, xách balô lếch thếch ra bến xe Kim mã kiếm xe khách về Trung Hà, chờ mãi mấy tiếng đồng hồ vẫn chưa có xe, hai anh em vừa mệt, vừa khát, thấy có quầy bán kem đi qua mua mấy chiếc ăn, tính chắc phải về đành để mai vậy! tới 16h chợt có một chiếc xe ca vẫy khách đi Trung hà, thế là tôi nhảy lên xe, kêu thằng em về cho nhà hay. Xe chạy về tới bến Trung Hà thì trời cũng đã nhá nhem tối, xuống xe tôi vội ra bến phà cách đó khoảng một cây, ra tới nơi thì phà đã nghỉ từ lúc nào, đang tiu ngỉu không biết làm sao thì có chị gánh đồ đi xuống nói với tôi không có phà thì kêu đò, mừng quá, hai chị em chúng tôi í ới kêu, thế mà cũng gọi được đò. Sang bờ bên kia tôi trả tiền đò mất có 2 hào, tính đi luôn nhưng thấy chị đi cùng còn vướng lủng củng đồ, gánh, tôi nán lại gánh giúp chị tới tận quãng rẽ, chúng tôi mới chia tay, xốc lại ba lô, tôi đi tiếp dọc bờ đê sông về đơn vị. Lúc gần tới chỗ nhà thờ đổ, trời trăng lúc tỏ lúc mờ, thế quái nào tôi bước hụt vào cái hào cũ, ngã một cái đau điếng, bẩn lấm lem bê bết bùn, may không gẫy xương nào. Vào trường tôi đi báo cáo thầy phụ trách, rồi mới về lớp, bạn bè hỏi thăm mới biết lớp đã vào học được 3 hôm rồi.
Ngày 11/9/1969 trường mới tổ chức làm lễ khai giảng cho toàn trường, sau lễ khai giảng, chúng tôi được nhận mấy thếp giấy loại giá 5 hào 2 về tự khâu đóng vở, làm nhãn. Năm học lớp 9 này chương trình học có thay đổi, thay vì chấm điểm 5, nay chuyển sang hệ điểm 10. Kiến thức mới nhiều và cũng khá khó, mới vào học mà nhiều bạn trong lớp bị ăn trứng ngỗng to tướng sau mấy bài kiểm tra Lượng, Sinh, Địa, Văn (làm dàn bài về đề tài “di chúc của Bác Hồ”). Năm học này nhà trường tổ chức thành 3 học kỳ, ngó bộ cũng khá vất vả. Ăn uống loanh quanh sáng ngô, trưa, chiều: rau luộc, muối vừng, cá kho, hoặc thịt om chuối! chả thế nên có cậu mới sáng tác từ bài hát “Quả bom là quả bom rơi.. anh công binh túm lấy đầu” thành ra “ăn ngô …lại ị…ra ngô”
Hàng tháng nhà trường vẫn được phục vụ một tối phim cuối tuần, trong tháng 9 chiếu phim “Những phi công mặc áo ngủ” trong phim có đoạn những tù phi công Mỹ bị bắt tại miền Bắc Việt nam, hát bằng tiếng Anh bài hát tự chế:

“ …Ngồi trên chiếc F4H bay ra Bắc Việt,
nào ngờ đâu bị bắn cháy rơi xuống sông,
Chiếc xe trâu đưa tôi về nơi Hilton…
Nơi quê nhà đôi mắt ai vẫn ngóng mong chờ!”

Thế mà mấy bữa sau, rất lạ, học bài sao khó nhớ thế, mà bài hát hầu như đứa nào trong lớp cũng nghêu ngao thuộc!
Trong trường giai đoạn này rất nhiều người bị sốt cao, phải nghỉ học, nghi có dịch sốt xuất huyết đang lan rộng, ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt, học tập của học sinh trong trường. Tình hình kỉ luật trong trường lúc này cũng có vẻ xa sút hơn trước, ban chính trị nhà trường chỉ đạo cần củng cố vai trò đoàn viên trong học sinh, trong các chi đoàn cần tăng cường đấu tranh phê và tự phê, nhưng khi tiến hành có vẻ thiếu biện pháp cụ thể nên kết quả người chủ trì thì muốn nản, đoàn viên nhìn chung thụ động, ít phát biểu.
Hòm thư của đơn vị được thay đổi là: đội 22(9) xã Hưng hoá, Huyện Tam nông, Tỉnh Vĩnh phú.
Khoảng cuối tháng 10, đơn vị lại phải tổ chức tiền trạm để chuẩn bị đợt dã ngoại ra dân cùng ăn cùng ở cùng lao động với dân trong vòng một tuần để tăng cường mối đoàn kết quân với dân địa phương.
Trong mấy năm sống trong môi trường quân đội, thì giai đoạn cuối kỉ luật của lớp chúng tôi có vẻ không được tốt lắm. Ngay từ xưa người ta vẫn bảo: “ nhất quỉ, nhì ma, thứ ba học trò”, có lẽ cũng do đến tuổi dậy thì, tâm sinh lý thay đổi, thích chơi, thích tự do hơn nên có nhiều bạn cá biệt bắt đầu tỏ ra chểnh mảng học hành, không làm được bài thì đột nhập vào phòng thầy chữa bài tráo bài, lấy đồ của nhau, lấy đồ của thầy, lấy đồ ăn của nhà bếp (bột súp), trộm cả gà ngỗng nuôi, thậm chí còn quậy phá như làm chập điện gây mất điện toàn trường, v.v.. buộc nhà trường chỉ còn mỗi cách đưa tiếp một số đi lên Thạch Thất rèn luyện.
Thời tiết dạo đó trời bắt đầu lạnh, ở cái miền trung du bắc bộ mùa này và nhất là vào buổi tối thì khá rét, dù vẫn còn là trẻ con nhưng tối đến chúng tôi vẫn phải thực hiện phân công trực gác bảo vệ đơn vị như bộ đội, đã ôm súng lóc cóc đi tuần quanh doanh trại nhất là canh khu vực nhà bếp, mà 2 mắt cứ díu tịt lại, chỉ thèm ngủ ghê lắm, cho nên mới thỉnh thoảng có trận cãi nhau buổi sáng:“sao mày không gọi tao dậy” té ra có cu cậu đổi gác không dậy nổi, bỏ gác ngủ thẳng đến sáng luôn!
Trong tháng 11/ 1969 chúng tôi được phát quân trang bao gồm một bộ quân phục, một thắt lưng, một đôi giày, một áo lót, một mũ mềm, một mũ cứng, một đôi tất, một áo đông xuân, cộng với số đồ cũ cũng làm đầy nhóc một ba lô! lúc này không còn áo budong với quần xanh của lính không quân như xưa mà quân phục lính bộ binh hẳn hoi, tất nhiên là những bộ bé nhất của bộ đội. Với cơ số này tất nhiên nhiều đứa chúng tôi vẫn còn bị thiếu như chăn… do bị mất chẳng hạn, riêng tôi cũng không nhớ hồi đó tại sao tôi cũng không có chăn, để chống lạnh, tôi phải cặm cụi mất cả ngày chủ nhật lấy 2 cái trải giường khâu hì hụi lại thành tấm đắp, còn khi lạnh quá thì nằm chung với bạn khác!
Từ lớp 8 trở lên, lũ Trung văn chúng tôi phải chuyển từ những kí tự tượng hình sang học Nga văn, cái thứ ngôn ngữ Slavơ thật quá mới mẻ với chúng tôi, có lẽ khó nhất là ngữ pháp của tiếng Nga, nào là các cách của tính từ, danh từ, động từ chia chóng cả mặt…nên các kinh nghiệm của các lớp khác cho chúng tôi được áp dụng khá nhiều: như câu “cá thu tôm he...” đối với danh từ “Nag trên, pot dưới, Sờ (C) trước za sau” đối với giới từ… cả lũ học như vẹt!
Thời gian học kỳ II trôi qua cũng khá nhanh, mới đó đã phải kiểm tra học kỳ, có lẽ năm lớp 9 này sức khoẻ tệ nhất tôi bị ốm lia chia tính từ khi khai giảng đã ốm cả tuần, rồi mới bị ốm phải nghỉ học mấy ngày giữa tháng 12/1969 này nữa, tuy vậy vẫn may là có kết quả hai môn chính khá đẹp toán, văn 8 riêng sinh do bị ốm không kiểm tra.
Chuẩn bị cho lễ kỉ niệm 22/12 toàn trung đội đã ra kế hoạch tập văn nghệ để tham gia hội diễn với toàn trường từ mấy tuần trước đó. Trong lễ kỉ niệm ngày thành lập quân đội chúng tôi có nhiều tiết mục khá xôm đóng góp thành công vào buổi văn nghệ nhà trường, buổi chiều thì có liên hoan ăn tươi, tối đó có chiếu phim phục vụ toàn trường với bộ phim “Vĩ tuyến 17 - chiến tranh nhân dân” do nhà quay phim nổi tiếng người Hà lan quay.
Sau 22/12 chúng tôi bắt đầu thêm học kì III, một học kì khá đặc biệt, tình hình chung trong toàn trường có nhiều tiến bộ hơn, nội dung học một số môn có thay đổi về đại số là cách sử dụng thước tính, lý thì học về tính chất của các chất rắn, lỏng, khí. Nhà trường lại phát động tháng thi đua rèn luyện toàn diện chủ đề “Thanh niên thế hệ Hồ chí Minh” mỗi ngày đều có yêu cầu cho từng cao điểm về học tập, sinh hoạt rồi cả tổ chức hành quân ra trồng cây và lao động cấy lúa giúp dân tại thôn Đào xá.
Cho đến sau tết Canh tuất vào cuối tháng 2 năm 1970 chúng tôi đã bắt đầu bước vào chuẩn bị ôn tập, để thi học kỳ III vào đầu tháng 4 năm 1970.
Tháng 5 năm 1970 chúng tôi kết thúc năm học lớp 9, chia tay bạn bè, chia tay trường văn hoá quân đội sau 6 năm gắn bó rèn luyện với bao nỗi bịn rịn, lo lắng, với bao kỉ niệm tuổi trẻ niên thiếu trong quân ngũ không bao giờ quên, phía trước mỗi chúng tôi một cuộc sống mới, một cuộc chiến đấu mới đang chờ!

