Hiển thị các bài đăng có nhãn truyệnnhiềukỳ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 18 tháng 11, 2020

CHUYỆN ĐÃ QUA VÀ ĐANG TỚI - tạp văn - Vũ Duy Sơn



Tui đăng bốn mươi bài tạp văn với tiêu đề:
CHUYỆN ĐÃ QUA VÀ ĐANG TỚI.
Đăng trên Messenger K6 TSQ- NVT, mong nhận phản hồi từ chiến hữu.
Sắp tới tui in. Vậy thôi.
Xem bản PDF



Tui đăng bốn mươi bài tạp văn với tiêu đề:
CHUYỆN ĐÃ QUA VÀ ĐANG TỚI.
Đăng trên Messenger K6 TSQ- NVT, mong nhận phản hồi từ chiến hữu.
Sắp tới tui in. Vậy thôi.
Xem bản PDF

Thứ Ba, 24 tháng 1, 2012

Truyện dài: Diễn (5) - Đào Duy

Diễn (5)

_ Đào Duy _
Chiều thứ bảy, sáng chủ nhật Diễn và thằng cu Dũng hay vật vờ trước cổng nhà thờ, chủ yếu là để ngắm gái. Có lần còn theo gái vào tận nơi cha đang làm lễ. Đẹp trai, cao ráo,  trắng trẻo, túi lại rủng rỉnh “hào”, các em theo không kể xiết.

Sẵn tiền Diễn bắt đầu sinh tật, bắt đầu thích ăn ngon, thích trưng diện. Diễn kể: “Ngày ấy cháu sắm được vàng, sắm đồng hồ đeo tay, có cả “máy quay dây” để nghe chèo, nghe cải lương, có giầy Tây, quần bò….

Thế rồi đi đêm lắm, lọ mọ nhiều nên cháu “gặp ma”. Ngủ với bao nhiêu em chả sao thế mà chỉ mỗi một đêm với cô bé mới quen lại dính bầu. Cô bé đẹp, mười mấy tuổi đầu nhà chỉ hai mẹ con Hôm nghe em khóc thông báo, mặt cháu cắt không còn hột máu. Tới nhà chơi, nhìn gia cảnh em trái tim cháu như thắt lại, hoàn cảnh em chả khác gì hoàn cảnh cháu ngoài quê.

Từ đó trở đi hầu như cháu không quan hệ với ai nữa, một lòng tôn thờ em. Có đồng nào cháu đều đem về giúp mẹ, giúp em trang trải cuộc sống. Tuy không cưới xin nhưng cháu coi em đã là vợ của mình. Cháu làm bố khi sắp hết thời gian nghĩa vụ. 

Cuộc sống ngày một khó khăn công việc của cháu cũng không thuận buồm xuôi gió như trước. Chuyện vợ con của cháu đơn vị chẳng ai biết chỉ tào phào đồn đại vậy thôi. Một hôm ông trưởng phòng cho gọi cháu. Cháu đã kể hết sự tình.

- Thôi chuyện cũng lỡ rồi nhưng cư xử được như mày thế cũng là đáng mặt thằng đàn ông, có tình có nghĩa. - Ông an ủi.

Im lặng một lúc rồi ông nói:

- Mày còn hai ba tháng nữa thì hết nghĩa vụ. Hiện  Bộ Quốc phòng có một số chỉ tiêu lao động nước ngoài phân bổ cho đơn vị, có hai nước là Liên Xô và CHDC Đức. Chú định giải quyết cho mày đi đợt đầu”.

Trong tiềm thức của Diễn, Diễn chỉ biết có Liên Xô, ở đấy có ông Lê-nin cùng họ Lê với ông bác bên ngoại của Diễn nên Diễn nhớ. Thế là Diễn đăng ký đi Liên Xô. Quyết định vội vàng này về sau Diễn cứ tiếc.

...

Thưa các bạn! Nếu tôi tiếp tục dông dài như những gì mà Diễn kể tính từ thời điểm bước chân sang Liên Xô cộng với mười mấy năm sau này lang bạt xứ Hàn bán sức kiếm sống, tôi thề để đọc hết các bạn sẽ mất toi cái Tết.


Gia đình - Tranh   giấy FLựcGia đình - Tranh giấy FLực
Từng ấy thời gian ba đời vợ, ba mặt con, mạng sống có lúc treo trên sợi tóc. Cánh cửa nhà tù chỉ còn cách bước chân thế mà thoát cả.

Người vợ đầu và đứa con gái lớn sau vài năm đi xa thì đứt liên lạc biệt vô tăm tích, chả biết lang bạt nơi đâu bao năm tìm không thấy nghe nói đã vượt biên.

Người vợ thứ hai sống với nhau bên Tây, khi có bầu thì về nước, một mình Diễn ở lại “chiến đấu”. Thế rồi một năm sau Diễn cũng phải theo vợ chuồn khỏi nước Nga để thoát tù tội. Về quê vợ Củ Chi, gia tài chả còn gì ngoài con “Min-khờ” đưa đón khách. Kinh tế thúc bách hai vợ chồng bàn nhau thế chấp cái nền nhà vay tiền đi Hàn. Đi được năm thì  “bùng” làm dân tự do sống ngoài vòng pháp luật, nhặt nhạnh tiển gửi về cho vợ chuộc nhà nuôi con. Năm sáu năm biệt xứ, vợ chán bỏ đi với người khác, để lại con cho ông bà ngoại.

Những năm ở Hàn  Diễn sống với một cô gái người Đà Lạt rồi sau này là vợ. Khi vợ có bầu hai đứa trở về Đà Lạt sinh con, con  được một tuổi gửi người chị, hai vợ chồng lại đăng ký đi Hàn tua thứ hai, tua này cả chục năm. Cả hai đợt là quãng thời gian dài để hai vợ chồng tích cóp được số tài sản khá.

Thế là đủ! Con đã lớn, những ngày tháng mưu sinh cùng cuộc sống đại công nghiệp và tuổi tác làm cho hai vợ chồng cảm thấy đuối. Họ quyết định về nước, chấm dứt quãng thời gian lang bạt xứ người. Những năm tháng đầu tắt mặt tối bươn trải trả giá bằng gần một năm đứa con gái mới quen gọi hai tiếng “ba, mẹ”.

Chẳng ai biết, người đàn ông chững chạc ngồi trước mặt tôi đây - trong quán Café bên bờ hồ Xuân Hương - giờ ngày ngày hai buổi lái xe đưa con đi học, quanh quẩn bên những chậu cây cảnh với thú nuôi chim. Chẳng ai biết, người đàn ông trầm tĩnh ngồi kia lại “lắm vợ nhiều con” và cuộc đời lại chuân chuyên đến thế!

Đó là thằng cu Diễn, con ông anh cả người chị dâu tôi.  

(Hết)

Xem:
  1. Truyện dài: Diễn (1) - 20/01/2012, Blog K6.
  2. Truyện dài: Diễn (2) - 21/01/2012, Blog K6.
  3. Truyện dài: Diễn (3) - 22/01/2012, Blog K6.
  4. Truyện dài: Diễn (4) - 23/01/2012, Blog K6.
 ❧ ❀ ❧ 

Đăng lại bài viết của Đào Duy (đã đăng tại Báo liếp K5: Thứ ba, ngày 24 tháng một năm 2012).

Diễn (5)

_ Đào Duy _
Chiều thứ bảy, sáng chủ nhật Diễn và thằng cu Dũng hay vật vờ trước cổng nhà thờ, chủ yếu là để ngắm gái. Có lần còn theo gái vào tận nơi cha đang làm lễ. Đẹp trai, cao ráo,  trắng trẻo, túi lại rủng rỉnh “hào”, các em theo không kể xiết.

Sẵn tiền Diễn bắt đầu sinh tật, bắt đầu thích ăn ngon, thích trưng diện. Diễn kể: “Ngày ấy cháu sắm được vàng, sắm đồng hồ đeo tay, có cả “máy quay dây” để nghe chèo, nghe cải lương, có giầy Tây, quần bò….

Thế rồi đi đêm lắm, lọ mọ nhiều nên cháu “gặp ma”. Ngủ với bao nhiêu em chả sao thế mà chỉ mỗi một đêm với cô bé mới quen lại dính bầu. Cô bé đẹp, mười mấy tuổi đầu nhà chỉ hai mẹ con Hôm nghe em khóc thông báo, mặt cháu cắt không còn hột máu. Tới nhà chơi, nhìn gia cảnh em trái tim cháu như thắt lại, hoàn cảnh em chả khác gì hoàn cảnh cháu ngoài quê.

Từ đó trở đi hầu như cháu không quan hệ với ai nữa, một lòng tôn thờ em. Có đồng nào cháu đều đem về giúp mẹ, giúp em trang trải cuộc sống. Tuy không cưới xin nhưng cháu coi em đã là vợ của mình. Cháu làm bố khi sắp hết thời gian nghĩa vụ. 

Cuộc sống ngày một khó khăn công việc của cháu cũng không thuận buồm xuôi gió như trước. Chuyện vợ con của cháu đơn vị chẳng ai biết chỉ tào phào đồn đại vậy thôi. Một hôm ông trưởng phòng cho gọi cháu. Cháu đã kể hết sự tình.

- Thôi chuyện cũng lỡ rồi nhưng cư xử được như mày thế cũng là đáng mặt thằng đàn ông, có tình có nghĩa. - Ông an ủi.

Im lặng một lúc rồi ông nói:

- Mày còn hai ba tháng nữa thì hết nghĩa vụ. Hiện  Bộ Quốc phòng có một số chỉ tiêu lao động nước ngoài phân bổ cho đơn vị, có hai nước là Liên Xô và CHDC Đức. Chú định giải quyết cho mày đi đợt đầu”.

Trong tiềm thức của Diễn, Diễn chỉ biết có Liên Xô, ở đấy có ông Lê-nin cùng họ Lê với ông bác bên ngoại của Diễn nên Diễn nhớ. Thế là Diễn đăng ký đi Liên Xô. Quyết định vội vàng này về sau Diễn cứ tiếc.

...

Thưa các bạn! Nếu tôi tiếp tục dông dài như những gì mà Diễn kể tính từ thời điểm bước chân sang Liên Xô cộng với mười mấy năm sau này lang bạt xứ Hàn bán sức kiếm sống, tôi thề để đọc hết các bạn sẽ mất toi cái Tết.


Gia đình - Tranh   giấy FLựcGia đình - Tranh giấy FLực
Từng ấy thời gian ba đời vợ, ba mặt con, mạng sống có lúc treo trên sợi tóc. Cánh cửa nhà tù chỉ còn cách bước chân thế mà thoát cả.

Người vợ đầu và đứa con gái lớn sau vài năm đi xa thì đứt liên lạc biệt vô tăm tích, chả biết lang bạt nơi đâu bao năm tìm không thấy nghe nói đã vượt biên.

Người vợ thứ hai sống với nhau bên Tây, khi có bầu thì về nước, một mình Diễn ở lại “chiến đấu”. Thế rồi một năm sau Diễn cũng phải theo vợ chuồn khỏi nước Nga để thoát tù tội. Về quê vợ Củ Chi, gia tài chả còn gì ngoài con “Min-khờ” đưa đón khách. Kinh tế thúc bách hai vợ chồng bàn nhau thế chấp cái nền nhà vay tiền đi Hàn. Đi được năm thì  “bùng” làm dân tự do sống ngoài vòng pháp luật, nhặt nhạnh tiển gửi về cho vợ chuộc nhà nuôi con. Năm sáu năm biệt xứ, vợ chán bỏ đi với người khác, để lại con cho ông bà ngoại.

Những năm ở Hàn  Diễn sống với một cô gái người Đà Lạt rồi sau này là vợ. Khi vợ có bầu hai đứa trở về Đà Lạt sinh con, con  được một tuổi gửi người chị, hai vợ chồng lại đăng ký đi Hàn tua thứ hai, tua này cả chục năm. Cả hai đợt là quãng thời gian dài để hai vợ chồng tích cóp được số tài sản khá.

Thế là đủ! Con đã lớn, những ngày tháng mưu sinh cùng cuộc sống đại công nghiệp và tuổi tác làm cho hai vợ chồng cảm thấy đuối. Họ quyết định về nước, chấm dứt quãng thời gian lang bạt xứ người. Những năm tháng đầu tắt mặt tối bươn trải trả giá bằng gần một năm đứa con gái mới quen gọi hai tiếng “ba, mẹ”.

Chẳng ai biết, người đàn ông chững chạc ngồi trước mặt tôi đây - trong quán Café bên bờ hồ Xuân Hương - giờ ngày ngày hai buổi lái xe đưa con đi học, quanh quẩn bên những chậu cây cảnh với thú nuôi chim. Chẳng ai biết, người đàn ông trầm tĩnh ngồi kia lại “lắm vợ nhiều con” và cuộc đời lại chuân chuyên đến thế!

Đó là thằng cu Diễn, con ông anh cả người chị dâu tôi.  

(Hết)

Xem:
  1. Truyện dài: Diễn (1) - 20/01/2012, Blog K6.
  2. Truyện dài: Diễn (2) - 21/01/2012, Blog K6.
  3. Truyện dài: Diễn (3) - 22/01/2012, Blog K6.
  4. Truyện dài: Diễn (4) - 23/01/2012, Blog K6.
 ❧ ❀ ❧ 

Đăng lại bài viết của Đào Duy (đã đăng tại Báo liếp K5: Thứ ba, ngày 24 tháng một năm 2012).

Thứ Hai, 23 tháng 1, 2012

Truyện dài: Diễn (4) - Đào Duy

Diễn (4)

_ Đào Duy _
Một hôm ông trưởng phòng dò hỏi ý Diễn:
- Bộ phận “âm ly loa đài” đơn vị đang cần một chân, ngày có mấy bận bật công tắc âm ly, máy quay băng, phát loa hiệu lệnh kèn cho đơn vị biết giờ báo thức, làm việc, ngủ nghỉ. Hôm nào mất điện mới phải leo lên chòi phòng không, thổi kèn hơi bằng miệng thay cho máy. Chân này nhàn hợp với tạng của cháu, nếu thích chú điều đi.

Diễn ưng ngay, công việc không những nhàn mà còn có vẻ nghệ sỹ rồi lại liên lụy đến máy móc kỹ thuật. Oách! (Tin này mà bay về đến quê thì khối em “sứt đầu mẻ răng” chứ chả chơi!).

Xuống bộ phận quân nhạc học kèn hơn tháng, tưởng ngon ăn thế mà mệt, hai bên mang tai đau nhức như bị bệnh quai bị, hơi đẩy cả ra mắt, đêm về ghèn đóng từng cục tưởng đau mắt đỏ… Chỉ có mấy nốt  “Tò te te tò te tý te tò te tý tý te tý te … ” mà đúng một tháng giời.

Công việc đang trôi chảy thì chả biết có phải vì “ghen ăn tức ở” hay thực lòng yêu thương đồng đội mà mấy đứa cùng lứa tân binh với Diễn bóng gió, chúng thì thào:

- Bọn mày có biết vì sao ông Chí “gù” ông ấy xin chuyển khỏi vị trí “thổi kèn” không?

- Bọn tao không biết.

- Cấm nói với ai! Không khéo tới tai, ông ấy chửi cho thì dại mặt. Dạo này mùa khô điện cúp liên tục ông ấy phải thổi kèn nhiều, hơi tích ở phổi ra kèn không hết nó dồn xuống đít. Nên ông Chí “gù” phát bệnh lòi dom, Bác sỹ khuyến cáo không được làm “nghề” ấy nữa nên ông ấy mới phải xin đi, chứ chỗ ấy ngon như thế...

Nghe loáng thoáng Diễn giật mình chột dạ: Ừ! Đúng thật! Dạo này tự dưng dưới ấy cứ thấy đau đau. Không hiểu do thổi kèn hay hậu quả từ cái đêm hôm ấy?... Chả biết đúng sai, phải trái nguyên nhân từ đâu, cứ thế Diễn lăn ra “bắt đền” ông trưởng phòng rồi nằng nặc xin đi. Cuối cùng ông trưởng phòng dành cho Diễn một đặc ân.


Tranh  FLựcTranh FLực
Cạnh trường bắn của đơn vị là cơ sở làm kinh tế, khai thác chế biến đá xây dựng. Đơn vị liên kết với doanh nghiệp tư nhân khai thác. Diễn được điều xuống làm chân thủ kho. Đơn vị có tài nguyên, mỏ đá nằm trong khu vực mình quản lý, chả phải đầu tư xu nào phía đối tác lo từ A đến Z, sản phẩm khai thác ăn chia. Thế nên tỷ như một ngày cơ sở khai thác được 10 xe đá thành phẩm thì “cha, con” chỉ vào sổ có 9; thế là đã ăn không được một xe…

Ngày ấy Diễn sẵn tiền lắm. Diễn nói lương tướng của ông cũng không bằng Diễn. Tính Diễn thật thà, thủ trưởng chia cho bao nhiêu biết bấy nhiêu, chả bao giờ tò mò dòm ngó, thóc mách chuyện thiên hạ. Nhưng đặc biệt vật tư đã nhập vào kho của Diễn rồi thì đừng có hòng đi đâu mất một xu. Bao nhiêu lần thanh kiểm tra, tịnh kho chả ai chê trách Diễn được điều gì.

Chuyển đến vị trí công tác mới Diễn thầm cảm ơn người thủ trưởng đồng hương. Diễn nói ở vị trí mới có mấy cái sướng:
  • Thứ nhất là lắm tiền.
  • Thứ hai mang tiếng bộ đội mà chả khác gì nhân viên bàn giấy, nhàn.
  • Thứ ba ngay cạnh chỗ Diễn là xứ đạo, toàn dân Bắc kỳ “đuổi Pháp quá đà”, con gái đạo đứa nào cũng trắng, cũng đẹp, không cẩn thận vô ý “rơi” vào mắt các nàng là coi như “toi”.
  • Thứ tư là được ở gần thằng cu Dũng, thằng bạn cùng làng, tính tình hợp nhau.
Xem:
  1. Truyện dài: Diễn (1) - 20/01/2012, Blog K6.
  2. Truyện dài: Diễn (2) - 21/01/2012, Blog K6.
  3. Truyện dài: Diễn (3) - 22/01/2012, Blog K6.
  4. Truyện dài: Diễn (5) - Hết - 24/01/2012, Blog K6.
 ❧ ❀ ❧ 

Đăng lại bài viết của Đào Duy (đã đăng tại Báo liếp K5: Thứ hai, ngày 23 tháng một năm 2012).

Diễn (4)

_ Đào Duy _
Một hôm ông trưởng phòng dò hỏi ý Diễn:
- Bộ phận “âm ly loa đài” đơn vị đang cần một chân, ngày có mấy bận bật công tắc âm ly, máy quay băng, phát loa hiệu lệnh kèn cho đơn vị biết giờ báo thức, làm việc, ngủ nghỉ. Hôm nào mất điện mới phải leo lên chòi phòng không, thổi kèn hơi bằng miệng thay cho máy. Chân này nhàn hợp với tạng của cháu, nếu thích chú điều đi.

Diễn ưng ngay, công việc không những nhàn mà còn có vẻ nghệ sỹ rồi lại liên lụy đến máy móc kỹ thuật. Oách! (Tin này mà bay về đến quê thì khối em “sứt đầu mẻ răng” chứ chả chơi!).

Xuống bộ phận quân nhạc học kèn hơn tháng, tưởng ngon ăn thế mà mệt, hai bên mang tai đau nhức như bị bệnh quai bị, hơi đẩy cả ra mắt, đêm về ghèn đóng từng cục tưởng đau mắt đỏ… Chỉ có mấy nốt  “Tò te te tò te tý te tò te tý tý te tý te … ” mà đúng một tháng giời.

Công việc đang trôi chảy thì chả biết có phải vì “ghen ăn tức ở” hay thực lòng yêu thương đồng đội mà mấy đứa cùng lứa tân binh với Diễn bóng gió, chúng thì thào:

- Bọn mày có biết vì sao ông Chí “gù” ông ấy xin chuyển khỏi vị trí “thổi kèn” không?

- Bọn tao không biết.

- Cấm nói với ai! Không khéo tới tai, ông ấy chửi cho thì dại mặt. Dạo này mùa khô điện cúp liên tục ông ấy phải thổi kèn nhiều, hơi tích ở phổi ra kèn không hết nó dồn xuống đít. Nên ông Chí “gù” phát bệnh lòi dom, Bác sỹ khuyến cáo không được làm “nghề” ấy nữa nên ông ấy mới phải xin đi, chứ chỗ ấy ngon như thế...

Nghe loáng thoáng Diễn giật mình chột dạ: Ừ! Đúng thật! Dạo này tự dưng dưới ấy cứ thấy đau đau. Không hiểu do thổi kèn hay hậu quả từ cái đêm hôm ấy?... Chả biết đúng sai, phải trái nguyên nhân từ đâu, cứ thế Diễn lăn ra “bắt đền” ông trưởng phòng rồi nằng nặc xin đi. Cuối cùng ông trưởng phòng dành cho Diễn một đặc ân.


Tranh  FLựcTranh FLực
Cạnh trường bắn của đơn vị là cơ sở làm kinh tế, khai thác chế biến đá xây dựng. Đơn vị liên kết với doanh nghiệp tư nhân khai thác. Diễn được điều xuống làm chân thủ kho. Đơn vị có tài nguyên, mỏ đá nằm trong khu vực mình quản lý, chả phải đầu tư xu nào phía đối tác lo từ A đến Z, sản phẩm khai thác ăn chia. Thế nên tỷ như một ngày cơ sở khai thác được 10 xe đá thành phẩm thì “cha, con” chỉ vào sổ có 9; thế là đã ăn không được một xe…

Ngày ấy Diễn sẵn tiền lắm. Diễn nói lương tướng của ông cũng không bằng Diễn. Tính Diễn thật thà, thủ trưởng chia cho bao nhiêu biết bấy nhiêu, chả bao giờ tò mò dòm ngó, thóc mách chuyện thiên hạ. Nhưng đặc biệt vật tư đã nhập vào kho của Diễn rồi thì đừng có hòng đi đâu mất một xu. Bao nhiêu lần thanh kiểm tra, tịnh kho chả ai chê trách Diễn được điều gì.

Chuyển đến vị trí công tác mới Diễn thầm cảm ơn người thủ trưởng đồng hương. Diễn nói ở vị trí mới có mấy cái sướng:
  • Thứ nhất là lắm tiền.
  • Thứ hai mang tiếng bộ đội mà chả khác gì nhân viên bàn giấy, nhàn.
  • Thứ ba ngay cạnh chỗ Diễn là xứ đạo, toàn dân Bắc kỳ “đuổi Pháp quá đà”, con gái đạo đứa nào cũng trắng, cũng đẹp, không cẩn thận vô ý “rơi” vào mắt các nàng là coi như “toi”.
  • Thứ tư là được ở gần thằng cu Dũng, thằng bạn cùng làng, tính tình hợp nhau.
Xem:
  1. Truyện dài: Diễn (1) - 20/01/2012, Blog K6.
  2. Truyện dài: Diễn (2) - 21/01/2012, Blog K6.
  3. Truyện dài: Diễn (3) - 22/01/2012, Blog K6.
  4. Truyện dài: Diễn (5) - Hết - 24/01/2012, Blog K6.
 ❧ ❀ ❧ 

Đăng lại bài viết của Đào Duy (đã đăng tại Báo liếp K5: Thứ hai, ngày 23 tháng một năm 2012).

Chủ Nhật, 22 tháng 1, 2012

Truyện dài: Diễn (3) - Đào Duy

Diễn (3)

_ Đào Duy _
Diễn dáng người cân đối, khỏe mạnh, đẹp trai, da trắng, tính tình hiền lành hay cười và đặc biệt thật thà chịu khó. Đúng là “hữu xạ tự nhiên hương”, chả thế mà vừa mãn khóa huấn luyện tân binh buổi sáng thì buổi chiều phòng Hành chính đơn vị đã đánh xe xuống gí quyết định tiếp nhận có chữ ký của ông trung tá trưởng phòng.
Thế là Diễn “khăn gói quả mướp” theo xe về đơn vị mới, chả kịp chia tay với anh em. Diễn về bộ phận tạp vụ cho thủ trưởng phòng.

Khu ở và làm việc của trưởng phòng là dãy nhà liên hoàn. Ngoài cùng là phòng tiếp khách và làm việc, tiếp đến là phòng ngủ rộng, tới khu vệ sinh và sau cùng là bếp ăn. Toàn bộ nằm trong khuôn viên có nhiều cây ăn trái mít, vú sữa, ổi, sa-bô-chê… Cây cảnh cùng dàn hoa giấy đủ màu được xén tỉa công phu…

Ông trưởng phòng tuổi ngoài 50 nhưng còn săn chắc. Sống độc thân, vợ con ở ngoài quê. Ngày ấy QĐ chưa nghĩ ra chuyện cấp chia đất cho sỹ quan và ông cũng chưa nghĩ ra việc phải đoàn tụ vợ con. Ông chỉ đơn giản, vài năm nữa đến tuổi hưu ông sẽ trở về quê sau mấy chục năm chiến trận, về nơi ông sinh ra để hương khói ông bà, bố mẹ mà lúc còn sống ông chưa một ngày báo đáp đền ơn. Vốn gốc gác nông dân, thích thiên nhiên, yêu động vật. Có con chó Phốc thuần chủng, ông rất quý, ngay cả lúc làm việc con chó bao giờ cũng nằm trên đùi ông. Mảnh vườn rộng sau nhà, ông dành hẳn 5-6 mét vuông rào lưới mắt cáo, trồng cỏ nuôi đàn chuột khoang. Ông đắp giả hòn núi, y ngọn núi Yên Phụ quê ông. Nhìn mấy con chuột hí húi gặm cỏ trên ngọn giả sơn, ông bảo hệt ngày còn bé đi núi chăn bò cho địa chủ. Dàn hoa giấy và cây cảnh trong khuôn viên là tự ông chăm sóc, cắt tỉa, đố có đứa công vụ nào dám động tay vào. Công vụ chỉ có mỗi việc bón phân,  tưới nước, bắt sâu và quét dọn lá rụng trong vườn.