Nguồn: FB Nguyễn Anh







 












Những ngày tháng đáng nhớ
trên đất Hưng hoá - Phú thọ




Khi từ Trung Quốc về, sau tết Kỉ dậu 1969, nhà trường chúng tôi chuyển tới đóng quân trên vùng đất Hưng hoá Phú thọ cạnh bên dòng sông, nhánh của sông Hồng, trong doanh trại của trường công binh. Từ đường cái vào, men qua một cái nhà thờ đổ nát, là trạm gác của trường, ngay phía trước là sân cỏ rộng, có một bục sân khấu nhỏ bằng đất, thường dùng làm lễ chào cờ, sân có thể dùng đá bóng mỗi buổi chiều được, và là nơi thao diễn kĩ thuật, hay thể thao gì đó. Tiếp đến là một nhà lớn của ban chỉ huy, trực ban đơn vị, phía sau là hai dãy nhà 2 tầng là nơi chúng tôi ở và học tập, sau nhà cuối bên trái có cái giếng to, chúng tôi thường tắm giặt chung ở đó, nằm giữa là con đường chạy xuống khu hậu cần và bếp ăn, hai bên có hàng phượng già rợp bóng, rải hoa lá xuống đường mỗi khi có gió lướt qua. Tôi còn nhớ từ ngoài nhìn vào, bên trái khu nhà ở, có một khu nhà xưởng lớn, bỏ hoang chắc cũng khá lâu, nên thấy cây cỏ dại, lạc tiên phủ mọc um tùm lên các giây thép ngăn từng khu, phân bò khô cứng rải khắp trong ngoài nền xưởng, trên lối đi qua xưởng, một cái biển không dấu đổ xiêu, vắt vẻo “Tram sưa chua”mà lũ học trò chúng tôi cứ thích đọc trẹo đi là “trạm sữa chua”! Hòm thơ của đại đội tôi (khoá 6) lúc đó được phổ biến cho lớp, tôi còn nhớ là HT 42267 XP.
Thời gian này khoá 6 chúng tôi học tiếp chương trình kì học 2 lớp 8 (1968-1969). Các lớp học bàn ghế được kê bằng các khối rầm gỗ lớn, dài mà bên công binh vẫn dùng làm cầu phao cho xe pháo đi qua. Ngày 22/3/1969 Toàn tiểu đoàn chúng tôi phát động đợt sinh hoạt chính trị “Thế hệ trẻ anh hùng” nhân ngày thành lập đoàn 26/3, trên giao chỉ tiêu thi đua “người tốt việc tốt” cho từng chi đoàn, chấm theo thang điểm 10. Mỗi cá nhân phải tự đăng kí nâng loại học tập cho mình. Bên hậu cần, các anh chị nuôi cũng tổ chức thi đua tìm tòi cải tiến kĩ thuật nấu nướng để bữa ăn ngon hơn.
Một tin rất vui với lũ trẻ chúng tôi là trong thời gian này nhà trường quyết định xây thêm một lò bánh mỳ. Thế là từ nay chúng tôi mỗi bữa, mỗi đứa được thêm nửa chiếc bánh mỳ nóng giòn thơm ngon, thay vì những cục bột luộc vừa đen, vừa cứng còng, dai ngoách trước đây, mà lũ trẻ vẫn nói đùa: ”ném chó chó cũng chết!”
Mỗi tháng hồi đó, nhà trường lại tổ chức chiếu phim phục vụ cho học sinh, như trong tối thứ 7 cuối tháng tư năm ấy, trên cho xem bộ phim có tên là “Lửa” một bộ phim Việt nam, mà lâu quá tới giờ tôi cũng chẳng nhớ nội dung nó nói gì.
Ngoài việc học tập, chúng tôi còn phải thi đua tăng gia trồng trọt, cắt cử phân công nhau chăm bón rau, để nâng thêm mức ăn hàng ngày, nhờ có ruộng rau muống của từng đơn vị, chúng tôi có rau ăn đều đều. Việc bình bầu người tốt việc tốt được tiến hành hàng tuần, thực ra cái tuổi ham ăn thích chơi nhiều của lũ tôi kiếm ra việc tốt cũng hơi bị khó, nên cũng cố căn cứ vào việc làm của từng người như bạn này có thành tích cắt tóc cho mọi người, bạn khác thì gánh nước giúp cô nuôi, thậm chí có cậu chỉ làm cái hót rác… cũng được chi đoàn đánh giá cao có tinh thần tập thể! anh em nhất trí bầu luôn, xét kết nạp ngay nó vào đoàn!
Chương trình học của chúng tôi dự kiến sẽ kết thúc học kì 2 lớp 8 vào khoảng tháng 6 tháng 7 năm1969.
Thời gian này trời nắng nóng, nên ban ngày chúng tôi thường học trong tình trạng mệt mỏi, hay khát nước, dễ buồn ngủ lắm. Buổi tối trời mát hơn, chúng tôi tranh thủ học khuya hơn, sau giờ học chúng tôi, từng nhóm có thể tranh thủ chơi xà, chơi đàn ghi ta (lúc này lớp có phong trào một số bạn thích tập đàn ghita có lẽ xuất phát từ khi có anh Chí Hiếu lớp trên xuống biểu diễn làm thằng nào cũng mê), rồi cuối cùng là vệ sinh tắm giặt.
Một kỉ niệm nhớ đời, là có một tối do cố với cái gàu tôi bị té nhào xuống giếng, chân đạp vào đá đau điếng, ngực thì bị chà vào thành giếng, may quá chỉ xước mấy vết rớm máu ở ngực, phải gọi mấy đứa bạn ra thòng dây kéo lên.
Một chuyện nữa cũng thật buồn cười, có lần có đến sáu bảy đứa lớp tôi xuống ăn cơm muộn, xuống bếp thì nhà bếp đã dọn sạch, trời thì tối thui, nhưng đói thì đầu gối cũng phải bò, một thằng mò mẫm trong chạn còn một chậu cơm, thằng kia cố vét thùng kiếm được muôi mỡ, có gói muối chúng tôi trộn thêm ít mì chính của nhà mang đi để ăn với cơm, đang chuẩn bị ăn… thì lại có một đứa quờ quạng thế nào cũng bê ra được cả một chậu quân dụng không biết canh hay nước rau đầy sóng sánh, cả lũ đang đói hí hửng ra mặt, vớ cái môi vừa chan vừa húp xì sụp ăn lấy ăn để… cho đến khi có một thằng lấy đũa ngoáy vào trong chậu chắc muốn tìm xem còn chút rau nào không, khi nó nhấc lên: thì eo ôi từ trong chậu một chiếc giẻ lau bàn đen thui lõng tỏng nước văng tung toé! cả lũ trợn mắt, lúc ấy nhìn cái giẻ bẩn, thằng nào thằng ấy đều muốn khạc, muốn ói tất cả những gì vừa tống vào bụng!
Tháng 5/1969 Nhà trường lại mở chiến dịch thi đua “Quyết thắng 4” nhằm động viên mọi học sinh học tốt, tu dưỡng tốt. do yêu cầu của trên, cần rút ngắn thời gian học trước một tháng, mà chất lượng học không giảm, nên mỗi học sinh phải tự lập đề cương ôn tập cho phù hợp, thời gian biểu học tập mỗi lớp, được tăng tiết (4-5 tiết/mỗi buổi).
Ngày 18/5/1969 hôm ấy là ngày chủ nhật, chúng tôi hành quân dã ngoại ra xã Đào xá, vừa là để thăm nơi bác Hồ đã tới trồng cây trong dịp tết vừa rồi, vừa là phát động thi đua và giao lưu kết nghĩa với đoàn thanh niên địa phương. Trong phần văn nghệ của chi đoàn địa phương, tôi còn nhớ tiết mục có 2 cô gái lên trông cũng hay hay, tuy không xinh lắm nhưng hát bài chèo tự sáng tác cũng khá tự nhiên, trong đó có mấy câu mến yêu từng bộ phận công tác của xã như:

“Em mến yêu tang tình là anh tài vụ,
Tính tính tính không thừa không thiếu xu một xu…”
“Em mến yêu tang tình là anh xã đội….
….

cứ thế, có thế thôi mà cũng làm chúng tôi cứ cười ngặt nghẽo như những lũ dở hơi.
Có lẽ cái năm 1969 ấy, hè về sớm hơn mọi khi, mới vào tháng 5 mà hoa phượng đã nở đỏ như những mâm xôi gấc khổng lồ, tiếng ve kêu râm ran khắp cả khu trại, trời nóng oi bức hơn, lũ trẻ chúng tôi tắm có đứa 3-4 lần mà cũng không thấy bớt cái oi bức, khi đó các giếng lại cạn nước khá nhanh, nên việc tắm giặt lại càng khó khăn, vất vả hơn. Nhiều đứa trong chúng tôi phải trốn trại, lén ra sông ở bên kia đường để tắm, giặt. Ai đã sống trong thời gian ấy chắc không hẳn quên tiềng kẻng hiệu lệnh, tiếng kèn, tiếng nhạc hiệu lệnh. Tôi còn nhớ mỗi buổi trưa hồi ấy toàn trường lại vang lên bản nhạc “Hội chợ Ba tư”: tèn ten ten tén tèn ten ten… đánh thức toàn trường, còn ở đầu cầu thang lớp tôi, thầy Thưởng thường mang một chiếc accodeon bấm phòm, phòm dục mọi người dậy!
Cũng trong khoảng thời gian sau đó, thầy giáo phụ trách chúng tôi lại bị ốm, việc quản lý học sinh khá lỏng lẻo, mặc dù bên đoàn đã ra kế hoạch tự quản, các cuộc họp cũng liên tục để chấn chỉnh, nhưng vẫn bắt đầu có một số chuyện không hay xảy ra khi bước vào lớp 9 như có bạn trốn học đi chơi, lấy của nhau (thỉnh thoảng lại nghe mất đồ, quần áo, có tuần mất tới 6 cái balô của 6 bạn) rủ nhóm đi trêu chọc thanh niên địa phương, …nên mới có việc một số bạn cá biệt được đưa đi phân hiệu II ở Thạch thất rèn luyện! Trong trường lại xảy ra tai nạn: một bạn hình như ở lớp dưới, trèo cây cao bị té, chấn thương rất nặng phải đưa đi cấp cứu, ban lãnh đạo nhà trường phải ra thông báo cấm leo trèo, cấm tắm sông! Không khí nhà trường có vẻ lại càng căng thẳng hơn, khi mà cái tin phong thanh trường chuẩn bị chuyển nhiệm vụ, giải tán hệ học sinh vào hè 1970!