Ông trưởng phòng cũng thật đặc biệt, ông không thích đàn bà, con gái. Mỗi lần có đợt tân binh nữ, Quân lực bao giờ cũng để dành mấy em có ngoại hình và lý lịch ưu tiên cho công vụ thủ trưởng đơn vị và thủ trưởng các phòng ban. Nhưng ông chẳng bao giờ màng. Không thích dính dáng đến đàn bà, ông nói: “Con trai thiếu gì đứa vừa giỏi vừa ngoan. Nhận cái đám đái không qua nổi ngọn cỏ ấy về chỉ thêm rách việc. “Có ai mà thức được hết đêm”. Dịn mấy rồi cũng phải có lúc thèm, khi cơn thèm trong người nổi lên rồi thì… trong đơn vị khối vụ rồi đấy, không khéo mất sao mất gạch như chơi”.

Một buổi tối đang ngồi xem tivi thì thằng Phi (cùng bộ phận tạp vụ với Diễn), trước đây là công vụ cho ông trưởng phòng, sồng sộc lao vào.

- Diễn! Lên gặp trưởng phòng có việc. - Vừa nói, mắt thằng Phi vừa liếc đểu vừa đưa tay lên che miệng cười khùng khục.

Thế là Diễn vội vàng mặc quần áo đi ngay, vừa đi vừa nghĩ chả hiểu có chuyện gì mà thủ trưởng gọi mình giờ này. Đứng trước cửa phòng ngập ngừng một lúc Diễn mới dám gõ.

- Diễn hả? - Tiếng ông trưởng phòng âu yếm vọng ra

- Dạ!

- Mở cửa, vào đi cháu.

Lúc ấy Diễn mới dám đẩy cửa bước vào.

- Chú cho gọi con?

- Ừ! Chả có việc gì đâu, buồn quá gọi mày lên chơi, ngồi uống nước, nói chuyện quê hương cho vui. (Chả là Diễn đồng hương với ông, quê Kinh Môn, Hải Dương).


Tranh  FLựcTranh FLực
- Ngồi xuống! Ngồi xuống ghế đi, cháu! - Nói rồi ông mở tủ lạnh lấy mấy chai bia Sài Gòn, đĩa kẹo lạc đặt lên bàn. - Uống đi! Chai này là của cháu, không uống được cũng phải hết cốc, cởi áo ra cho mát…

Chuyện trò lan man rồi chai bia cuối cùng trên bàn cũng hết. Có tiếng “kèn” báo giờ đi ngủ của đơn vị.

- Khuya rồi, tối nay ở lại đây ngủ với chú. - Ông trưởng phòng nhẹ nhàng.

Trong nhận thức của Diễn, chàng lính tơ gốc gác “thuần nông” cả đời quanh quẩn sau lũy tre làng thì lời nói  ấy như mệnh lệnh.

- Đấy! Giường kia, chăn màn đấy là của thằng Phi công vụ cũ của chú nhưng nó đã chuyển sang bộ phận tạp vụ chỗ cháu. Dỗ dành thế nào cũng không chịu ở lại,  chưa tìm được đứa nào thay. Hay mày lên đây làm công vụ cho chú? - Vừa nói ông vừa đi ra cửa nhấc đôi dép của Diễn đặt vào trong phòng, khép cửa lại

Có cốc bia Diễn ngủ như chết. Nửa đêm Diễn bỗng thấy nhột nhạt, cảm giác như có ai quờ quạng đè lên người, rồi chợt tỉnh ngơ ngác.

- Chú đây! Nằm im! - Tiếng ông trưởng phòng hồng hộc như lợn đẻ giữ con.

Diễn hết hồn, sờ tay xuống dưới cái quần đùi bà bô, quân trang mới phát, mặc trên người bay biến từ lúc nào. Ông lật Diễn như bà già mắt toét bán bánh đa nướng, lật bánh trên chảo than ngày còn ở quê mỗi lần theo mẹ đi chợ phiên. Có lúc ông bắt Diễn úp mặt cả xuống chiếu (y đám đạo Hồi bên Iran, Irắc chổng mông trong thánh đường lạy đức Ala). Cái cằm đầy râu của ông chà quẹt lên gáy, lên cổ Diễn buồn không tả nổi, hứng chí ông còn cắn cả vào vai vào gáy Diễn tưởng tóe máu. Diễn nghiến răng cố chịu. Bỗng Diễn thấy đau nhói ở phía dưới. Tiếng ông nấc lên giật cục rồi trong khoảnh khắc ông đổ vật ra giường:

- Thôi… ngủ… đi!… ngủ… đi …cháu. - Tiếng ông thều thào đứt quãng.

Ông như người lính bị thương lết về phía giường mình. Vài phút sau tiếng gáy của ông đã váng lên y hệt cái máy phát điện cổ lỗ của đơn vị mỗi lần quá tải.

Thấy tình hình “êm” Diễn lồm cồm bò dậy, mò tìm quần áo rồi mở cửa phóng vào màn đêm. Chạỵ được một đoạn, sực nhớ còn đôi dép, thế là phải quay lại. Diễn đắn đo mãi… phòng thủ trưởng bao nhiêu tài liệu, lỡ bỏ đi, phòng không khóa, kẻ gian đột nhập lấy cắp thì chỉ có nước ngồi tù. Thế là Diễn đành kê dép ngồi cửa, canh tới tận sáng.

Hôm sau gặp Diễn, bàn tay ông trưởng phòng nắm lại, chỉ còn ngón trỏ dứ dứ về phía Diễn rồi ư ử ra chiều “cấm được nói với ai!”. Ông còn hẹn Diễn tối nào rảnh lên chỗ ông chơi. Diễn chối đây đẩy. Từ đó trở đi chả bao giờ Diễn dám một mình buổi tối lai vãng tới phòng của ông.

Sau cái đêm ấy, cuộc đời Diễn bước sang một trang mới.

Xem:
  1. Truyện dài: Diễn (1) - 20/01/2012, Blog K6.
  2. Truyện dài: Diễn (2) - 21/01/2012, Blog K6.
  3. Truyện dài: Diễn (4) - 23/01/2012, Blog K6.
  4. Truyện dài: Diễn (5) - Hết - 24/01/2012, Blog K6.
 ❧ ❀ ❧ 

Đăng lại bài viết của Đào Duy (đã đăng tại Báo liếp K5: Chủ nhật, ngày 22 tháng một năm 2012).

Diễn (3)

_ Đào Duy _
Diễn dáng người cân đối, khỏe mạnh, đẹp trai, da trắng, tính tình hiền lành hay cười và đặc biệt thật thà chịu khó. Đúng là “hữu xạ tự nhiên hương”, chả thế mà vừa mãn khóa huấn luyện tân binh buổi sáng thì buổi chiều phòng Hành chính đơn vị đã đánh xe xuống gí quyết định tiếp nhận có chữ ký của ông trung tá trưởng phòng.
Thế là Diễn “khăn gói quả mướp” theo xe về đơn vị mới, chả kịp chia tay với anh em. Diễn về bộ phận tạp vụ cho thủ trưởng phòng.

Khu ở và làm việc của trưởng phòng là dãy nhà liên hoàn. Ngoài cùng là phòng tiếp khách và làm việc, tiếp đến là phòng ngủ rộng, tới khu vệ sinh và sau cùng là bếp ăn. Toàn bộ nằm trong khuôn viên có nhiều cây ăn trái mít, vú sữa, ổi, sa-bô-chê… Cây cảnh cùng dàn hoa giấy đủ màu được xén tỉa công phu…

Ông trưởng phòng tuổi ngoài 50 nhưng còn săn chắc. Sống độc thân, vợ con ở ngoài quê. Ngày ấy QĐ chưa nghĩ ra chuyện cấp chia đất cho sỹ quan và ông cũng chưa nghĩ ra việc phải đoàn tụ vợ con. Ông chỉ đơn giản, vài năm nữa đến tuổi hưu ông sẽ trở về quê sau mấy chục năm chiến trận, về nơi ông sinh ra để hương khói ông bà, bố mẹ mà lúc còn sống ông chưa một ngày báo đáp đền ơn. Vốn gốc gác nông dân, thích thiên nhiên, yêu động vật. Có con chó Phốc thuần chủng, ông rất quý, ngay cả lúc làm việc con chó bao giờ cũng nằm trên đùi ông. Mảnh vườn rộng sau nhà, ông dành hẳn 5-6 mét vuông rào lưới mắt cáo, trồng cỏ nuôi đàn chuột khoang. Ông đắp giả hòn núi, y ngọn núi Yên Phụ quê ông. Nhìn mấy con chuột hí húi gặm cỏ trên ngọn giả sơn, ông bảo hệt ngày còn bé đi núi chăn bò cho địa chủ. Dàn hoa giấy và cây cảnh trong khuôn viên là tự ông chăm sóc, cắt tỉa, đố có đứa công vụ nào dám động tay vào. Công vụ chỉ có mỗi việc bón phân,  tưới nước, bắt sâu và quét dọn lá rụng trong vườn.

Ông trưởng phòng cũng thật đặc biệt, ông không thích đàn bà, con gái. Mỗi lần có đợt tân binh nữ, Quân lực bao giờ cũng để dành mấy em có ngoại hình và lý lịch ưu tiên cho công vụ thủ trưởng đơn vị và thủ trưởng các phòng ban. Nhưng ông chẳng bao giờ màng. Không thích dính dáng đến đàn bà, ông nói: “Con trai thiếu gì đứa vừa giỏi vừa ngoan. Nhận cái đám đái không qua nổi ngọn cỏ ấy về chỉ thêm rách việc. “Có ai mà thức được hết đêm”. Dịn mấy rồi cũng phải có lúc thèm, khi cơn thèm trong người nổi lên rồi thì… trong đơn vị khối vụ rồi đấy, không khéo mất sao mất gạch như chơi”.

Một buổi tối đang ngồi xem tivi thì thằng Phi (cùng bộ phận tạp vụ với Diễn), trước đây là công vụ cho ông trưởng phòng, sồng sộc lao vào.

- Diễn! Lên gặp trưởng phòng có việc. - Vừa nói, mắt thằng Phi vừa liếc đểu vừa đưa tay lên che miệng cười khùng khục.

Thế là Diễn vội vàng mặc quần áo đi ngay, vừa đi vừa nghĩ chả hiểu có chuyện gì mà thủ trưởng gọi mình giờ này. Đứng trước cửa phòng ngập ngừng một lúc Diễn mới dám gõ.

- Diễn hả? - Tiếng ông trưởng phòng âu yếm vọng ra

- Dạ!

- Mở cửa, vào đi cháu.

Lúc ấy Diễn mới dám đẩy cửa bước vào.

- Chú cho gọi con?

- Ừ! Chả có việc gì đâu, buồn quá gọi mày lên chơi, ngồi uống nước, nói chuyện quê hương cho vui. (Chả là Diễn đồng hương với ông, quê Kinh Môn, Hải Dương).


Tranh  FLựcTranh FLực
- Ngồi xuống! Ngồi xuống ghế đi, cháu! - Nói rồi ông mở tủ lạnh lấy mấy chai bia Sài Gòn, đĩa kẹo lạc đặt lên bàn. - Uống đi! Chai này là của cháu, không uống được cũng phải hết cốc, cởi áo ra cho mát…

Chuyện trò lan man rồi chai bia cuối cùng trên bàn cũng hết. Có tiếng “kèn” báo giờ đi ngủ của đơn vị.

- Khuya rồi, tối nay ở lại đây ngủ với chú. - Ông trưởng phòng nhẹ nhàng.

Trong nhận thức của Diễn, chàng lính tơ gốc gác “thuần nông” cả đời quanh quẩn sau lũy tre làng thì lời nói  ấy như mệnh lệnh.

- Đấy! Giường kia, chăn màn đấy là của thằng Phi công vụ cũ của chú nhưng nó đã chuyển sang bộ phận tạp vụ chỗ cháu. Dỗ dành thế nào cũng không chịu ở lại,  chưa tìm được đứa nào thay. Hay mày lên đây làm công vụ cho chú? - Vừa nói ông vừa đi ra cửa nhấc đôi dép của Diễn đặt vào trong phòng, khép cửa lại

Có cốc bia Diễn ngủ như chết. Nửa đêm Diễn bỗng thấy nhột nhạt, cảm giác như có ai quờ quạng đè lên người, rồi chợt tỉnh ngơ ngác.

- Chú đây! Nằm im! - Tiếng ông trưởng phòng hồng hộc như lợn đẻ giữ con.

Diễn hết hồn, sờ tay xuống dưới cái quần đùi bà bô, quân trang mới phát, mặc trên người bay biến từ lúc nào. Ông lật Diễn như bà già mắt toét bán bánh đa nướng, lật bánh trên chảo than ngày còn ở quê mỗi lần theo mẹ đi chợ phiên. Có lúc ông bắt Diễn úp mặt cả xuống chiếu (y đám đạo Hồi bên Iran, Irắc chổng mông trong thánh đường lạy đức Ala). Cái cằm đầy râu của ông chà quẹt lên gáy, lên cổ Diễn buồn không tả nổi, hứng chí ông còn cắn cả vào vai vào gáy Diễn tưởng tóe máu. Diễn nghiến răng cố chịu. Bỗng Diễn thấy đau nhói ở phía dưới. Tiếng ông nấc lên giật cục rồi trong khoảnh khắc ông đổ vật ra giường:

- Thôi… ngủ… đi!… ngủ… đi …cháu. - Tiếng ông thều thào đứt quãng.

Ông như người lính bị thương lết về phía giường mình. Vài phút sau tiếng gáy của ông đã váng lên y hệt cái máy phát điện cổ lỗ của đơn vị mỗi lần quá tải.

Thấy tình hình “êm” Diễn lồm cồm bò dậy, mò tìm quần áo rồi mở cửa phóng vào màn đêm. Chạỵ được một đoạn, sực nhớ còn đôi dép, thế là phải quay lại. Diễn đắn đo mãi… phòng thủ trưởng bao nhiêu tài liệu, lỡ bỏ đi, phòng không khóa, kẻ gian đột nhập lấy cắp thì chỉ có nước ngồi tù. Thế là Diễn đành kê dép ngồi cửa, canh tới tận sáng.

Hôm sau gặp Diễn, bàn tay ông trưởng phòng nắm lại, chỉ còn ngón trỏ dứ dứ về phía Diễn rồi ư ử ra chiều “cấm được nói với ai!”. Ông còn hẹn Diễn tối nào rảnh lên chỗ ông chơi. Diễn chối đây đẩy. Từ đó trở đi chả bao giờ Diễn dám một mình buổi tối lai vãng tới phòng của ông.

Sau cái đêm ấy, cuộc đời Diễn bước sang một trang mới.

Xem:
  1. Truyện dài: Diễn (1) - 20/01/2012, Blog K6.
  2. Truyện dài: Diễn (2) - 21/01/2012, Blog K6.
  3. Truyện dài: Diễn (4) - 23/01/2012, Blog K6.
  4. Truyện dài: Diễn (5) - Hết - 24/01/2012, Blog K6.
 ❧ ❀ ❧ 

Đăng lại bài viết của Đào Duy (đã đăng tại Báo liếp K5: Chủ nhật, ngày 22 tháng một năm 2012).

Thứ Bảy, 21 tháng 1, 2012

Truyện dài: Diễn (2) - Đào Duy

Diễn (2)

_ Đào Duy _
Vào SG được mấy tháng thì Tết. Ông hẹn sau Tết có đợt tuyển quân sẽ cho 3 đứa đi. Nghe tin chúng cháu vui lắm. Nghĩ cảnh nằm nhà mấy tháng giời, dù ở nhà bao nhiêu việc, nhưng vẫn mang tiếng ông bà nuôi cơm.

Lần đầu tiên trong đời cháu biết uống rượu và biết say từ cái đêm giao thừa năm ấy. Ngót nghét gần ba chục năm, thế mà bây giờ chỉ nhìn thấy vỏ quả trứng vịt màu xam xám là cháu đã hết cả hồn vía, thách vàng cũng không dám đụng đến.

Đón tết xa nhà, nhớ bố, nhớ mẹ, nhớ quê. Gần giao thừa chú Hùng, lái xe cho ông, sồng sộc lao vào phòng chúng cháu, trên tay là hai chai “Rivalet” (thứ rượu đểu gia công, mùi hắc như thuốc ghẻ) và một bịch nilon hầm bà lằng các món nhậu mà chủ đạo là hột vịt lộn, thứ mồi mà ba đứa cháu đứa nào cũng thích.

Chú Hùng ra lệnh:

- Thằng Hải ra vườn, trèo cây hái mấy trái dừa xiêm. Thằng Diễn lấy bát đĩa, thằng Dũng tìm cho tao cái chậu thau và con dao.

Sau khi chốt chặt cửa, bầy đồ ăn ra đĩa đặt dưới nền nhà. Chú Hùng mở rượu đổ vào chậu kèm theo nước của hai trái dừa. Cầm bát nhúng vào chậu tay chú vừa ngoáy thứ hỗn hợp màu nhờ nhờ, vừa nói: “Đây là món rượu đặc biệt cho những thằng đàn ông chân chính “Rivalet pha nước dừa” tao chiêu đãi nhân dịp năm mới, đồng thời cũng là quà chia tay với 3 thằng ngoài Tết thuyên chuyển “công tác” khác. Cho nên đêm nay chúng mày phải uống thật say, để nhớ về cái Tết đầu tiên giữa SG”.

Sáng mồng 1, bốn chú cháu như bốn dải khoai nằm vắt lên nhau trong phòng. Bốn thằng bốn đống ói lù lù trước mặt.

Sáng không thấy các anh đâu, thằng cu Tuấn con bà chi thắc mắc, gõ cửa phòng. Chỉ có Hùng lết dậy được, ra mở cửa, sau đó lại vật xuống sàn. Cu Tuấn đẩy cửa lao vào, trượt chân, ngã sưng vù cả đầu; còn người thì be bét, mất toi bộ quần áo diện tết. Nó la toáng lên:

- Chú Hùng và các anh uống rượu say nhả ra cả hột vịt lộn, mẹ ơi!

Sau mấy tháng tân binh nhờ nhân thân tốt nên 3 đứa cháu đều có công việc ổn định trong đơn vị của ông.

Thằng cu Hải ông ghét vì tính láu cá “mồm miệng đỡ chân tay” và là chuyên gia chiết rượu bổ của ông uống vụng. Bình rượu ngâm ông giao quản lý lúc nào cũng đầy ngặt, nhưng càng ngày ông uống càng thấy “nhạt”, ngược lại thằng cháu cứ béo hồng… Thuốc lá tiếp khách của ông chưa hết tháng đã không còn một điếu…

Diễn nhớ lại: Một lần ông gọi cháu vào làm chứng.

- Kìa! Mày nhìn hai ngón tay nó kìa. – Rồi ông quay sang nó - Đưa tay đây tao xem! Mẹ tiên sư anh! - Vừa chỉ vào hai ngón tay “thối” của thằng Hải ông vừa chửi. - Rõ rành rành ra đây mà nó còn cãi, hai ngón tay vàng như chó thui rơm, thế này thì thử hỏi tiêu chuẩn thuốc tiếp khách của ông bao nhiêu cho xuể?
Cha và con                 -  sơn dầu FLựcCha và con - sơn dầu FLực
Ghét thì ghét nhưng ông quý nó vì nó là thằng chịu học nhất trong 3 đứa, hết lớp 10 chính quy loại khá, có bằng thật hẳn hoi. Vì thế sau khi mãn khóa tân binh, Hải được ông đề nghị đơn vị cho đi đào tạo ngành y để phục vụ dài lâu trong quân đội.
Thằng Dũng học vấn thấp, chỉ qua hết lớp 5. Mẹ mất sớm bố lấy vợ khác nên vất vả thiệt thòi từ bé. Lý lịch “bần cố nông” thật nhưng ít chữ quá nên đơn vị không biết phân công làm gì. May mắn có tay sỹ quan phụ trách trường bắn của đơn vị xin người bổ sung cho vị trí quản lý bếp ăn. Biết Dũng là cháu của thủ trưởng, sau khi kiểm tra trình độ thấy Dũng vẫn còn nhớ được bốn phép tính, nhân 2 số chưa lẫn… chỉ tội chữ xấu và ngọng.

- Chà… chà… cái khoản này thì gay đây!!!… - Tay sỹ quan gõ gõ ngón tay vào thái dương; sau một hồi đắn đo, cuối cùng cũng tặc lưỡi. - Thôi được, được… cứ về chỗ chú. Tao nhận, yếu thì rèn, cái gì rèn rồi cũng làm được tuốt, miễn là có ý chí.

Rồi anh ta khẳng định với cơ quan Quân lực, bảo lãnh “bốc” Dũng đi.

Bếp trường bắn quanh năm đỏ lửa vài ba bận, là khi đơn vị kết thúc khóa huấn luyện hoặc hội thao cuối năm có bắn đạn thật. Quân số vẻn vẹn mấy anh cán bộ khung, chục chú lính làm công tác bảo vệ kiêm sản suất cùng hai em nuôi quân. Kho nhà bếp khi nhiều có tạ gạo, vài ký muối, can nước mắm, ít cá khô, chục lít dầu… Chả cần sổ sách thằng cu Dũng nhắm mắt tính vo cũng cân đối được thu chi trong tháng.

Một lần tay sỹ quan phụ trách trường bắn có khách đột xuất, tiền túi cuối tháng không còn mà bếp đơn vị cũng trống trơn. Bí quá ông bảo thằng cu Dũng xuất chục lít dầu đem đổi vịt và rượu làm cơm tiếp khách. Bẵng một thời gian, một hôm bất chợt kiểm tra sổ sách thu chi của bếp, ông hết hồn khi thấy phần chi có dòng “xuất 10 lít dầu”. Nội dung: “Chi liên hoan tiếp khách của thủ trưởng… ”, “ ngày… tháng… ”.

- Mẹ tiên sư nó, thế này có chết ông không cơ chứ! - Tay sỹ quan nhảy dựng lên chửi. - Đúng là làm lính thằng khôn còn hơn…

Diễn vừa ôm bụng cười vừa kể.

(Còn tiếp... ).

Xem:
  1. Truyện dài: Diễn (1) - 20/01/2012, Blog K6.
  2. Truyện dài: Diễn (3) - 22/01/2012, Blog K6.
  3. Truyện dài: Diễn (4) - 23/01/2012, Blog K6.
  4. Truyện dài: Diễn (5) - Hết - 24/01/2012, Blog K6.

 ❧ ❀ ❧ 

Đăng lại bài viết của Đào Duy (đã đăng tại Báo liếp K5: Thứ bảy, ngày 21 tháng một năm 2012).

Diễn (2)

_ Đào Duy _
Vào SG được mấy tháng thì Tết. Ông hẹn sau Tết có đợt tuyển quân sẽ cho 3 đứa đi. Nghe tin chúng cháu vui lắm. Nghĩ cảnh nằm nhà mấy tháng giời, dù ở nhà bao nhiêu việc, nhưng vẫn mang tiếng ông bà nuôi cơm.

Lần đầu tiên trong đời cháu biết uống rượu và biết say từ cái đêm giao thừa năm ấy. Ngót nghét gần ba chục năm, thế mà bây giờ chỉ nhìn thấy vỏ quả trứng vịt màu xam xám là cháu đã hết cả hồn vía, thách vàng cũng không dám đụng đến.

Đón tết xa nhà, nhớ bố, nhớ mẹ, nhớ quê. Gần giao thừa chú Hùng, lái xe cho ông, sồng sộc lao vào phòng chúng cháu, trên tay là hai chai “Rivalet” (thứ rượu đểu gia công, mùi hắc như thuốc ghẻ) và một bịch nilon hầm bà lằng các món nhậu mà chủ đạo là hột vịt lộn, thứ mồi mà ba đứa cháu đứa nào cũng thích.

Chú Hùng ra lệnh:

- Thằng Hải ra vườn, trèo cây hái mấy trái dừa xiêm. Thằng Diễn lấy bát đĩa, thằng Dũng tìm cho tao cái chậu thau và con dao.

Sau khi chốt chặt cửa, bầy đồ ăn ra đĩa đặt dưới nền nhà. Chú Hùng mở rượu đổ vào chậu kèm theo nước của hai trái dừa. Cầm bát nhúng vào chậu tay chú vừa ngoáy thứ hỗn hợp màu nhờ nhờ, vừa nói: “Đây là món rượu đặc biệt cho những thằng đàn ông chân chính “Rivalet pha nước dừa” tao chiêu đãi nhân dịp năm mới, đồng thời cũng là quà chia tay với 3 thằng ngoài Tết thuyên chuyển “công tác” khác. Cho nên đêm nay chúng mày phải uống thật say, để nhớ về cái Tết đầu tiên giữa SG”.

Sáng mồng 1, bốn chú cháu như bốn dải khoai nằm vắt lên nhau trong phòng. Bốn thằng bốn đống ói lù lù trước mặt.

Sáng không thấy các anh đâu, thằng cu Tuấn con bà chi thắc mắc, gõ cửa phòng. Chỉ có Hùng lết dậy được, ra mở cửa, sau đó lại vật xuống sàn. Cu Tuấn đẩy cửa lao vào, trượt chân, ngã sưng vù cả đầu; còn người thì be bét, mất toi bộ quần áo diện tết. Nó la toáng lên:

- Chú Hùng và các anh uống rượu say nhả ra cả hột vịt lộn, mẹ ơi!

Sau mấy tháng tân binh nhờ nhân thân tốt nên 3 đứa cháu đều có công việc ổn định trong đơn vị của ông.

Thằng cu Hải ông ghét vì tính láu cá “mồm miệng đỡ chân tay” và là chuyên gia chiết rượu bổ của ông uống vụng. Bình rượu ngâm ông giao quản lý lúc nào cũng đầy ngặt, nhưng càng ngày ông uống càng thấy “nhạt”, ngược lại thằng cháu cứ béo hồng… Thuốc lá tiếp khách của ông chưa hết tháng đã không còn một điếu…

Diễn nhớ lại: Một lần ông gọi cháu vào làm chứng.