Rồi kỳ nghỉ hè năm 1969 cũng đã đến, chúng tôi kết thúc năm học lớp 8, được nghỉ phép trở về gia đình với bao ngổn ngang lo lắng… nhưng mỗi đứa đều thầm chặc lưỡi: “thôi kệ nó, hãy nghỉ đã chuyện đâu có đó!”
Cuối tháng 8 năm ấy tôi bị sốt xuất huyết nặng, không thể lên trường trả phép đúng hạn cùng các bạn được, cùng thời gian ấy đồng bào cả nước nghe tin Bác Hồ mệt nặng, cả bầu trời cũng trĩu nặng u ám! mấy ngày sau thì nghe Bác mất, đúng là “Trời tuôn nước mắt đời tuôn mưa” cả nước khóc chịu tang Bác!
Vào những ngày để tang Bác, ngày 10 tháng 9 năm 1969 thấy trong người hơi khoẻ, tôi với thằng em trai, xách balô lếch thếch ra bến xe Kim mã kiếm xe khách về Trung Hà, chờ mãi mấy tiếng đồng hồ vẫn chưa có xe, hai anh em vừa mệt, vừa khát, thấy có quầy bán kem đi qua mua mấy chiếc ăn, tính chắc phải về đành để mai vậy! tới 16h chợt có một chiếc xe ca vẫy khách đi Trung hà, thế là tôi nhảy lên xe, kêu thằng em về cho nhà hay. Xe chạy về tới bến Trung Hà thì trời cũng đã nhá nhem tối, xuống xe tôi vội ra bến phà cách đó khoảng một cây, ra tới nơi thì phà đã nghỉ từ lúc nào, đang tiu ngỉu không biết làm sao thì có chị gánh đồ đi xuống nói với tôi không có phà thì kêu đò, mừng quá, hai chị em chúng tôi í ới kêu, thế mà cũng gọi được đò. Sang bờ bên kia tôi trả tiền đò mất có 2 hào, tính đi luôn nhưng thấy chị đi cùng còn vướng lủng củng đồ, gánh, tôi nán lại gánh giúp chị tới tận quãng rẽ, chúng tôi mới chia tay, xốc lại ba lô, tôi đi tiếp dọc bờ đê sông về đơn vị. Lúc gần tới chỗ nhà thờ đổ, trời trăng lúc tỏ lúc mờ, thế quái nào tôi bước hụt vào cái hào cũ, ngã một cái đau điếng, bẩn lấm lem bê bết bùn, may không gẫy xương nào. Vào trường tôi đi báo cáo thầy phụ trách, rồi mới về lớp, bạn bè hỏi thăm mới biết lớp đã vào học được 3 hôm rồi.
Ngày 11/9/1969 trường mới tổ chức làm lễ khai giảng cho toàn trường, sau lễ khai giảng, chúng tôi được nhận mấy thếp giấy loại giá 5 hào 2 về tự khâu đóng vở, làm nhãn. Năm học lớp 9 này chương trình học có thay đổi, thay vì chấm điểm 5, nay chuyển sang hệ điểm 10. Kiến thức mới nhiều và cũng khá khó, mới vào học mà nhiều bạn trong lớp bị ăn trứng ngỗng to tướng sau mấy bài kiểm tra Lượng, Sinh, Địa, Văn (làm dàn bài về đề tài “di chúc của Bác Hồ”). Năm học này nhà trường tổ chức thành 3 học kỳ, ngó bộ cũng khá vất vả. Ăn uống loanh quanh sáng ngô, trưa, chiều: rau luộc, muối vừng, cá kho, hoặc thịt om chuối! chả thế nên có cậu mới sáng tác từ bài hát “Quả bom là quả bom rơi.. anh công binh túm lấy đầu” thành ra “ăn ngô …lại ị…ra ngô”
Hàng tháng nhà trường vẫn được phục vụ một tối phim cuối tuần, trong tháng 9 chiếu phim “Những phi công mặc áo ngủ” trong phim có đoạn những tù phi công Mỹ bị bắt tại miền Bắc Việt nam, hát bằng tiếng Anh bài hát tự chế:

“ …Ngồi trên chiếc F4H bay ra Bắc Việt,
nào ngờ đâu bị bắn cháy rơi xuống sông,
Chiếc xe trâu đưa tôi về nơi Hilton…
Nơi quê nhà đôi mắt ai vẫn ngóng mong chờ!”

Thế mà mấy bữa sau, rất lạ, học bài sao khó nhớ thế, mà bài hát hầu như đứa nào trong lớp cũng nghêu ngao thuộc!
Trong trường giai đoạn này rất nhiều người bị sốt cao, phải nghỉ học, nghi có dịch sốt xuất huyết đang lan rộng, ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt, học tập của học sinh trong trường. Tình hình kỉ luật trong trường lúc này cũng có vẻ xa sút hơn trước, ban chính trị nhà trường chỉ đạo cần củng cố vai trò đoàn viên trong học sinh, trong các chi đoàn cần tăng cường đấu tranh phê và tự phê, nhưng khi tiến hành có vẻ thiếu biện pháp cụ thể nên kết quả người chủ trì thì muốn nản, đoàn viên nhìn chung thụ động, ít phát biểu.
Hòm thư của đơn vị được thay đổi là: đội 22(9) xã Hưng hoá, Huyện Tam nông, Tỉnh Vĩnh phú.
Khoảng cuối tháng 10, đơn vị lại phải tổ chức tiền trạm để chuẩn bị đợt dã ngoại ra dân cùng ăn cùng ở cùng lao động với dân trong vòng một tuần để tăng cường mối đoàn kết quân với dân địa phương.
Trong mấy năm sống trong môi trường quân đội, thì giai đoạn cuối kỉ luật của lớp chúng tôi có vẻ không được tốt lắm. Ngay từ xưa người ta vẫn bảo: “ nhất quỉ, nhì ma, thứ ba học trò”, có lẽ cũng do đến tuổi dậy thì, tâm sinh lý thay đổi, thích chơi, thích tự do hơn nên có nhiều bạn cá biệt bắt đầu tỏ ra chểnh mảng học hành, không làm được bài thì đột nhập vào phòng thầy chữa bài tráo bài, lấy đồ của nhau, lấy đồ của thầy, lấy đồ ăn của nhà bếp (bột súp), trộm cả gà ngỗng nuôi, thậm chí còn quậy phá như làm chập điện gây mất điện toàn trường, v.v.. buộc nhà trường chỉ còn mỗi cách đưa tiếp một số đi lên Thạch Thất rèn luyện.
Thời tiết dạo đó trời bắt đầu lạnh, ở cái miền trung du bắc bộ mùa này và nhất là vào buổi tối thì khá rét, dù vẫn còn là trẻ con nhưng tối đến chúng tôi vẫn phải thực hiện phân công trực gác bảo vệ đơn vị như bộ đội, đã ôm súng lóc cóc đi tuần quanh doanh trại nhất là canh khu vực nhà bếp, mà 2 mắt cứ díu tịt lại, chỉ thèm ngủ ghê lắm, cho nên mới thỉnh thoảng có trận cãi nhau buổi sáng:“sao mày không gọi tao dậy” té ra có cu cậu đổi gác không dậy nổi, bỏ gác ngủ thẳng đến sáng luôn!
Trong tháng 11/ 1969 chúng tôi được phát quân trang bao gồm một bộ quân phục, một thắt lưng, một đôi giày, một áo lót, một mũ mềm, một mũ cứng, một đôi tất, một áo đông xuân, cộng với số đồ cũ cũng làm đầy nhóc một ba lô! lúc này không còn áo budong với quần xanh của lính không quân như xưa mà quân phục lính bộ binh hẳn hoi, tất nhiên là những bộ bé nhất của bộ đội. Với cơ số này tất nhiên nhiều đứa chúng tôi vẫn còn bị thiếu như chăn… do bị mất chẳng hạn, riêng tôi cũng không nhớ hồi đó tại sao tôi cũng không có chăn, để chống lạnh, tôi phải cặm cụi mất cả ngày chủ nhật lấy 2 cái trải giường khâu hì hụi lại thành tấm đắp, còn khi lạnh quá thì nằm chung với bạn khác!
Từ lớp 8 trở lên, lũ Trung văn chúng tôi phải chuyển từ những kí tự tượng hình sang học Nga văn, cái thứ ngôn ngữ Slavơ thật quá mới mẻ với chúng tôi, có lẽ khó nhất là ngữ pháp của tiếng Nga, nào là các cách của tính từ, danh từ, động từ chia chóng cả mặt…nên các kinh nghiệm của các lớp khác cho chúng tôi được áp dụng khá nhiều: như câu “cá thu tôm he...” đối với danh từ “Nag trên, pot dưới, Sờ (C) trước za sau” đối với giới từ… cả lũ học như vẹt!
Thời gian học kỳ II trôi qua cũng khá nhanh, mới đó đã phải kiểm tra học kỳ, có lẽ năm lớp 9 này sức khoẻ tệ nhất tôi bị ốm lia chia tính từ khi khai giảng đã ốm cả tuần, rồi mới bị ốm phải nghỉ học mấy ngày giữa tháng 12/1969 này nữa, tuy vậy vẫn may là có kết quả hai môn chính khá đẹp toán, văn 8 riêng sinh do bị ốm không kiểm tra.
Chuẩn bị cho lễ kỉ niệm 22/12 toàn trung đội đã ra kế hoạch tập văn nghệ để tham gia hội diễn với toàn trường từ mấy tuần trước đó. Trong lễ kỉ niệm ngày thành lập quân đội chúng tôi có nhiều tiết mục khá xôm đóng góp thành công vào buổi văn nghệ nhà trường, buổi chiều thì có liên hoan ăn tươi, tối đó có chiếu phim phục vụ toàn trường với bộ phim “Vĩ tuyến 17 - chiến tranh nhân dân” do nhà quay phim nổi tiếng người Hà lan quay.
Sau 22/12 chúng tôi bắt đầu thêm học kì III, một học kì khá đặc biệt, tình hình chung trong toàn trường có nhiều tiến bộ hơn, nội dung học một số môn có thay đổi về đại số là cách sử dụng thước tính, lý thì học về tính chất của các chất rắn, lỏng, khí. Nhà trường lại phát động tháng thi đua rèn luyện toàn diện chủ đề “Thanh niên thế hệ Hồ chí Minh” mỗi ngày đều có yêu cầu cho từng cao điểm về học tập, sinh hoạt rồi cả tổ chức hành quân ra trồng cây và lao động cấy lúa giúp dân tại thôn Đào xá.
Cho đến sau tết Canh tuất vào cuối tháng 2 năm 1970 chúng tôi đã bắt đầu bước vào chuẩn bị ôn tập, để thi học kỳ III vào đầu tháng 4 năm 1970.
Tháng 5 năm 1970 chúng tôi kết thúc năm học lớp 9, chia tay bạn bè, chia tay trường văn hoá quân đội sau 6 năm gắn bó rèn luyện với bao nỗi bịn rịn, lo lắng, với bao kỉ niệm tuổi trẻ niên thiếu trong quân ngũ không bao giờ quên, phía trước mỗi chúng tôi một cuộc sống mới, một cuộc chiến đấu mới đang chờ!