- Kìa! Mày nhìn hai ngón tay nó kìa. – Rồi ông quay sang nó - Đưa tay đây tao xem! Mẹ tiên sư anh! - Vừa chỉ vào hai ngón tay “thối” của thằng Hải ông vừa chửi. - Rõ rành rành ra đây mà nó còn cãi, hai ngón tay vàng như chó thui rơm, thế này thì thử hỏi tiêu chuẩn thuốc tiếp khách của ông bao nhiêu cho xuể?
Cha và con                 -  sơn dầu FLựcCha và con - sơn dầu FLực
Ghét thì ghét nhưng ông quý nó vì nó là thằng chịu học nhất trong 3 đứa, hết lớp 10 chính quy loại khá, có bằng thật hẳn hoi. Vì thế sau khi mãn khóa tân binh, Hải được ông đề nghị đơn vị cho đi đào tạo ngành y để phục vụ dài lâu trong quân đội.
Thằng Dũng học vấn thấp, chỉ qua hết lớp 5. Mẹ mất sớm bố lấy vợ khác nên vất vả thiệt thòi từ bé. Lý lịch “bần cố nông” thật nhưng ít chữ quá nên đơn vị không biết phân công làm gì. May mắn có tay sỹ quan phụ trách trường bắn của đơn vị xin người bổ sung cho vị trí quản lý bếp ăn. Biết Dũng là cháu của thủ trưởng, sau khi kiểm tra trình độ thấy Dũng vẫn còn nhớ được bốn phép tính, nhân 2 số chưa lẫn… chỉ tội chữ xấu và ngọng.

- Chà… chà… cái khoản này thì gay đây!!!… - Tay sỹ quan gõ gõ ngón tay vào thái dương; sau một hồi đắn đo, cuối cùng cũng tặc lưỡi. - Thôi được, được… cứ về chỗ chú. Tao nhận, yếu thì rèn, cái gì rèn rồi cũng làm được tuốt, miễn là có ý chí.

Rồi anh ta khẳng định với cơ quan Quân lực, bảo lãnh “bốc” Dũng đi.

Bếp trường bắn quanh năm đỏ lửa vài ba bận, là khi đơn vị kết thúc khóa huấn luyện hoặc hội thao cuối năm có bắn đạn thật. Quân số vẻn vẹn mấy anh cán bộ khung, chục chú lính làm công tác bảo vệ kiêm sản suất cùng hai em nuôi quân. Kho nhà bếp khi nhiều có tạ gạo, vài ký muối, can nước mắm, ít cá khô, chục lít dầu… Chả cần sổ sách thằng cu Dũng nhắm mắt tính vo cũng cân đối được thu chi trong tháng.

Một lần tay sỹ quan phụ trách trường bắn có khách đột xuất, tiền túi cuối tháng không còn mà bếp đơn vị cũng trống trơn. Bí quá ông bảo thằng cu Dũng xuất chục lít dầu đem đổi vịt và rượu làm cơm tiếp khách. Bẵng một thời gian, một hôm bất chợt kiểm tra sổ sách thu chi của bếp, ông hết hồn khi thấy phần chi có dòng “xuất 10 lít dầu”. Nội dung: “Chi liên hoan tiếp khách của thủ trưởng… ”, “ ngày… tháng… ”.

- Mẹ tiên sư nó, thế này có chết ông không cơ chứ! - Tay sỹ quan nhảy dựng lên chửi. - Đúng là làm lính thằng khôn còn hơn…

Diễn vừa ôm bụng cười vừa kể.

(Còn tiếp... ).

Xem:
  1. Truyện dài: Diễn (1) - 20/01/2012, Blog K6.
  2. Truyện dài: Diễn (3) - 22/01/2012, Blog K6.
  3. Truyện dài: Diễn (4) - 23/01/2012, Blog K6.
  4. Truyện dài: Diễn (5) - Hết - 24/01/2012, Blog K6.

 ❧ ❀ ❧ 

Đăng lại bài viết của Đào Duy (đã đăng tại Báo liếp K5: Thứ bảy, ngày 21 tháng một năm 2012).

Thứ Sáu, 20 tháng 1, 2012

Truyện dài: Diễn (1) - Đào Duy

Diễn (1)

_ Đào Duy _
 
Quán Café mà Diễn hẹn gặp tôi nằm dưới chân “đồi Palace”. Ngồi trong quán nhìn qua con đường là hồ Xuân Hương, chạy dọc bờ hồ là hàng anh đào khẳng khiu đang mùa thay lá. Mất một lúc tôi mới nhận ra người trước mặt mình.
- Ngoài đường không hẹn trước thì chú, cháu chả tài nào nhận được ra nhau.
- Chú già đi, tóc bạc nhiều... - Diễn ngập ngừng.
- Ừ!… Gần ba chục năm rồi còn gì.
Hai chú cháu ngồi im lặng. Sự lặng im như tiếng chuông gõ vào quá khứ đã xa của hai chú cháu…

... Diễn là con người anh ruột chị dâu tôi. Quãng đầu những năm 1980, Diễn cùng với hai người cháu họ ngoài quê khăn gói vào Sài Gòn nhờ ông già tôi xin việc.

“Sài Gòn thiếu gì việc, vào nhờ ông xin cho. Ở quê ít học, lười làm, ham chơi như lũ chúng mày có mà đi nhặt cứt”. Bố mẹ chúng cháu nói thế rồi bảo vào Sài Gòn cậy nhờ ông.

Lếch thếch bước chân vào Sài Gòn, sau bữa cơm chiều chuyện trò, thăm hỏi họ hàng làng xóm là tới màn ông già tôi chửi ba đứa cháu:

- Mẹ tiên sư chúng mày, kéo cả lũ vào một lúc chả báo cáo, báo cầy. Ai lại quần áo thì nhất bộ, túi thì không một xu, đến cái xi lip rách cũng không có, vào bỏ bom, bắt ép ông chả khác nào ngày xưa chiến tranh cấp trên ép ông thúc lính ra trận, trong khi quân lính thì thiếu, ốm đau bệnh tật… Cho đi bộ đội tuốt, chờ có đợt tao sẽ gửi đi rèn. Đứa nào chịu được thì ở, đứa nào thối chí thì về.

Ba đứa cháu tá túc nhà tôi. Ba thanh niên tuổi ăn tuổi ngủ, chỉ vài ngày vèo chục ký gạo. Cũng may thỉnh thoảng ông già đi công tác miền Tây, nhờ xe biển đỏ nên kết hợp được tí gạo về ăn thêm; chứ trông chờ vào tem phiếu thì nhe răng.

Ngày ấy cả nước đói, gia đình tôi phải nghĩ ra bao nhiêu cách để tìm cái bỏ thêm vào mồm cải thiện cuộc sống. Đầu tiên là làm chuồng để nuôi heo. Sẵn mấy đứa cháu, ông già tôi “khoán”. Ba thanh niên phân công nhau một rửa gạch, một đãi cát, một xây. Chả biết có phải để rèn luỵện hay không mà ông già bắt: “Gạch phải dùng bàn chải kỳ cọ rửa cho thật bóng từng viên. Cát cho vào rổ đãi từng mẻ như đãi “gạo mậu dịch” rồi mới được trộn xi măng… ”. Chuồng xây xong, tường 20 chắc như Thành nhà Hồ.

Tiếp công trình chuồng heo là tới công trình làm “cầu tõm” để nuôi cá. Sẵn vườn rộng lại có cả ao, ba thanh niên quen việc nhà nông vèo một cái, ao được vét, bờ đắp phẳng phiu. “Cầu tõm” như thủy tạ xinh xắn, dựng giữa ao.




Nhà nổi                             - sơn mài    FLựcNhà nổi - sơn mài FLực
Sau khi công trình hoàn thành ông già tuyên bố:
- Trừ đàn bà con gái, từ nay cấm tiệt không đứa nào được ỉa trong nhà, đái thì ra ngoài vườn, iả thì ra “cầu tõm”; đỡ tốn nước, một công đôi việc; đầu vào đầu ra không mất đi đâu, lại có cá ăn; nếu khéo còn có cả cá bán.

Cá nuôi, rặt một giống cá tra háu ăn, chóng lớn. Nhà tôi gần sông SG, mỗi kỳ đầu tháng con nước lớn, nhất là vào cuối năm nước dâng gần sát mặt “cầu”. Cánh đàn ông mỗi lần ngồi “cầu” trong những dịp như thế phải biết mẹo. “Bom” vừa rời khỏi đít là đồng bộ phải nhổm người lên ngay, một để tránh nước bắn lên đít, hai là tránh trường hợp cá tưởng nhầm “bộ tư lệnh” là “bom” lao lên đớp. (Nghe đồn dưới miền Tây đã có trường hợp đi “cầu” bị cá tra đớp mất dái nên tôi cẩn thận dặn mấy đứa cháu. Nghe chú dặn mỗi lần “có việc” một tay cầm giấy, một tay Diễn cẩn thận thò xuống dưới che.

“Thủy tạ” trống huơ trống hoác, tấm ván phía trước chỉ che tới rốn, mặt mũi lồ lộ giữa bàn dân thiên hạ, mót mấy thì mót Diễn phải dịn chờ đêm đến, sau này mới dần dần quen đi. Ngày ấy khổ thật, đến giấy chùi đít cũng hiếm, toàn phải sử dụng các loại phế liệu, được giấy báo đã là sang lắm. Có hôm bí quá phải dùng cả giấy xi măng, chùi đến toạc cả đít. Một buổi trưa, thằng cu Tuấn con bà chị dâu tôi từ “cầu cá” về, buồi dái lồng lộng, quần đùi vắt cổ, vừa đi vừa khóc vống lên y hệt con dâu nghe tin mẹ chồng chết. “Hu… hu… hu… chỉ có anh Diễn, chỉ có anh Diễn xé giấy khen của em chùi đít… Hu …hu…hu…”, vừa đi hai tay cu Tuấn vừa chắp những mảnh giấy khen bị xé vứt ở thùng rác ngoài “cầu cá”.

- Cháu bị oan! - Diễn giờ mới phân bua - Cuối cùng thủ phạm là thằng cu Hải chứ không phải cháu.

... Sau “thủy tạ” lại tới công trình làm chuồng nuôi chim cút. Chuồng đóng xong là đi bắt chim giống về nuôi. Nào cám, nào nước, nào phun thuốc phòng bệnh. Nghe người ta mách bà già bắt thằng em xuống tận Nhật Tảo mua thuốc kích thích về trộn cho cút ăn. Cút đẻ trứng to trông thấy; có con ngày đẻ hai bận trứng; to thì to thật nhưng không tròn mà vẹo vọ, lồi lõm như ung thư. Có con lăn ra chết. Ông già bắt mổ khám nghiệm “tử thi”. Thì ra cút chết là do trứng to quá đẻ không được.

Sợ nhất là làm vệ sinh chuồng trại, Diễn rụt đầu: “Mỗi lần dọn chuồng là mỗi lần cháu nôn thốc nôn tháo, mùi phân cút tanh như cứt thằng kiết lị…”.

Xem tiếp:
  1. Truyện dài: Diễn (2) - 21/01/2012, Blog K6.
  2. Truyện dài: Diễn (3) - 22/01/2012, Blog K6.
  3. Truyện dài: Diễn (4) - 23/01/2012, Blog K6.
  4. Truyện dài: Diễn (5) - Hết - 24/01/2012, Blog K6.

 ❧ ❀ ❧ 

Đăng lại bài viết của Đào Duy (đã đăng tại Báo liếp K5: Thứ sáu, ngày 20 tháng một năm 2012).

Diễn (1)

_ Đào Duy _
 
Quán Café mà Diễn hẹn gặp tôi nằm dưới chân “đồi Palace”. Ngồi trong quán nhìn qua con đường là hồ Xuân Hương, chạy dọc bờ hồ là hàng anh đào khẳng khiu đang mùa thay lá. Mất một lúc tôi mới nhận ra người trước mặt mình.
- Ngoài đường không hẹn trước thì chú, cháu chả tài nào nhận được ra nhau.
- Chú già đi, tóc bạc nhiều... - Diễn ngập ngừng.
- Ừ!… Gần ba chục năm rồi còn gì.
Hai chú cháu ngồi im lặng. Sự lặng im như tiếng chuông gõ vào quá khứ đã xa của hai chú cháu…

... Diễn là con người anh ruột chị dâu tôi. Quãng đầu những năm 1980, Diễn cùng với hai người cháu họ ngoài quê khăn gói vào Sài Gòn nhờ ông già tôi xin việc.

“Sài Gòn thiếu gì việc, vào nhờ ông xin cho. Ở quê ít học, lười làm, ham chơi như lũ chúng mày có mà đi nhặt cứt”. Bố mẹ chúng cháu nói thế rồi bảo vào Sài Gòn cậy nhờ ông.

Lếch thếch bước chân vào Sài Gòn, sau bữa cơm chiều chuyện trò, thăm hỏi họ hàng làng xóm là tới màn ông già tôi chửi ba đứa cháu:

- Mẹ tiên sư chúng mày, kéo cả lũ vào một lúc chả báo cáo, báo cầy. Ai lại quần áo thì nhất bộ, túi thì không một xu, đến cái xi lip rách cũng không có, vào bỏ bom, bắt ép ông chả khác nào ngày xưa chiến tranh cấp trên ép ông thúc lính ra trận, trong khi quân lính thì thiếu, ốm đau bệnh tật… Cho đi bộ đội tuốt, chờ có đợt tao sẽ gửi đi rèn. Đứa nào chịu được thì ở, đứa nào thối chí thì về.