Nguồn: FB Nguyễn Anh







 


Thứ Năm, 15 tháng 1, 2015

Những năm tháng ở trường Văn hóa Quân đội (4. Hưng Hóa)








Hưng Hóa


đây đến tháng 8 năm 1968, chúng tôi được về nước. Sau khi được về nhà vài ngày với gia đình, chúng tôi lại tập trung lên trường ở địa điểm đầu bến phà Trung Hà (nay là Trường Sơ cấp Kỹ thuật Công binh). Rồi sau đó lại chuyển quân sang Hưng Hóa. Hôm chuyển quân, chúng tôi ngồi yên vị trên chiếc xe Hải Âu đậu sẵn ngoài sân, đầu xe hướng ra cổng. Chẳng biết bác tài đi đâu, bất ngờ chiếc xe từ từ trôi xuống dốc hướng về phía cổng. Gọi là cổng nhưng đó chỉ là hai cái cột to xây bằng gạch. Trong khi cả lũ hoảng sợ chưa biết xử lý ra sao thì một bạn đã lao lên chỗ lái xe, giật mạnh cần phanh tay. Xe khựng lại trong bàng hoàng của cả xe và sau khi hoàn hồn thì nhận ra bạn Trần Thành Công. Tôi và những bạn trên xe nể phục bạn từ đấy.

Trường chúng tôi thời gian này ở trong doanh trại của một trung đoàn Công binh đã đi phục vụ chiến đấu xa. Thẳng cổng vào phải đi qua một khoảng sân lớn như sân đá bóng, đến nhà của hiệu bộ, sau đó đến hai dãy nhà chúng tôi ở và lớp học. Cuối hai dãy nhà này là một nhà hai tầng để làm gì tôi quên mất rồi. Sau nhà này là dãy nhà ăn một tầng dài suốt chiều ngang doanh trại. Ở đầu nhà ăn có giếng nước rất mát và luôn có nhiều nước kể cả mùa khô. Chúng tôi thường kéo nhau vào đây tắm giặt kể cả khi giếng nước cạnh nhà có nước cũng như khi nó cạn kiệt. Khu vực ở và sinh hoạt của chúng tôi là hai dãy nhà hai tầng khang trang, cầu thang lên xuống ở hai đầu hồi. Chúng tôi ngủ trên gác hai, học dưới nhà. Gường là tấm phản và kê hai cái chân mễ hai đầu. Bàn ghế trong lớp học được kê bằng các thanh dầm cầu phao bằng gỗ thông vuông vắn dài hết chiều ngang lớp học, một thanh dầm làm bàn, một thanh dầm làm ghế.

Cuộc sống của chúng tôi ở đây là tương đối ổn định nhất từ khi thành lập trường. Chúng tôi được học thêm nhiều môn học đặc thù quân sự như một chiến sĩ thực thụ: tập sử dụng vũ khí, tập võ, … Lúc này, có thầy Hồng Tuyến dạy nhạc đã sáng tác bài hát Sinh ra trong khói lửa – sau này là “Trường ca”, rồi tập văn nghệ và biểu diễn ở sân trường trong các đợt kỷ niệm. Dạo này, tôi cũng tham gia hát hò ở nhóm tốp ca và hay được phân công đi bè. Chả thế mà một dịp, trong một buổi giao lưu bia bọt, bạn Đăng Sơn giới thiệu: Bạn này ngày xưa hay hát lắm! Lũ lính tráng cơ quan tôi ngạc nhiên vì những lần đi karaoke tôi toàn hát bằng… tay.

Ở Hưng Hóa, Trường còn có đội bóng đá. Thỉnh thoảng tổ chức thi đấu giao hữu với đơn vị hay cơ quan xung quanh. Có một trận đá bóng mà kết quả ra sao tôi không nhớ, chỉ nhớ là có đánh nhau. Cầu thủ của trường là Đức Dũng (sau này là cầu thủ của đội Công an Hà Nội) đá hay và võ cũng hay (kín, trọng tài không thấy). Cầu thủ đối phương tức quá đấm lại vừa thô vừa lộ nên bị khán giả phản ứng la ó và trọng tài cảnh cáo… Nói chung rất sôi động.

Chúng tôi đóng quân ở giữa thị trấn, ra ngoài cổng là phố huyện rồi. Được ra ngoài thế nào tôi cũng kiếm hàng quà chén vài quả chuối – chuối ở đây thì tuyệt rồi, và chén một hai quả trứng luộc tùy theo túi tiền. Còn đi chơi thì chẳng có chỗ nào hay. Phố xá lèo tèo vắng vẻ. Mỗi lần ra phố thế nào tôi cũng vào cửa hàng bách hóa, ngay sát hàng rào của trường. Xem hàng hóa thì ít mà ngắm cô bán hàng thì nhiều vì nghe bàn tán là thầy Núi dạy chúng tôi sắp cưới cô mậu dịch viên.

Hè năm 1969, cha tôi từ chiến trường ra Hà Nội họp, rồi sau đó ở lại cho đến sau ngày Bác Hồ mất. Tôi được đón về chơi với gia đình gần một tuần lễ nhưng sau khi lên trường vẫn muốn “chuồn” về. Thế là tôi lên “kế hoạch” tẩu thoát. Một ngày, tôi lẻn ra khỏi doanh trại từ sớm, đón chiếc xe đạp từ một người anh họ đang công tác gần đấy. Lên xe và đạp ngay về Hà Nội. Đến khoảng buổi trưa thì về đến nhà – lúc đó, cha tôi ở nhà khách số 7, Nguyễn Cảnh Chân. Quãng đường hơn 70 km chả làm tôi mệt, duy chỉ có hai mông ê ẩm mấy ngày sau. Tất nhiên là tôi nói dối trôi chảy là được nghỉ về thăm cha từ chiến trường ra – nghe rất có lý.











Nhưng sau hai ba ngày, tôi nhận thấy bất an, lo nhà trường cử người đi tìm thì lộ chân tướng là “trốn trại”. Tôi trở lại trường và chịu án kỷ luật cảnh cáo, tất nhiên là lại đạp xe thôi.

Sống tập thể kiểu gì thì cũng có chút va chạm. Nhẹ thì cãi nhau, nặng thì không chơi với nhau, thậm chí… đánh nhau. Mặc dù suốt những năm ở trường, tôi rất ngoan hiền, lớn lên ra công tác luôn tự kiểm điểm “e dè nể nang”, nhưng thực chất là rất mặc cảm, tự ty, hèn nhát. Thế mà dạo đó, cũng đánh nhau một trận. Lý do thì cũng vớ vẩn, trận đánh cũng chỉ diễn ra chừng vài chục giây, ở chỗ đông người nên được can ngăn kịp thời. Nhưng đến tận bây giờ mà chả quên được.

Một chuyện đáng nhớ nữa là năm học này tôi có làm đơn xin vào Đoàn. Đơn nộp rồi, Kim Hồ - Bí thư Đoàn, trả lại và hướng dẫn viết theo mẫu quy định. Được vào Đoàn rồi, nhưng dạo đó đi sinh hoạt cứ như các cụ hoạt động bí mật ngày xưa. Chả nhớ nội dung họp hành có âm mưu gì không nhưng luôn bị “khủng bố”, thường thì đang họp trong lớp, bên ngoài gạch đá ném uỳnh uỵch!

Kết thúc năm học vào hè năm 1970 cùng lúc giải tán Trường Văn hóa Quân đội. Năm đó tôi cũng học xong lớp 9 theo chương trình phổ thông 10 lớp. Cùng các bạn, tôi tiếp tục theo học nốt lớp 10 tại các trường cấp III ở Hà Nội. Rời khỏi trường, chia tay bạn bè và nhất là xa các thầy cô, cán bộ nhà trường mà cho đến tận bây giờ tôi vẫn giữ những tình cảm tốt đẹp nhất về những năm tháng của tuổi niên thiếu. Nhớ mãi những người thầy tận tâm như thầy Tiệp dạy Toán ở Đại Từ, thày Ninh làm Chủ nhiệm lớp tôi. Sau này, khi còn công tác tôi có gặp thày vài lần ở Nhà máy Z176 – Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng. Hoặc nhớ mãi thày Tô Ngọc Cừ dạy môn Lịch sử. Hồi ở Quế Lâm dẫn tôi và Tuấn Quảng đi chụp ảnh kỷ niệm mà cho đến nay tôi vẫn còn giữ được những tấm ảnh từ thời ấy.

Viết từ 2009, hoàn chỉnh 12/2014


Kỳ sau: Bước qua cổng Parabol






















Hưng Hóa


đây đến tháng 8 năm 1968, chúng tôi được về nước. Sau khi được về nhà vài ngày với gia đình, chúng tôi lại tập trung lên trường ở địa điểm đầu bến phà Trung Hà (nay là Trường Sơ cấp Kỹ thuật Công binh). Rồi sau đó lại chuyển quân sang Hưng Hóa. Hôm chuyển quân, chúng tôi ngồi yên vị trên chiếc xe Hải Âu đậu sẵn ngoài sân, đầu xe hướng ra cổng. Chẳng biết bác tài đi đâu, bất ngờ chiếc xe từ từ trôi xuống dốc hướng về phía cổng. Gọi là cổng nhưng đó chỉ là hai cái cột to xây bằng gạch. Trong khi cả lũ hoảng sợ chưa biết xử lý ra sao thì một bạn đã lao lên chỗ lái xe, giật mạnh cần phanh tay. Xe khựng lại trong bàng hoàng của cả xe và sau khi hoàn hồn thì nhận ra bạn Trần Thành Công. Tôi và những bạn trên xe nể phục bạn từ đấy.

Trường chúng tôi thời gian này ở trong doanh trại của một trung đoàn Công binh đã đi phục vụ chiến đấu xa. Thẳng cổng vào phải đi qua một khoảng sân lớn như sân đá bóng, đến nhà của hiệu bộ, sau đó đến hai dãy nhà chúng tôi ở và lớp học. Cuối hai dãy nhà này là một nhà hai tầng để làm gì tôi quên mất rồi. Sau nhà này là dãy nhà ăn một tầng dài suốt chiều ngang doanh trại. Ở đầu nhà ăn có giếng nước rất mát và luôn có nhiều nước kể cả mùa khô. Chúng tôi thường kéo nhau vào đây tắm giặt kể cả khi giếng nước cạnh nhà có nước cũng như khi nó cạn kiệt. Khu vực ở và sinh hoạt của chúng tôi là hai dãy nhà hai tầng khang trang, cầu thang lên xuống ở hai đầu hồi. Chúng tôi ngủ trên gác hai, học dưới nhà. Gường là tấm phản và kê hai cái chân mễ hai đầu. Bàn ghế trong lớp học được kê bằng các thanh dầm cầu phao bằng gỗ thông vuông vắn dài hết chiều ngang lớp học, một thanh dầm làm bàn, một thanh dầm làm ghế.

Cuộc sống của chúng tôi ở đây là tương đối ổn định nhất từ khi thành lập trường. Chúng tôi được học thêm nhiều môn học đặc thù quân sự như một chiến sĩ thực thụ: tập sử dụng vũ khí, tập võ, … Lúc này, có thầy Hồng Tuyến dạy nhạc đã sáng tác bài hát Sinh ra trong khói lửa – sau này là “Trường ca”, rồi tập văn nghệ và biểu diễn ở sân trường trong các đợt kỷ niệm. Dạo này, tôi cũng tham gia hát hò ở nhóm tốp ca và hay được phân công đi bè. Chả thế mà một dịp, trong một buổi giao lưu bia bọt, bạn Đăng Sơn giới thiệu: Bạn này ngày xưa hay hát lắm! Lũ lính tráng cơ quan tôi ngạc nhiên vì những lần đi karaoke tôi toàn hát bằng… tay.

Ở Hưng Hóa, Trường còn có đội bóng đá. Thỉnh thoảng tổ chức thi đấu giao hữu với đơn vị hay cơ quan xung quanh. Có một trận đá bóng mà kết quả ra sao tôi không nhớ, chỉ nhớ là có đánh nhau. Cầu thủ của trường là Đức Dũng (sau này là cầu thủ của đội Công an Hà Nội) đá hay và võ cũng hay (kín, trọng tài không thấy). Cầu thủ đối phương tức quá đấm lại vừa thô vừa lộ nên bị khán giả phản ứng la ó và trọng tài cảnh cáo… Nói chung rất sôi động.

Chúng tôi đóng quân ở giữa thị trấn, ra ngoài cổng là phố huyện rồi. Được ra ngoài thế nào tôi cũng kiếm hàng quà chén vài quả chuối – chuối ở đây thì tuyệt rồi, và chén một hai quả trứng luộc tùy theo túi tiền. Còn đi chơi thì chẳng có chỗ nào hay. Phố xá lèo tèo vắng vẻ. Mỗi lần ra phố thế nào tôi cũng vào cửa hàng bách hóa, ngay sát hàng rào của trường. Xem hàng hóa thì ít mà ngắm cô bán hàng thì nhiều vì nghe bàn tán là thầy Núi dạy chúng tôi sắp cưới cô mậu dịch viên.

Hè năm 1969, cha tôi từ chiến trường ra Hà Nội họp, rồi sau đó ở lại cho đến sau ngày Bác Hồ mất. Tôi được đón về chơi với gia đình gần một tuần lễ nhưng sau khi lên trường vẫn muốn “chuồn” về. Thế là tôi lên “kế hoạch” tẩu thoát. Một ngày, tôi lẻn ra khỏi doanh trại từ sớm, đón chiếc xe đạp từ một người anh họ đang công tác gần đấy. Lên xe và đạp ngay về Hà Nội. Đến khoảng buổi trưa thì về đến nhà – lúc đó, cha tôi ở nhà khách số 7, Nguyễn Cảnh Chân. Quãng đường hơn 70 km chả làm tôi mệt, duy chỉ có hai mông ê ẩm mấy ngày sau. Tất nhiên là tôi nói dối trôi chảy là được nghỉ về thăm cha từ chiến trường ra – nghe rất có lý.











Nhưng sau hai ba ngày, tôi nhận thấy bất an, lo nhà trường cử người đi tìm thì lộ chân tướng là “trốn trại”. Tôi trở lại trường và chịu án kỷ luật cảnh cáo, tất nhiên là lại đạp xe thôi.

Sống tập thể kiểu gì thì cũng có chút va chạm. Nhẹ thì cãi nhau, nặng thì không chơi với nhau, thậm chí… đánh nhau. Mặc dù suốt những năm ở trường, tôi rất ngoan hiền, lớn lên ra công tác luôn tự kiểm điểm “e dè nể nang”, nhưng thực chất là rất mặc cảm, tự ty, hèn nhát. Thế mà dạo đó, cũng đánh nhau một trận. Lý do thì cũng vớ vẩn, trận đánh cũng chỉ diễn ra chừng vài chục giây, ở chỗ đông người nên được can ngăn kịp thời. Nhưng đến tận bây giờ mà chả quên được.

Một chuyện đáng nhớ nữa là năm học này tôi có làm đơn xin vào Đoàn. Đơn nộp rồi, Kim Hồ - Bí thư Đoàn, trả lại và hướng dẫn viết theo mẫu quy định. Được vào Đoàn rồi, nhưng dạo đó đi sinh hoạt cứ như các cụ hoạt động bí mật ngày xưa. Chả nhớ nội dung họp hành có âm mưu gì không nhưng luôn bị “khủng bố”, thường thì đang họp trong lớp, bên ngoài gạch đá ném uỳnh uỵch!

Kết thúc năm học vào hè năm 1970 cùng lúc giải tán Trường Văn hóa Quân đội. Năm đó tôi cũng học xong lớp 9 theo chương trình phổ thông 10 lớp. Cùng các bạn, tôi tiếp tục theo học nốt lớp 10 tại các trường cấp III ở Hà Nội. Rời khỏi trường, chia tay bạn bè và nhất là xa các thầy cô, cán bộ nhà trường mà cho đến tận bây giờ tôi vẫn giữ những tình cảm tốt đẹp nhất về những năm tháng của tuổi niên thiếu. Nhớ mãi những người thầy tận tâm như thầy Tiệp dạy Toán ở Đại Từ, thày Ninh làm Chủ nhiệm lớp tôi. Sau này, khi còn công tác tôi có gặp thày vài lần ở Nhà máy Z176 – Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng. Hoặc nhớ mãi thày Tô Ngọc Cừ dạy môn Lịch sử. Hồi ở Quế Lâm dẫn tôi và Tuấn Quảng đi chụp ảnh kỷ niệm mà cho đến nay tôi vẫn còn giữ được những tấm ảnh từ thời ấy.

Viết từ 2009, hoàn chỉnh 12/2014


Kỳ sau: Bước qua cổng Parabol















Thứ Năm, 23 tháng 10, 2014

Bánh mỳ và tội đồ - Nguyễn Văn Nam







Bánh mỳ và tội đồ

(Chuyện thật 100%)

Nhân gian vẫn thường nói: "Tuổi 17 bẻ gẫy sừng trâu". Những năm ở Hưng Hóa (1969-1970) K6 bọn tôi toàn những thằng đang ở độ tuổi như vậy. Khóa 5 đổ về trước thì hơi già một chút, còn k7 đổ xuống thì lại hơi non một tẹo. Ở cái độ tuổi - ăn không bao giờ thấy no (dù chỉ cơm với nước mắm + tí nước mỡ), chơi không bao giờ biết chán, còn học thì ngán đến tận cổ. Còn nhớ lắm! Cái thời mà như thằng Hà mèo

Hà Chí Thành


Hà mèo
0903 800 763
hameok6@hotmail.com, thanh.hachi@yahoo.com.vn
SG

1968

2012

nói: "...bỏ mâm 6, chuyển sang mâm 4 - mừng hết lớn", hay thời "cục bột qua đi, bánh mì đã đến"...