Ba đứa cháu tá túc nhà tôi. Ba thanh niên tuổi ăn tuổi ngủ, chỉ vài ngày vèo chục ký gạo. Cũng may thỉnh thoảng ông già đi công tác miền Tây, nhờ xe biển đỏ nên kết hợp được tí gạo về ăn thêm; chứ trông chờ vào tem phiếu thì nhe răng.

Ngày ấy cả nước đói, gia đình tôi phải nghĩ ra bao nhiêu cách để tìm cái bỏ thêm vào mồm cải thiện cuộc sống. Đầu tiên là làm chuồng để nuôi heo. Sẵn mấy đứa cháu, ông già tôi “khoán”. Ba thanh niên phân công nhau một rửa gạch, một đãi cát, một xây. Chả biết có phải để rèn luỵện hay không mà ông già bắt: “Gạch phải dùng bàn chải kỳ cọ rửa cho thật bóng từng viên. Cát cho vào rổ đãi từng mẻ như đãi “gạo mậu dịch” rồi mới được trộn xi măng… ”. Chuồng xây xong, tường 20 chắc như Thành nhà Hồ.

Tiếp công trình chuồng heo là tới công trình làm “cầu tõm” để nuôi cá. Sẵn vườn rộng lại có cả ao, ba thanh niên quen việc nhà nông vèo một cái, ao được vét, bờ đắp phẳng phiu. “Cầu tõm” như thủy tạ xinh xắn, dựng giữa ao.




Nhà nổi                             - sơn mài    FLựcNhà nổi - sơn mài FLực
Sau khi công trình hoàn thành ông già tuyên bố:
- Trừ đàn bà con gái, từ nay cấm tiệt không đứa nào được ỉa trong nhà, đái thì ra ngoài vườn, iả thì ra “cầu tõm”; đỡ tốn nước, một công đôi việc; đầu vào đầu ra không mất đi đâu, lại có cá ăn; nếu khéo còn có cả cá bán.

Cá nuôi, rặt một giống cá tra háu ăn, chóng lớn. Nhà tôi gần sông SG, mỗi kỳ đầu tháng con nước lớn, nhất là vào cuối năm nước dâng gần sát mặt “cầu”. Cánh đàn ông mỗi lần ngồi “cầu” trong những dịp như thế phải biết mẹo. “Bom” vừa rời khỏi đít là đồng bộ phải nhổm người lên ngay, một để tránh nước bắn lên đít, hai là tránh trường hợp cá tưởng nhầm “bộ tư lệnh” là “bom” lao lên đớp. (Nghe đồn dưới miền Tây đã có trường hợp đi “cầu” bị cá tra đớp mất dái nên tôi cẩn thận dặn mấy đứa cháu. Nghe chú dặn mỗi lần “có việc” một tay cầm giấy, một tay Diễn cẩn thận thò xuống dưới che.

“Thủy tạ” trống huơ trống hoác, tấm ván phía trước chỉ che tới rốn, mặt mũi lồ lộ giữa bàn dân thiên hạ, mót mấy thì mót Diễn phải dịn chờ đêm đến, sau này mới dần dần quen đi. Ngày ấy khổ thật, đến giấy chùi đít cũng hiếm, toàn phải sử dụng các loại phế liệu, được giấy báo đã là sang lắm. Có hôm bí quá phải dùng cả giấy xi măng, chùi đến toạc cả đít. Một buổi trưa, thằng cu Tuấn con bà chị dâu tôi từ “cầu cá” về, buồi dái lồng lộng, quần đùi vắt cổ, vừa đi vừa khóc vống lên y hệt con dâu nghe tin mẹ chồng chết. “Hu… hu… hu… chỉ có anh Diễn, chỉ có anh Diễn xé giấy khen của em chùi đít… Hu …hu…hu…”, vừa đi hai tay cu Tuấn vừa chắp những mảnh giấy khen bị xé vứt ở thùng rác ngoài “cầu cá”.

- Cháu bị oan! - Diễn giờ mới phân bua - Cuối cùng thủ phạm là thằng cu Hải chứ không phải cháu.

... Sau “thủy tạ” lại tới công trình làm chuồng nuôi chim cút. Chuồng đóng xong là đi bắt chim giống về nuôi. Nào cám, nào nước, nào phun thuốc phòng bệnh. Nghe người ta mách bà già bắt thằng em xuống tận Nhật Tảo mua thuốc kích thích về trộn cho cút ăn. Cút đẻ trứng to trông thấy; có con ngày đẻ hai bận trứng; to thì to thật nhưng không tròn mà vẹo vọ, lồi lõm như ung thư. Có con lăn ra chết. Ông già bắt mổ khám nghiệm “tử thi”. Thì ra cút chết là do trứng to quá đẻ không được.

Sợ nhất là làm vệ sinh chuồng trại, Diễn rụt đầu: “Mỗi lần dọn chuồng là mỗi lần cháu nôn thốc nôn tháo, mùi phân cút tanh như cứt thằng kiết lị…”.

Xem tiếp:
  1. Truyện dài: Diễn (2) - 21/01/2012, Blog K6.
  2. Truyện dài: Diễn (3) - 22/01/2012, Blog K6.
  3. Truyện dài: Diễn (4) - 23/01/2012, Blog K6.
  4. Truyện dài: Diễn (5) - Hết - 24/01/2012, Blog K6.

 ❧ ❀ ❧ 

Đăng lại bài viết của Đào Duy (đã đăng tại Báo liếp K5: Thứ sáu, ngày 20 tháng một năm 2012).

Thứ Sáu, 8 tháng 7, 2011

Truyện nhiều kỳ: Ba thằng bạn cùng làng (8) - Duy Đảo




Quãng năm 1967-68 chả biết quy hoạch “nhầm” hay đo đạc thế chó nào mà Bộ Quốc phòng lại phê duyệt cho đường ống dẫn dầu quân sự dã chiến chạy qua làng tôi. Lúc đầu bà con trong làng hãi lắm, chỉ sợ máy bay trinh sát Mỹ nó “soi” thấy. Cái kẹp tóc trên đầu các mẹ máy bay nó còn chụp hình, to như đòn gánh huống hồ đường ống dẫn dầu lừng lững như bắp đùi bà chửa mà đoạn qua làng dài cả chục cây số chứ có ít đâu. Nó mà bỏ bom thì tan hết làng chứ chả chơi.

Nhưng mãi sau này chả thấy bom đạn gì, hoá ra toàn tin vịt cả. Thỉnh thoảng ống dầu bị vỡ, bà con trong làng đổ xô nhau đi vớt. Có nhà đổ cả bể 2-3 khối nước mưa tích trữ ăn uống quanh năm để chứa dầu. Khi có tin ống dầu vỡ bà con trong làng chạy như chạy giặc. Người cầm chậu, người cầm nồi… thôi thì cứ cái gì vớt, chứa được dầu là vơ vội lao đi.

Vinh kể có một lần sau khi ngâm nước tới ngang lưng để vớt dầu. Vớt xong cánh đàn bà con gái lên bờ gánh dầu về nhà. Vừa bước lên bờ cứ thế quần chị em tuột xuống tận háng, mông trắng phau. Đồng loạt chả ai bảo ai như duyệt binh, chị em ngồi thụp xuống, bỏ cả dầu lấy tay che, thế là công cốc, dầu vớt được đổ hết. Có bà, có cô còn bị “dầu ăn” dị ứng, sưng hết cả bộ phận phụ khoa, phải lên tận bệnh viện huyện điều trị tốn khối tiền.

Sau này sau khi tìm nguyên nhân, Vinh giải thích: “Dầu là dung môi, nó giống như là… món xáo chó, khi ta hầm xương phải cho đu đủ xanh vào cho chóng nhừ, cho nên cao su gặp dầu cũng giống thế, sẽ bị mủn ra, mà cạp quần chị em ta luồn toàn thun cao su từ xăm xe đạp cũ cắt ra nên sau thời gian ngâm dầu cao su bị phân huỷ, thành thử chun quần không còn tác dụng nữa nên quần các mẹ bị tuột là vì thế". “Đúng là con nhà có học có khác”. Bà con nghe Vinh giải thích thế mới chịu.

Năm 71 Vinh nhập ngũ. Vì có văn hoá nên Vinh được chọn đi học lái xe. Tình cờ trong bộ phận tuyển quân có ông sỹ quan ở binh chủng “đặc biệt”, thấy Vinh trắng trẻo đẹp trai cao ráo lại có văn hoá nên ông điều đình với bộ phận lái xe để xin. Thế là Vinh trở thành người lính.

Sau huấn luyệnVinh và một số chiến sỹ được chọn lọc nhận nhiệm vụ “đặc biệt”: thay mặt cho hàng ngàn, hàng vạn người lính ra trận được ở lại miền Bắc, ngay thủ đô, trực tiếp bảo vệ đảng, bảo vệ cơ quan đầu não TW.

Cả đời binh nghiệp mấy chục năm không mấy khi Vinh phải xa thủ đô yêu dấu. Sau 3 tháng huấn luyện, khởi đầu làm lien lạc kiêm công vụ cho cán bộ tiều đoàn. Vinh thật thà chịu khó lại có văn hoá, chữ đẹp, viết lách được, không nghiện ngập thuốc xái, trà cháo thì chả biết. (Toàn những “thứ” mà chỉ cần nghe lướt qua, thủ trưởng dù khó tính cách mấy cũng phải xiêu long). Cho nên mấy năm sau nhập ngũ Vinh bị các thủ trưởng giữ rịt, không cho đi đâu.

Rồi các thủ trưởng cho Vinh ôn văn hoá thi đại học, Vinh chọn đại học Pháp lý. Bốn năm đèn sách từ anh hạ sỹ quan Vinh tốt nghiệp chuyển ngạch và được điều động về bộ tư lệnh làm chuyên môn. Ngày ấy tốt nghiệp đại học luật còn hiếm, nhất là trong quân đội nên Vinh như “mỳ chính cánh”. Từ trợ lý dần dần theo năm tháng Vinh lên chức cao dần, bây giờ quân hàm đại tá. Lương tháng hơn chục triệu, được cấp đất xây nhà giữa thủ đô. Gia đình Vinh hạnh phúc, vợ bác sỹ, con cái ngoan ngoãn, xinh xắn, học giỏi. Nhìn gia cảnh bạn chúng tôi thèm dỏ rãi.

Thỉnh thoảng gặp nhau trong ngôi nhà mấy tầng to đẹp của Vinh, quen cung cách bỗ bã “làng Lằn”, có lần tôi buột miệng: “Tiền ông đào đâu ra mà sẵn thế?”.


Tranh  F.LựcTranh F.Lực
Vẫn thật thà chả giấu tôi, Vinh chậm rãi: “Ngày xưa thời còn hàn vi thì vợ chồng tớ nấu rượu, nuôi lợn, tích cóp mỗi năm mỗi tí. Sau này lương lậu khá hơn, hai vợ chống tằn tiện mỗi năm cũng dư chút chút. Khi phố xá văn minh, bà con chửi quá đành phải bỏ nuôi lợn (dù đã bao năm kinh nghiệm!). Phân lợn ông biết rồi đấy, nó thối quá bà con khối phố chịu không nổi. Thế là phèo! Nguồn thu chính bị mất nhưng bù lại, thời gian đó tớ được “cử” đi làm kinh tế ở vùng biển phía nam.

Nói là đi làm kinh tế chứ thực chất là đi giám sát các tàu đánh cá của Thái. Theo thoả thuận với ta, tàu cá Thái được đánh bắt trong lãnh hải của ta ở một số toạ độ nhất định, nhà nước thu tiền. Để kiểm soát ta cử sỹ quan chuyên trách đi cùng với tàu bạn để kiểm tra việc thực hiện quy định. Chỉ cần xuê xoa một tí là có tiền bồi dưỡng. Cho nên mỗi chuyến như thế khi về, ngoài quà cho vợ mấy cặp xilíp Thái, cái quần bò cho con… anh em đơn vị ký tôm,  ký mực khô; quà cho thủ trưởng thì… hì… hì… Cậu biết rồi đấy...”.
Vinh nói, hai mắt tít lại cười.

Đêm đầu tiên sau mấy tháng xa nhà, dù đã có quà cho vợ mà nàng vẫn ấm ức chổng mông về phía mình. Tức mình tớ mới vén màn chui ra tìm cái ca táp kéo phẹc-mơ-tuya ngăn đựng giấy tờ lôi cái phong bì day dày mà chủ tàu Thái nó biếu trước khi chia tay, rồi chui vào màn dúi cho vợ. Nàng bật dậy như robôt ôm chầm lấy tớ  “Thế mà cứ giấu. Đồ chết tiệt, thôi cởi nốt ra, nhanh lên đang thèm muốn chết đây!”. Căn phòng bỗng chốc tối om.

Mỗi năm đều đều ra bắc vào nam, xuống đơn vị kiểm tra. Nhất là khi có vụ việc vi phạm pháp luật dưới đơn vị, mà chuyện đó không nhỏ thì to, đơn vị nào mà chả có. Anh em họ quý, mỗi lần xuống giải quyết như thế cũng có đồng ra đồng vào. Tích tiểu thành đại, bao nhiêu năm bóp mồm bóp miệng hà tiện cho nên ông hỏi tại sao “sẵn tiền” thì tình thực là vậy, chả giấu gì ông.