Năm 1969 - lúc đầu tiêu chuẩn gạo cho mỗi học sinh là 17-18 kg/tháng mà lúc nào cũng thấy đói. Sau đó được tăng lên 19kg rồi 21kg (ngang tiêu chuẩn bộ binh) - vẫn đói! Và như vậy, nhu cầu thỏa mãn cái bao tử là rất cấp bách, nó như "sợi chỉ đỏ" xuyên suốt và chi phối mọi họat động.

Còn nhớ: hồi đó, cứ giờ giải lao tiết gần cuối (giờ mà các chị nuôi chuẩn bị cạo cháy ở chảo) tôi và một thằng bạn (xin dấu tên) như những cỗ máy đã được lập trình bay thẳng xuống bếp. Từ xa, hễ cứ nghe thấy tiếng cạo chảo roẹt... roẹt... là bụng đã đánh loto khấp khởi.
- Có cháy chưa chị ơi?!...
- Cháy ngon thế! Chị cho bọn em miếng cháy đi chị! Chưa có cháy già thì cháy non cũng được... Năn nỉ một lúc thế nào cũng có cái xơi.
Hồi đó - cơm nấu bằng cái chảo gang to nên cháy vàng và dầy bằng nửa đốt ngón tay, trông hấp dẫn lắm!. Hôm nào được miếng cỡ "hai bàn tay" thì sướng rơn, vừa đi vừa ăn để còn kịp đem về chia cho mấy thằng trong lớp. Ngày nào "Móm" thì lủi về cho lẹ để còn "ngắc ngoải" tiết cuối.

Tôi và hắn thân nhau vì cùng đá trong đội bóng của lớp (8d-9d). Tôi đá hậu vệ cánh phải, hắn tiền vệ phải, còn bọn Chỉnh thọt

Phạm Ngọc Chỉnh


Chỉnh thọt
0912 213 348 Viber
HN

1970

9/6/2012

, Hoàn bệu

Vũ Quốc Hoàn


Hoàn bệu
0913 249 062
vqhoan@most.gov.vn, titnga@yahoo.com
HN

1971

9/6/2012

, Tuấn hăm

Trần Anh Tuấn


Tuấn hăm


1965

, Võ Trọng

Võ Nguyên Trọng


Trọng

Liệt sỹ

(lớp trưởng) và mấy thằng khác đá tuyến trên. Thủ môn là Minh Nghĩa

Đinh Văn Nghĩa


Đinh Nghĩa
0912 391 034
HN

9/6/2012

Thắng Tô nói... "Thủ môn là Minh Nghĩa (k5 xuống )" tên đầy đủ là gì, kô thấy trong DS K6.
23 Tháng 10 lúc 18:10
Minh Nguyen nói... Chắc van nam nhầm. Minh nghĩa chỉ kéo accord thôi. Chắc là Đinh Nghĩa thì mới từ k5 chuyển hệ xuống k6.
23 Tháng 10 lúc 18:15
Van Nam Nguyen nói... Đúng là tớ nhớ lộn - l Đinh NGHĨA K5 xuống .
23 Tháng 10 lúc 18:37
Van Nam Nguyen nói... Cám ơn Tô Thắng ! bạn và A .Minh phát hiện đúng rồi - đó là Đinh Nghĩa . K5 xuôngs
23 Tháng 10 lúc 18:47
(k5 xuống). Hắn được cái hào phóng. Lâu lâu có tí "quà cứu trợ" nhà gửi lên hắn lại gọi tôi và Hòa còm

Nguyễn Văn Hòa


Hòa còm
0913 219 342, hoa_hang_an@yahoo.com
HN

1970

9/6/2012

ra "hú hí". Hòa còm

Nguyễn Văn Hòa


Hòa còm
0913 219 342, hoa_hang_an@yahoo.com
HN

1970

9/6/2012

mới lên nhưng nhập cuộc rất nhanh (vì gần đèn dầu nên dễ bám muội).

Có một hôm, sau bữa cơm chiều - trời tối rất nhanh. Cơm xong mà bụng vẫn cồn cào thèm ăn. Tôi và hắn bàn nhau tìm cái gì đó bỏ thêm vào bụng cho chắc. Lúc đó có được dăm bảy hào thì khỏi nói, vì chúng tôi vẫn thường tự cứu đói bằng chuối và trứng ở mấy quán ven sông, còn hôm đó thì "chào thua" ... THÔI! túng thì tính. Hai thằng bàn nhau: ... xuống bếp, ở đó thế nào cũng có mầu - "dầu thủ kho, no nhà bếp". Được! Quyết!. Tôi và hắn cùng một thằng nữa (quên) nhanh chóng triển khai theo kế hoạch đã duyệt.




Lượn một vòng quanh bếp, không có ai và cũng chẳng thấy còn gì "rơi vãi" sau bữa cơm chiều. Lượn vòng thứ hai - tình hình vẫn như cũ. Tất cả đều lạnh tanh, chỉ còn duy nhất cái lò ủ bánh mỳ là có hơi ấm. Cửa lò ủ bánh mỳ sáng cho toàn trường được khóa chặt bằng một ổ khóa cỡ bao thuốc lá. Hắn cầm ổ khóa thử giật giật, tôi ngăn lại: - kêu to lắm, lộ mất!. Rất nhanh, tôi đảo mắt nhìn quanh phía dưới chân - cây chọc lò bằng sắt cỡ fi 18 một đầu đã mòn nhọn hoắt nằm ngay đống than xỉ. Theo bản năng tự nhiên, tôi cúi xuống cầm lấy cây sắt, thọc vào ngoàm ổ khóa, vặn mạnh. Đang ở tuổi "bẻ gẫy sừng trâu" thì cái ổ khóa đâu có nhằm nhè gì! Chỉ hơn nửa vòng xoay - Một tiếng "cắc" khô khan! ổ khóa bung ra. Mùi bánh mì thơm phức!!!. Rất nhanh, ba thằng quơ vội nhét đầy vào trong áo trước bụng. Đóng cửa lò, bay qua tường, nhahh chóng thoat ly khỏi hiện trường. Bánh mỳ đang còn nóng nên lâu lâu phải cong người xuống, thóp bụng lại cho đỡ bỏng. Ba thằng ung dung thả bộ dọc con đường thân yêu của thị trấn, vừa tán gẫu, vừa nhâm nhi thành quả của cuộc đột nhập... Đêm hôm đó, tôi ngủ rất ngon vì đang độ tuổi ăn, tuổi ngủ và được ngủ với cái bụng không đói... Nhưng lúc đó - Ở độ tuổi 17 - tôi chưa đủ chín để nghĩ được rằng: Sáng ngày mai đây, sẽ có bao nhiêu thầy cô, anh chị cấp dưỡng - nuôi quân phải nhịn bữa sáng cho học sinh thân yêu của mình?!... Và cũng từ lúc đó, nỗi ám ảnh mình là "kẻ tội đồ" cứ âm ỷ lớn dần trong tôi theo năm tháng. Cuối 1971, tôi nhập ngũ. Thời gian huấn luyện bộ binh ở Hòa Bình, ăn sáng: ngô bung + muối mỏ (hạt muối to như hạt ngô) - mỗi thằng một bát B52. Cơm trưa, chiều - mâm 4: chủ yếu là đậu phụ, rau, thịt thì vừa đủ mỗi thằng một miếng (họa hoằn lắm mới được hơn vài miếng). Khi "nhập tiệc" tôi luôn tự nhủ: "không được gắp trước, không được gắp miếng to". Có lẽ "Cái bánh mỳ" nó nhắc tôi: Sống là phải biết tôn trọng và chia xẻ, đừng hành động thiếu suy nghĩ, đừng hành xử theo kiễu "bản năng gốc". Và cũng từ đó về sau, xuyên suốt 35 năm quân ngũ cho đến ngày nghỉ hưu, tôi đã cố gắng sống theo tiêu chí "Không được tham - không được lấy những gì không phải của mình". Và giờ đây, ở độ tuổi "ông-bà" tôi thật sự thanh thản khi được "giải mật" - chia sẻ cùng các "bạn Trỗi" những gì tôi đã dấu kín suốt 43 năm qua. Theo như thằng Hà mèo

Hà Chí Thành


Hà mèo
0903 800 763
hameok6@hotmail.com, thanh.hachi@yahoo.com.vn
SG

1968

2012

k6: "Người ta thì tốt khoe, xấu che, còn mấy ông TR nhà mình thì toàn hay làm ngược, chẳng sợ đếch gì".
Tôi thấy hắn có lý. Khi được thổ lộ, xẻ chia, tôi thấy mình không bị xấu đi, khong bị coi thường. Ngược lại - tôi thấy lòng rất nhẹ nhõm và có cảm giác hình như mình đang sống tốt hơn.

Mọi người vẫn hay hát "... tình yêu đâu chỉ có hoa thơm và nắng hồng, ... cuộc đời còn có cả những nụ hôn...". Đúng vậy! cuộc đời không chỉ cần có hoa hồng mà nó còn cần có cả "BÁNH MỲ "!.