Ngắm kỹ Vinh dù đã gần 60 nhưng trông thằng bạn vẫn phong độ, da trắng hồng, tính tình vẫn như xưa chất phác, hồn hậu, chu đáo. Tôi nói với Vinh: “Tiếc là ông thầy Khúc ở chùa làng không còn, nhưng dù đã mất ông cũng nên sắm cái lễ về quê thắp nhang tạ ơn ông ấy”.
….

Có phải là số phận không? Tôi cứ đắn đo tự hỏi rồi lại tự giả nhời. Nhiều khi không muốn tin nhưng như cuộc đời của ba thằng bạn cùng làng mà tôi vừa kể cho các bạn nghe kia thì là cái quái gì nhỉ? Chẳng lẽ không phải là số phận!

Đúng như lời ông thầy Khúc ở chùa làng “Cuộc đời mỗi người sướng khổ đều do trời đất sắp đặt cả, chả ai thoát và chọn lựa được số phận”.
 

Xem:
  1. Ba thằng bạn cùng làng (1) -  22/06/2011, Blog K6.
  2. Ba thằng bạn cùng làng (2) -  24/06/2011, Blog K6.
  3. Ba thằng bạn cùng làng (3) -  27/06/2011, Blog K6.
  4. Ba thằng bạn cùng làng (4) -  30/06/2011, Blog K6.
  5. Ba thằng bạn cùng làng (5) -  03/07/2011, Blog K6.
  6. Ba thằng bạn cùng làng (6) -  05/07/2011, Blog K6.
  7. Ba thằng bạn cùng làng (7) -  06/07/2011, Blog K6.
  8. Ba thằng bạn cùng làng (8) -  08/07/2011, Blog K6.
 ❧ ❀ ❧ 


Đăng lại bài viết của Duy Đảo (đã đăng tại Blog bantroi5: Thứ sáu, ngày 08 tháng bảy năm 2011).






Quãng năm 1967-68 chả biết quy hoạch “nhầm” hay đo đạc thế chó nào mà Bộ Quốc phòng lại phê duyệt cho đường ống dẫn dầu quân sự dã chiến chạy qua làng tôi. Lúc đầu bà con trong làng hãi lắm, chỉ sợ máy bay trinh sát Mỹ nó “soi” thấy. Cái kẹp tóc trên đầu các mẹ máy bay nó còn chụp hình, to như đòn gánh huống hồ đường ống dẫn dầu lừng lững như bắp đùi bà chửa mà đoạn qua làng dài cả chục cây số chứ có ít đâu. Nó mà bỏ bom thì tan hết làng chứ chả chơi.

Nhưng mãi sau này chả thấy bom đạn gì, hoá ra toàn tin vịt cả. Thỉnh thoảng ống dầu bị vỡ, bà con trong làng đổ xô nhau đi vớt. Có nhà đổ cả bể 2-3 khối nước mưa tích trữ ăn uống quanh năm để chứa dầu. Khi có tin ống dầu vỡ bà con trong làng chạy như chạy giặc. Người cầm chậu, người cầm nồi… thôi thì cứ cái gì vớt, chứa được dầu là vơ vội lao đi.

Vinh kể có một lần sau khi ngâm nước tới ngang lưng để vớt dầu. Vớt xong cánh đàn bà con gái lên bờ gánh dầu về nhà. Vừa bước lên bờ cứ thế quần chị em tuột xuống tận háng, mông trắng phau. Đồng loạt chả ai bảo ai như duyệt binh, chị em ngồi thụp xuống, bỏ cả dầu lấy tay che, thế là công cốc, dầu vớt được đổ hết. Có bà, có cô còn bị “dầu ăn” dị ứng, sưng hết cả bộ phận phụ khoa, phải lên tận bệnh viện huyện điều trị tốn khối tiền.

Sau này sau khi tìm nguyên nhân, Vinh giải thích: “Dầu là dung môi, nó giống như là… món xáo chó, khi ta hầm xương phải cho đu đủ xanh vào cho chóng nhừ, cho nên cao su gặp dầu cũng giống thế, sẽ bị mủn ra, mà cạp quần chị em ta luồn toàn thun cao su từ xăm xe đạp cũ cắt ra nên sau thời gian ngâm dầu cao su bị phân huỷ, thành thử chun quần không còn tác dụng nữa nên quần các mẹ bị tuột là vì thế". “Đúng là con nhà có học có khác”. Bà con nghe Vinh giải thích thế mới chịu.

Năm 71 Vinh nhập ngũ. Vì có văn hoá nên Vinh được chọn đi học lái xe. Tình cờ trong bộ phận tuyển quân có ông sỹ quan ở binh chủng “đặc biệt”, thấy Vinh trắng trẻo đẹp trai cao ráo lại có văn hoá nên ông điều đình với bộ phận lái xe để xin. Thế là Vinh trở thành người lính.

Sau huấn luyệnVinh và một số chiến sỹ được chọn lọc nhận nhiệm vụ “đặc biệt”: thay mặt cho hàng ngàn, hàng vạn người lính ra trận được ở lại miền Bắc, ngay thủ đô, trực tiếp bảo vệ đảng, bảo vệ cơ quan đầu não TW.

Cả đời binh nghiệp mấy chục năm không mấy khi Vinh phải xa thủ đô yêu dấu. Sau 3 tháng huấn luyện, khởi đầu làm lien lạc kiêm công vụ cho cán bộ tiều đoàn. Vinh thật thà chịu khó lại có văn hoá, chữ đẹp, viết lách được, không nghiện ngập thuốc xái, trà cháo thì chả biết. (Toàn những “thứ” mà chỉ cần nghe lướt qua, thủ trưởng dù khó tính cách mấy cũng phải xiêu long). Cho nên mấy năm sau nhập ngũ Vinh bị các thủ trưởng giữ rịt, không cho đi đâu.

Rồi các thủ trưởng cho Vinh ôn văn hoá thi đại học, Vinh chọn đại học Pháp lý. Bốn năm đèn sách từ anh hạ sỹ quan Vinh tốt nghiệp chuyển ngạch và được điều động về bộ tư lệnh làm chuyên môn. Ngày ấy tốt nghiệp đại học luật còn hiếm, nhất là trong quân đội nên Vinh như “mỳ chính cánh”. Từ trợ lý dần dần theo năm tháng Vinh lên chức cao dần, bây giờ quân hàm đại tá. Lương tháng hơn chục triệu, được cấp đất xây nhà giữa thủ đô. Gia đình Vinh hạnh phúc, vợ bác sỹ, con cái ngoan ngoãn, xinh xắn, học giỏi. Nhìn gia cảnh bạn chúng tôi thèm dỏ rãi.

Thỉnh thoảng gặp nhau trong ngôi nhà mấy tầng to đẹp của Vinh, quen cung cách bỗ bã “làng Lằn”, có lần tôi buột miệng: “Tiền ông đào đâu ra mà sẵn thế?”.


Tranh  F.LựcTranh F.Lực
Vẫn thật thà chả giấu tôi, Vinh chậm rãi: “Ngày xưa thời còn hàn vi thì vợ chồng tớ nấu rượu, nuôi lợn, tích cóp mỗi năm mỗi tí. Sau này lương lậu khá hơn, hai vợ chống tằn tiện mỗi năm cũng dư chút chút. Khi phố xá văn minh, bà con chửi quá đành phải bỏ nuôi lợn (dù đã bao năm kinh nghiệm!). Phân lợn ông biết rồi đấy, nó thối quá bà con khối phố chịu không nổi. Thế là phèo! Nguồn thu chính bị mất nhưng bù lại, thời gian đó tớ được “cử” đi làm kinh tế ở vùng biển phía nam.

Nói là đi làm kinh tế chứ thực chất là đi giám sát các tàu đánh cá của Thái. Theo thoả thuận với ta, tàu cá Thái được đánh bắt trong lãnh hải của ta ở một số toạ độ nhất định, nhà nước thu tiền. Để kiểm soát ta cử sỹ quan chuyên trách đi cùng với tàu bạn để kiểm tra việc thực hiện quy định. Chỉ cần xuê xoa một tí là có tiền bồi dưỡng. Cho nên mỗi chuyến như thế khi về, ngoài quà cho vợ mấy cặp xilíp Thái, cái quần bò cho con… anh em đơn vị ký tôm,  ký mực khô; quà cho thủ trưởng thì… hì… hì… Cậu biết rồi đấy...”.
Vinh nói, hai mắt tít lại cười.

Đêm đầu tiên sau mấy tháng xa nhà, dù đã có quà cho vợ mà nàng vẫn ấm ức chổng mông về phía mình. Tức mình tớ mới vén màn chui ra tìm cái ca táp kéo phẹc-mơ-tuya ngăn đựng giấy tờ lôi cái phong bì day dày mà chủ tàu Thái nó biếu trước khi chia tay, rồi chui vào màn dúi cho vợ. Nàng bật dậy như robôt ôm chầm lấy tớ  “Thế mà cứ giấu. Đồ chết tiệt, thôi cởi nốt ra, nhanh lên đang thèm muốn chết đây!”. Căn phòng bỗng chốc tối om.

Mỗi năm đều đều ra bắc vào nam, xuống đơn vị kiểm tra. Nhất là khi có vụ việc vi phạm pháp luật dưới đơn vị, mà chuyện đó không nhỏ thì to, đơn vị nào mà chả có. Anh em họ quý, mỗi lần xuống giải quyết như thế cũng có đồng ra đồng vào. Tích tiểu thành đại, bao nhiêu năm bóp mồm bóp miệng hà tiện cho nên ông hỏi tại sao “sẵn tiền” thì tình thực là vậy, chả giấu gì ông.


Ngắm kỹ Vinh dù đã gần 60 nhưng trông thằng bạn vẫn phong độ, da trắng hồng, tính tình vẫn như xưa chất phác, hồn hậu, chu đáo. Tôi nói với Vinh: “Tiếc là ông thầy Khúc ở chùa làng không còn, nhưng dù đã mất ông cũng nên sắm cái lễ về quê thắp nhang tạ ơn ông ấy”.
….

Có phải là số phận không? Tôi cứ đắn đo tự hỏi rồi lại tự giả nhời. Nhiều khi không muốn tin nhưng như cuộc đời của ba thằng bạn cùng làng mà tôi vừa kể cho các bạn nghe kia thì là cái quái gì nhỉ? Chẳng lẽ không phải là số phận!

Đúng như lời ông thầy Khúc ở chùa làng “Cuộc đời mỗi người sướng khổ đều do trời đất sắp đặt cả, chả ai thoát và chọn lựa được số phận”.
 

Xem:
  1. Ba thằng bạn cùng làng (1) -  22/06/2011, Blog K6.
  2. Ba thằng bạn cùng làng (2) -  24/06/2011, Blog K6.
  3. Ba thằng bạn cùng làng (3) -  27/06/2011, Blog K6.
  4. Ba thằng bạn cùng làng (4) -  30/06/2011, Blog K6.
  5. Ba thằng bạn cùng làng (5) -  03/07/2011, Blog K6.
  6. Ba thằng bạn cùng làng (6) -  05/07/2011, Blog K6.
  7. Ba thằng bạn cùng làng (7) -  06/07/2011, Blog K6.
  8. Ba thằng bạn cùng làng (8) -  08/07/2011, Blog K6.
 ❧ ❀ ❧ 


Đăng lại bài viết của Duy Đảo (đã đăng tại Blog bantroi5: Thứ sáu, ngày 08 tháng bảy năm 2011).



Thứ Tư, 6 tháng 7, 2011

Truyện nhiều kỳ: Ba thằng bạn cùng làng (7) - Duy Đảo




Tình yêu - Sơn dầu  F.LựcTình yêu - Sơn dầu F.Lực
Như lời ông thầy Khúc ở chùa làng thì số của Vinh “sướng từ bé sướng đi”.

Lúc mới sinh Vinh đã mũm mĩm, mặt phật, da trắng, tai to và đặc biệt là dễ nuôi. Nghe bu Vinh nói: “Thằng này ngày bé khi được vài tháng tuổi chỉ cần nước cơm hoà tí nuối hột là nó có thể đả hàng bát”. Bố Vinh là cán bộ nhà nước, ăn tem phiếu. Trong kháng chiến chống Pháp ông từng là xã đội trưởng du kích, hoà bình lập lại thì thoát ly, là cán bộ trong ngành lương thực lên tới chức trưởng phòng của sở. Ông ít khi về, thỉnh thoảng mới tạt qua nhà khi có việc như cúng giỗ, ma chay, cưới xin… hoặc lắm khi mua được chục ký gạo, ít mỳ chính hay vài thước vải, cái lốp xe phân phối… ông mới qua nhà, đem về cho vợ cho con.

Nhớ cái ngày mới có mỳ chính do Trung Quốc viện trợ,  một lần bố Vinh về phép, sau khi mâm cơm được dọn có đĩa rau muống luộc, bát nước rau vắt chanh, bát mắm cáy và quả trứng vịt sốt cà chua. Cả nhà đã yên vị quanh mâm cơm, ông mới từ tốn lôi ở túi áo ngực ra cái lọ Pelexicline rồi trịnh trọng:

- Vinh đâu! Lấy cho bố cái tăm.