(ảnh có tính minh họa) 18.10.2014.
Sơn Kều nói...
Một tài năng trên bầu trời đất Việt sao không phát lộ sớm hơn tôi có một đống kỷ niệm đấy nhưng không viết được hay Sơn kể Nam viết nhé
19 Tháng 10 lúc 7:00 ·
Khánh Nguyễn nói... Một chút Văn Thơ của Nam cùi đang được khai quật phát lộ dần dần
19 Tháng 10 lúc 7:02
Minh Nguyen nói... Truyện hay quá, cứ như viết về ai đó. Nhưng mà bantroi thì 100/100 đều đã từng tham gia kiếm ăn thêm như thế. Ko nhưng kiếm ăn mà còn kiếm mặc. Nhiều thằng lười, quần áo bẩn thay ra vứt ra sau nhà, rình trôm quần áo sạch của những thằng chăm chỉ giặt đang phơi. Nên đang tuổi ăn, tuổi ngủ mà buổi trưa ko dám ngủ để canh cái quần mình mới giặt phơi ngoài sân. Chỉ quay sang tán gẫu với thằng bạn ngồi cạnh vài câu, quay lại đã thấy dây phơi trống ko (thế mới biết sau này nhập ngũ bantroi hay được chọn vào đặc công, trinh sát) phải ngậm ngùi kiếm cái quần bẩn thằng khác vứt đi giặt lại để mặc. Cứ quay vòng thế thằng nào cũng bị mất quần. Chắc NVN còn nhớ có lần k6 cảnh giác canh quần rất kỹ, tôi với bạn phải sang trộm quần của k5, về nhà 2 thằng nhường nhau quần sạch. Hòa còm mới nhập trường ngồi giường bên cạnh cứ mắt tròn, mắt dẹt ko hiểu gì. Cám ơn nhà văn trẻ u70 về những kỷ niệm thời nhất quỷ, nhì ma...
19 Tháng 10 lúc 8:17
Van Nam Nguyen nói... Có sao viết vậy mà MINH, Còn chuyện về mấy cái quần như cậu nói tớ nhơ ko được chính xác lắm là khi chia tay tớ đã bàn giao lại cho cậu . Sau đó tớ vào không quân và đích thưc trở thành linh " không quần " .
19 Tháng 10 lúc 8:21
Duy Đảo nói... Vừa vét hết cơm chị nuôi đã đổ ào sô nước vào chảo. Cái này là của lợn các chú nhé..
19 Tháng 10 lúc 8:34
Duy Đảo nói... Nói chung mặt thằng TR nào trông cũng "vô hại" nhưng coi chừng. Như AM theo tôi thuộc loại đạo đức nhất khóa mà còn thì... Chuyện rất hay Cùi ơi.
19 Tháng 10 lúc 8:37
Van Nam Nguyen nói... Thằng A.M trông vậy thôi chứ ko phải zậy đâu . Một tay cự phách đấy " tội lỗi đầy mình " vậy mà vẫn chưa chịu sám hối - lỳ đòn lắm !
19 Tháng 10 lúc 8:42
Minh Nguyen nói... Phật cũng phải ăn. Bán cả trời thì sao đắc đạo được.
19 Tháng 10 lúc 9:42
Minh Nguyen nói... NVN chắc hưu rồi nên hơi lẫn. Nếu bạn có tặng mình quần thì cũng là cái khác. Có thằng nào sở hữu quần quá 1 lần giặt. Mình nhớ hồi đó cứ 1-2 tháng các thầy cho kiểm kê tư trang cá nhân, thế mà chẳng ai giữ được quần.
19 Tháng 10 lúc 9:46
Son Luu Minh nói... Đá bóng về muộn,mùa đông trời tối sớm. Đói ăn nhanh,hết thức ăn, cơm còn nhiều.Vào bếp ăn cắp được nồi canh không rau. Cả hội chan ăn sì sụp,đến khi hết canh,dưới đáy nồi còn lại cái giẻ lau bàn của chị nuôi. Vẫn tỉnh bơ.Chuyện Hưng Hóa 1969, bây giờ mới kể.
19 Tháng 10 lúc 10:23
Nguyễn Anh nói... Một tên lộ diện trong nhóm húp nước giẻ lau bàn, truyện này mình đã kể trong Sinh ra trong khói lửa, trong những chuyện không quên, LMS à. Truyện Nam kể bà xã đọc cứ cười hoài, cám ơn Nam.
19 Tháng 10 lúc 10:39
Van Nam Nguyen nói... Hồi xưa kể chuyên tiếu lâm ở đơn vị còn có thằng cười , giờ ở nhà kể chuyện tếu mấy đứa nhỏ cứ giương mắt ếch , đứa cháu ngoại 2 tuổi thì khoc ré , còn bà nó thì sụt sùi bảo : "chuyện của anh cảm động lắm!".
19 Tháng 10 lúc 10:45
Nhat Trung Pham nói... Chuyện hay lắm ! Nếu đồng ý có thể đưa vào SRTKL tập 4.
19 Tháng 10 lúc 11:38
Van Nam Nguyen nói... Cám ơn anh Nhất Trung . Em tán thành ý kiến của pác
19 Tháng 10 lúc 11:43


 ❧ ❀ ❧ 

Nguồn: FB Van Nam Nguyen
Xem thêm: Đi “kiếm” bánh bao - Phúc lồi kể, Hà mèo ghi, 07/12/2013, Blog K6.
 










Bánh mỳ và tội đồ

(Chuyện thật 100%)

Nhân gian vẫn thường nói: "Tuổi 17 bẻ gẫy sừng trâu". Những năm ở Hưng Hóa (1969-1970) K6 bọn tôi toàn những thằng đang ở độ tuổi như vậy. Khóa 5 đổ về trước thì hơi già một chút, còn k7 đổ xuống thì lại hơi non một tẹo. Ở cái độ tuổi - ăn không bao giờ thấy no (dù chỉ cơm với nước mắm + tí nước mỡ), chơi không bao giờ biết chán, còn học thì ngán đến tận cổ. Còn nhớ lắm! Cái thời mà như thằng Hà mèo

Hà Chí Thành


Hà mèo
0903 800 763
hameok6@hotmail.com, thanh.hachi@yahoo.com.vn
SG

1968

2012

nói: "...bỏ mâm 6, chuyển sang mâm 4 - mừng hết lớn", hay thời "cục bột qua đi, bánh mì đã đến"...

Năm 1969 - lúc đầu tiêu chuẩn gạo cho mỗi học sinh là 17-18 kg/tháng mà lúc nào cũng thấy đói. Sau đó được tăng lên 19kg rồi 21kg (ngang tiêu chuẩn bộ binh) - vẫn đói! Và như vậy, nhu cầu thỏa mãn cái bao tử là rất cấp bách, nó như "sợi chỉ đỏ" xuyên suốt và chi phối mọi họat động.

Còn nhớ: hồi đó, cứ giờ giải lao tiết gần cuối (giờ mà các chị nuôi chuẩn bị cạo cháy ở chảo) tôi và một thằng bạn (xin dấu tên) như những cỗ máy đã được lập trình bay thẳng xuống bếp. Từ xa, hễ cứ nghe thấy tiếng cạo chảo roẹt... roẹt... là bụng đã đánh loto khấp khởi.
- Có cháy chưa chị ơi?!...
- Cháy ngon thế! Chị cho bọn em miếng cháy đi chị! Chưa có cháy già thì cháy non cũng được... Năn nỉ một lúc thế nào cũng có cái xơi.
Hồi đó - cơm nấu bằng cái chảo gang to nên cháy vàng và dầy bằng nửa đốt ngón tay, trông hấp dẫn lắm!. Hôm nào được miếng cỡ "hai bàn tay" thì sướng rơn, vừa đi vừa ăn để còn kịp đem về chia cho mấy thằng trong lớp. Ngày nào "Móm" thì lủi về cho lẹ để còn "ngắc ngoải" tiết cuối.

Tôi và hắn thân nhau vì cùng đá trong đội bóng của lớp (8d-9d). Tôi đá hậu vệ cánh phải, hắn tiền vệ phải, còn bọn Chỉnh thọt

Phạm Ngọc Chỉnh


Chỉnh thọt
0912 213 348 Viber
HN

1970

9/6/2012

, Hoàn bệu

Vũ Quốc Hoàn


Hoàn bệu
0913 249 062
vqhoan@most.gov.vn, titnga@yahoo.com
HN

1971

9/6/2012

, Tuấn hăm

Trần Anh Tuấn


Tuấn hăm


1965

, Võ Trọng

Võ Nguyên Trọng


Trọng

Liệt sỹ

(lớp trưởng) và mấy thằng khác đá tuyến trên. Thủ môn là Minh Nghĩa

Đinh Văn Nghĩa


Đinh Nghĩa
0912 391 034
HN

9/6/2012

Thắng Tô nói... "Thủ môn là Minh Nghĩa (k5 xuống )" tên đầy đủ là gì, kô thấy trong DS K6.
23 Tháng 10 lúc 18:10
Minh Nguyen nói... Chắc van nam nhầm. Minh nghĩa chỉ kéo accord thôi. Chắc là Đinh Nghĩa thì mới từ k5 chuyển hệ xuống k6.
23 Tháng 10 lúc 18:15
Van Nam Nguyen nói... Đúng là tớ nhớ lộn - l Đinh NGHĨA K5 xuống .
23 Tháng 10 lúc 18:37
Van Nam Nguyen nói... Cám ơn Tô Thắng ! bạn và A .Minh phát hiện đúng rồi - đó là Đinh Nghĩa . K5 xuôngs
23 Tháng 10 lúc 18:47
(k5 xuống). Hắn được cái hào phóng. Lâu lâu có tí "quà cứu trợ" nhà gửi lên hắn lại gọi tôi và Hòa còm

Nguyễn Văn Hòa


Hòa còm
0913 219 342, hoa_hang_an@yahoo.com
HN

1970

9/6/2012

ra "hú hí". Hòa còm

Nguyễn Văn Hòa


Hòa còm
0913 219 342, hoa_hang_an@yahoo.com
HN

1970

9/6/2012

mới lên nhưng nhập cuộc rất nhanh (vì gần đèn dầu nên dễ bám muội).

Có một hôm, sau bữa cơm chiều - trời tối rất nhanh. Cơm xong mà bụng vẫn cồn cào thèm ăn. Tôi và hắn bàn nhau tìm cái gì đó bỏ thêm vào bụng cho chắc. Lúc đó có được dăm bảy hào thì khỏi nói, vì chúng tôi vẫn thường tự cứu đói bằng chuối và trứng ở mấy quán ven sông, còn hôm đó thì "chào thua" ... THÔI! túng thì tính. Hai thằng bàn nhau: ... xuống bếp, ở đó thế nào cũng có mầu - "dầu thủ kho, no nhà bếp". Được! Quyết!. Tôi và hắn cùng một thằng nữa (quên) nhanh chóng triển khai theo kế hoạch đã duyệt.




Lượn một vòng quanh bếp, không có ai và cũng chẳng thấy còn gì "rơi vãi" sau bữa cơm chiều. Lượn vòng thứ hai - tình hình vẫn như cũ. Tất cả đều lạnh tanh, chỉ còn duy nhất cái lò ủ bánh mỳ là có hơi ấm. Cửa lò ủ bánh mỳ sáng cho toàn trường được khóa chặt bằng một ổ khóa cỡ bao thuốc lá. Hắn cầm ổ khóa thử giật giật, tôi ngăn lại: - kêu to lắm, lộ mất!. Rất nhanh, tôi đảo mắt nhìn quanh phía dưới chân - cây chọc lò bằng sắt cỡ fi 18 một đầu đã mòn nhọn hoắt nằm ngay đống than xỉ. Theo bản năng tự nhiên, tôi cúi xuống cầm lấy cây sắt, thọc vào ngoàm ổ khóa, vặn mạnh. Đang ở tuổi "bẻ gẫy sừng trâu" thì cái ổ khóa đâu có nhằm nhè gì! Chỉ hơn nửa vòng xoay - Một tiếng "cắc" khô khan! ổ khóa bung ra. Mùi bánh mì thơm phức!!!. Rất nhanh, ba thằng quơ vội nhét đầy vào trong áo trước bụng. Đóng cửa lò, bay qua tường, nhahh chóng thoat ly khỏi hiện trường. Bánh mỳ đang còn nóng nên lâu lâu phải cong người xuống, thóp bụng lại cho đỡ bỏng. Ba thằng ung dung thả bộ dọc con đường thân yêu của thị trấn, vừa tán gẫu, vừa nhâm nhi thành quả của cuộc đột nhập... Đêm hôm đó, tôi ngủ rất ngon vì đang độ tuổi ăn, tuổi ngủ và được ngủ với cái bụng không đói... Nhưng lúc đó - Ở độ tuổi 17 - tôi chưa đủ chín để nghĩ được rằng: Sáng ngày mai đây, sẽ có bao nhiêu thầy cô, anh chị cấp dưỡng - nuôi quân phải nhịn bữa sáng cho học sinh thân yêu của mình?!... Và cũng từ lúc đó, nỗi ám ảnh mình là "kẻ tội đồ" cứ âm ỷ lớn dần trong tôi theo năm tháng. Cuối 1971, tôi nhập ngũ. Thời gian huấn luyện bộ binh ở Hòa Bình, ăn sáng: ngô bung + muối mỏ (hạt muối to như hạt ngô) - mỗi thằng một bát B52. Cơm trưa, chiều - mâm 4: chủ yếu là đậu phụ, rau, thịt thì vừa đủ mỗi thằng một miếng (họa hoằn lắm mới được hơn vài miếng). Khi "nhập tiệc" tôi luôn tự nhủ: "không được gắp trước, không được gắp miếng to". Có lẽ "Cái bánh mỳ" nó nhắc tôi: Sống là phải biết tôn trọng và chia xẻ, đừng hành động thiếu suy nghĩ, đừng hành xử theo kiễu "bản năng gốc". Và cũng từ đó về sau, xuyên suốt 35 năm quân ngũ cho đến ngày nghỉ hưu, tôi đã cố gắng sống theo tiêu chí "Không được tham - không được lấy những gì không phải của mình". Và giờ đây, ở độ tuổi "ông-bà" tôi thật sự thanh thản khi được "giải mật" - chia sẻ cùng các "bạn Trỗi" những gì tôi đã dấu kín suốt 43 năm qua. Theo như thằng Hà mèo

Hà Chí Thành


Hà mèo
0903 800 763
hameok6@hotmail.com, thanh.hachi@yahoo.com.vn
SG

1968

2012

k6: "Người ta thì tốt khoe, xấu che, còn mấy ông TR nhà mình thì toàn hay làm ngược, chẳng sợ đếch gì".
Tôi thấy hắn có lý. Khi được thổ lộ, xẻ chia, tôi thấy mình không bị xấu đi, khong bị coi thường. Ngược lại - tôi thấy lòng rất nhẹ nhõm và có cảm giác hình như mình đang sống tốt hơn.

Mọi người vẫn hay hát "... tình yêu đâu chỉ có hoa thơm và nắng hồng, ... cuộc đời còn có cả những nụ hôn...". Đúng vậy! cuộc đời không chỉ cần có hoa hồng mà nó còn cần có cả "BÁNH MỲ "!.

(ảnh có tính minh họa) 18.10.2014.
Sơn Kều nói...
Một tài năng trên bầu trời đất Việt sao không phát lộ sớm hơn tôi có một đống kỷ niệm đấy nhưng không viết được hay Sơn kể Nam viết nhé
19 Tháng 10 lúc 7:00 ·
Khánh Nguyễn nói... Một chút Văn Thơ của Nam cùi đang được khai quật phát lộ dần dần
19 Tháng 10 lúc 7:02
Minh Nguyen nói... Truyện hay quá, cứ như viết về ai đó. Nhưng mà bantroi thì 100/100 đều đã từng tham gia kiếm ăn thêm như thế. Ko nhưng kiếm ăn mà còn kiếm mặc. Nhiều thằng lười, quần áo bẩn thay ra vứt ra sau nhà, rình trôm quần áo sạch của những thằng chăm chỉ giặt đang phơi. Nên đang tuổi ăn, tuổi ngủ mà buổi trưa ko dám ngủ để canh cái quần mình mới giặt phơi ngoài sân. Chỉ quay sang tán gẫu với thằng bạn ngồi cạnh vài câu, quay lại đã thấy dây phơi trống ko (thế mới biết sau này nhập ngũ bantroi hay được chọn vào đặc công, trinh sát) phải ngậm ngùi kiếm cái quần bẩn thằng khác vứt đi giặt lại để mặc. Cứ quay vòng thế thằng nào cũng bị mất quần. Chắc NVN còn nhớ có lần k6 cảnh giác canh quần rất kỹ, tôi với bạn phải sang trộm quần của k5, về nhà 2 thằng nhường nhau quần sạch. Hòa còm mới nhập trường ngồi giường bên cạnh cứ mắt tròn, mắt dẹt ko hiểu gì. Cám ơn nhà văn trẻ u70 về những kỷ niệm thời nhất quỷ, nhì ma...
19 Tháng 10 lúc 8:17
Van Nam Nguyen nói... Có sao viết vậy mà MINH, Còn chuyện về mấy cái quần như cậu nói tớ nhơ ko được chính xác lắm là khi chia tay tớ đã bàn giao lại cho cậu . Sau đó tớ vào không quân và đích thưc trở thành linh " không quần " .
19 Tháng 10 lúc 8:21
Duy Đảo nói... Vừa vét hết cơm chị nuôi đã đổ ào sô nước vào chảo. Cái này là của lợn các chú nhé..
19 Tháng 10 lúc 8:34
Duy Đảo nói... Nói chung mặt thằng TR nào trông cũng "vô hại" nhưng coi chừng. Như AM theo tôi thuộc loại đạo đức nhất khóa mà còn thì... Chuyện rất hay Cùi ơi.
19 Tháng 10 lúc 8:37
Van Nam Nguyen nói... Thằng A.M trông vậy thôi chứ ko phải zậy đâu . Một tay cự phách đấy " tội lỗi đầy mình " vậy mà vẫn chưa chịu sám hối - lỳ đòn lắm !
19 Tháng 10 lúc 8:42
Minh Nguyen nói... Phật cũng phải ăn. Bán cả trời thì sao đắc đạo được.
19 Tháng 10 lúc 9:42
Minh Nguyen nói... NVN chắc hưu rồi nên hơi lẫn. Nếu bạn có tặng mình quần thì cũng là cái khác. Có thằng nào sở hữu quần quá 1 lần giặt. Mình nhớ hồi đó cứ 1-2 tháng các thầy cho kiểm kê tư trang cá nhân, thế mà chẳng ai giữ được quần.
19 Tháng 10 lúc 9:46
Son Luu Minh nói... Đá bóng về muộn,mùa đông trời tối sớm. Đói ăn nhanh,hết thức ăn, cơm còn nhiều.Vào bếp ăn cắp được nồi canh không rau. Cả hội chan ăn sì sụp,đến khi hết canh,dưới đáy nồi còn lại cái giẻ lau bàn của chị nuôi. Vẫn tỉnh bơ.Chuyện Hưng Hóa 1969, bây giờ mới kể.
19 Tháng 10 lúc 10:23
Nguyễn Anh nói... Một tên lộ diện trong nhóm húp nước giẻ lau bàn, truyện này mình đã kể trong Sinh ra trong khói lửa, trong những chuyện không quên, LMS à. Truyện Nam kể bà xã đọc cứ cười hoài, cám ơn Nam.
19 Tháng 10 lúc 10:39
Van Nam Nguyen nói... Hồi xưa kể chuyên tiếu lâm ở đơn vị còn có thằng cười , giờ ở nhà kể chuyện tếu mấy đứa nhỏ cứ giương mắt ếch , đứa cháu ngoại 2 tuổi thì khoc ré , còn bà nó thì sụt sùi bảo : "chuyện của anh cảm động lắm!".
19 Tháng 10 lúc 10:45
Nhat Trung Pham nói... Chuyện hay lắm ! Nếu đồng ý có thể đưa vào SRTKL tập 4.
19 Tháng 10 lúc 11:38
Van Nam Nguyen nói... Cám ơn anh Nhất Trung . Em tán thành ý kiến của pác
19 Tháng 10 lúc 11:43


 ❧ ❀ ❧ 

Nguồn: FB Van Nam Nguyen
Xem thêm: Đi “kiếm” bánh bao - Phúc lồi kể, Hà mèo ghi, 07/12/2013, Blog K6.
 




Thứ Hai, 10 tháng 6, 2013

Họp mặt thường niên và khánh thành bia lưu niệm



Mời xem:

X2000


Mời xem:

X2000