Cầm cây tăm nhúng vào bát nước rau, sau khi vẩy cho cây tăm bớt nước, ông mới từ tốn mở lọ Pelexicline cắm que tăm vào rồi rút ra nhúng vào bát nước rau. Dùng muôi ngoáy cho đều, múc một ít đưa lên miệng nhấp nhấp môi, mắt nhắm lại, ông gật gù: “Ngon… tuyệt !”. Cả nhà ngạc nhiên, ngỡ ngàng rồi vui vẻ xơi bữa cơm sum họp.

- Bà thấy thế nào? Có ngọt không? Mỳ chính Trung Quốc đấy. Mấy anh em được phân phối chia nhau. Tôi trưởng phòng nên được cả lọ, anh em khác chỉ được nửa lọ thôi. – Ông giải thích.

- Tôi thấy chả có vị gì. - Bà thật thà. Rồi chợt nhận ra lỡ lời, không muốn làm ông và các con mất vui bà nói vớt - Hình như có ngọt hơn một tẹo thì phải!

Một hôm đặt nồi cháo suông. Sau khi cháo đã nhuyễn bà lấy lọ mỳ chính ra nêm nếm theo như cách của ông.

- Cháo nhạt toèn toẹt chả ra chó gì - Bà lầm bầm.

Tức mình bà dốc cả lọ vào nồi. Trời ơi! nó ngang và lợ không thể nuốt nổi, thế là đành phải đổ nồi cháo cho lợn.

… Khi học cấp ba, Vinh phải trọ học ở phố huyện cho gần trường, vì từ nhà tới huyện hơn chục cây số. Nhà nghèo ăn còn bữa đói bữa no, đào đâu ra xe đạp mà đi, họa có mơ. Vinh kể: Vinh trọ học ở nhà tay y sỹ tên Tược. Ông Tược có tật từ bé bị thọt một chân, là cán bộ phòng y tế phụ trách khối “sinh đẻ kế hoạch” của huyện. Ngoài giờ học Vinh hay phụ giúp gia đình chủ nhà nên tay y sỹ rất quý.

Một lần về nhà ngày chủ nhật, tay y sỹ nói với Vinh: “Cho chú mày cái này về nhà, làm quà đón tay cho mấy đứa em”. Vừa nói tay y sỹ vừa dúi cho Vinh một bọc giấy báo to. Về nhà lôi bọc quà mở ra chia cho các em thì ra một bọc toàn “bong bóng bay”. Mấy đứa em la lên mừng rỡ.

- Cái này chúng em phải đổi cả bộ lông gà cho mấy bà ve chai mới được một cái đấy, một hào chỉ được hai cái thôi.


- Ô hay! Sao bong bóng này miệng nó lại to thế nhỉ. Chỉ được cái thổi bao nhiêu hơi cũng chả vỡ, dai thật đấy. Thậm chí thổi chán đổ đầy nước vào chơi, nó dài ngoẵng ra như quả bí xanh,  nhún nhảy lên xuống như Tôn Ngộ Không đánh Bạch Cốt Tinh trong phim Tàu, còn dai hơn cả bong bóng lợn ngày tết.

Vừa nghe thấy mấy đứa em nói “một hào chỉ được có 2 cái”, trong đầu Vinh đã nghĩ ngay ra “tiền”. Bọc này chí ít cũng cả trăm cái chứ chả chơi. Thế là Vinh nói với mấy đứa em. Chỉ một loáng sau trẻ con trong làng đã đổ dồn về nhà Vinh. Bọc bong bóng hết veo. Vinh bán rẻ một hào 3 cái. Bỗng dung phút chốc trong lưng quần Vinh có tới bốn năm đồng bạc. Số tiền này bu Vinh có bán phần tư số thóc vụ mùa cũng chả ra.

Thế là lần sau Vinh lại xin tay y sỹ. Vinh thật thà nói là bán cho đám trẻ trong làng làm bóng bay được tiền, nên tay y sỹ bắt Vinh phải “ăn chia”. Phi vụ này Vinh làm ăn khá,sắm được cả kính đen, những 3 đồng bạc. Đeo cho oách với lại cũng đỡ nhức mắt những trưa hè nghỉ học cuốc bộ về quê.

Mãi sau này nghe mấy bà sồn sồn trong làng kháo nhau Vinh mới vỡ nhẽ nó không phải là bong bóng bay bình thường mà là cái túi chuyên dùng, để bịt “b…” đàn ông, khi vợ chồng gần nhau cho khỏi đẻ con. Lúc đầu bà con thấy hay hay sợ đẻ đái, con cái nhiều lấy cứt cho chúng ăn. Với lại được nhà nước cho không tội gì, thử cho biết. Vậy mà sau này chả ai thèm dùng, cho không cũng chả ai “dây”. Nên mới có chuyện trong buồng tay y sỹ phụ trách khâu đẻ đái kế hoạch tồn hàng ngàn cái bao cao su là vì thế. Qua thực tế sử dụng bà con phản ảnh với tổ chức “Đeo cái của nợ ấy vào vướng víu, cồm cộm, khó chịu lắm, mất cả sướng”. Có ông khi sử dụng sau một hồi thao tác liền vùng dậy tháo ra vứt đến xoạch một cái xuống gậm giường, lầm bầm chửi: “Mẹ tiên sư nó, ăn đã phải độn quanh năm, giờ đến cái khoản sung sướng này cũng lại phải độn nữa thì chết quách đi cho nó xong, sống ở đời làm quái gì nữa”.

Rồi tự dưng đang nằm lim dim gãi đùi vợ, bỗng nghe thấy tiếng hai con chó cắn nhau ỳ xéo dưới gậm giường: “Thôi chết! chúng tranh nhau cái của nợ kia, không khéo ăn vào không tiêu hoá được lăn ra chết thì toi”. Hai con chó con mới mua mất đồng bạc tận chợ huyện. Tự dưng lại đi chuốc gánh lo vào người đúng là…

Vinh kể ông Tược thọt sau này khổ, bị mất chức, thu hồi đảng tịch về vườn vì tội hủ hoá. Ông bị bắt quả tang khi đang luyến ái, trên người chả còn tí quần áo. Dân quân cứ thế còng tay dong ông dọc con phố từ kho thương nghiệp sang công an huyện. Bà con đổ ra xem tụm năm tụm bảy chỉ trỏ rồi thì thầm: “Người chả ra người, một chân thì to, một chân thì bé, mà cái chân bé sao lại ngắn thế nhỉ? Các bà nhìn kìa… chỉ được cái ấy thì…”. Một bà cao hứng thò cả tay ra chỉ. Mấy bà trong nhóm nhìn theo rồi vội quay đi úp mặt vào lưng nhau, cười ré lên hai tay vỗ thùm thụp.
...
(Còn tiếp).

Xem:
  1. Ba thằng bạn cùng làng (1) -  22/06/2011, Blog K6.
  2. Ba thằng bạn cùng làng (2) -  24/06/2011, Blog K6.
  3. Ba thằng bạn cùng làng (3) -  27/06/2011, Blog K6.
  4. Ba thằng bạn cùng làng (4) -  30/06/2011, Blog K6.
  5. Ba thằng bạn cùng làng (5) -  03/07/2011, Blog K6.
  6. Ba thằng bạn cùng làng (6) -  05/07/2011, Blog K6.
  7. Ba thằng bạn cùng làng (7) -  06/07/2011, Blog K6.
  8. Ba thằng bạn cùng làng (8) -  08/07/2011, Blog K6.
 ❧ ❀ ❧ 


Đăng lại bài viết của Duy Đảo (đã đăng tại Blog bantroi5: Thứ tư, ngày 06 tháng bảy năm 2011).






Tình yêu - Sơn dầu  F.LựcTình yêu - Sơn dầu F.Lực
Như lời ông thầy Khúc ở chùa làng thì số của Vinh “sướng từ bé sướng đi”.

Lúc mới sinh Vinh đã mũm mĩm, mặt phật, da trắng, tai to và đặc biệt là dễ nuôi. Nghe bu Vinh nói: “Thằng này ngày bé khi được vài tháng tuổi chỉ cần nước cơm hoà tí nuối hột là nó có thể đả hàng bát”. Bố Vinh là cán bộ nhà nước, ăn tem phiếu. Trong kháng chiến chống Pháp ông từng là xã đội trưởng du kích, hoà bình lập lại thì thoát ly, là cán bộ trong ngành lương thực lên tới chức trưởng phòng của sở. Ông ít khi về, thỉnh thoảng mới tạt qua nhà khi có việc như cúng giỗ, ma chay, cưới xin… hoặc lắm khi mua được chục ký gạo, ít mỳ chính hay vài thước vải, cái lốp xe phân phối… ông mới qua nhà, đem về cho vợ cho con.

Nhớ cái ngày mới có mỳ chính do Trung Quốc viện trợ,  một lần bố Vinh về phép, sau khi mâm cơm được dọn có đĩa rau muống luộc, bát nước rau vắt chanh, bát mắm cáy và quả trứng vịt sốt cà chua. Cả nhà đã yên vị quanh mâm cơm, ông mới từ tốn lôi ở túi áo ngực ra cái lọ Pelexicline rồi trịnh trọng:

- Vinh đâu! Lấy cho bố cái tăm.

Cầm cây tăm nhúng vào bát nước rau, sau khi vẩy cho cây tăm bớt nước, ông mới từ tốn mở lọ Pelexicline cắm que tăm vào rồi rút ra nhúng vào bát nước rau. Dùng muôi ngoáy cho đều, múc một ít đưa lên miệng nhấp nhấp môi, mắt nhắm lại, ông gật gù: “Ngon… tuyệt !”. Cả nhà ngạc nhiên, ngỡ ngàng rồi vui vẻ xơi bữa cơm sum họp.

- Bà thấy thế nào? Có ngọt không? Mỳ chính Trung Quốc đấy. Mấy anh em được phân phối chia nhau. Tôi trưởng phòng nên được cả lọ, anh em khác chỉ được nửa lọ thôi. – Ông giải thích.

- Tôi thấy chả có vị gì. - Bà thật thà. Rồi chợt nhận ra lỡ lời, không muốn làm ông và các con mất vui bà nói vớt - Hình như có ngọt hơn một tẹo thì phải!

Một hôm đặt nồi cháo suông. Sau khi cháo đã nhuyễn bà lấy lọ mỳ chính ra nêm nếm theo như cách của ông.

- Cháo nhạt toèn toẹt chả ra chó gì - Bà lầm bầm.

Tức mình bà dốc cả lọ vào nồi. Trời ơi! nó ngang và lợ không thể nuốt nổi, thế là đành phải đổ nồi cháo cho lợn.

… Khi học cấp ba, Vinh phải trọ học ở phố huyện cho gần trường, vì từ nhà tới huyện hơn chục cây số. Nhà nghèo ăn còn bữa đói bữa no, đào đâu ra xe đạp mà đi, họa có mơ. Vinh kể: Vinh trọ học ở nhà tay y sỹ tên Tược. Ông Tược có tật từ bé bị thọt một chân, là cán bộ phòng y tế phụ trách khối “sinh đẻ kế hoạch” của huyện. Ngoài giờ học Vinh hay phụ giúp gia đình chủ nhà nên tay y sỹ rất quý.

Một lần về nhà ngày chủ nhật, tay y sỹ nói với Vinh: “Cho chú mày cái này về nhà, làm quà đón tay cho mấy đứa em”. Vừa nói tay y sỹ vừa dúi cho Vinh một bọc giấy báo to. Về nhà lôi bọc quà mở ra chia cho các em thì ra một bọc toàn “bong bóng bay”. Mấy đứa em la lên mừng rỡ.

- Cái này chúng em phải đổi cả bộ lông gà cho mấy bà ve chai mới được một cái đấy, một hào chỉ được hai cái thôi.


- Ô hay! Sao bong bóng này miệng nó lại to thế nhỉ. Chỉ được cái thổi bao nhiêu hơi cũng chả vỡ, dai thật đấy. Thậm chí thổi chán đổ đầy nước vào chơi, nó dài ngoẵng ra như quả bí xanh,  nhún nhảy lên xuống như Tôn Ngộ Không đánh Bạch Cốt Tinh trong phim Tàu, còn dai hơn cả bong bóng lợn ngày tết.

Vừa nghe thấy mấy đứa em nói “một hào chỉ được có 2 cái”, trong đầu Vinh đã nghĩ ngay ra “tiền”. Bọc này chí ít cũng cả trăm cái chứ chả chơi. Thế là Vinh nói với mấy đứa em. Chỉ một loáng sau trẻ con trong làng đã đổ dồn về nhà Vinh. Bọc bong bóng hết veo. Vinh bán rẻ một hào 3 cái. Bỗng dung phút chốc trong lưng quần Vinh có tới bốn năm đồng bạc. Số tiền này bu Vinh có bán phần tư số thóc vụ mùa cũng chả ra.

Thế là lần sau Vinh lại xin tay y sỹ. Vinh thật thà nói là bán cho đám trẻ trong làng làm bóng bay được tiền, nên tay y sỹ bắt Vinh phải “ăn chia”. Phi vụ này Vinh làm ăn khá,sắm được cả kính đen, những 3 đồng bạc. Đeo cho oách với lại cũng đỡ nhức mắt những trưa hè nghỉ học cuốc bộ về quê.

Mãi sau này nghe mấy bà sồn sồn trong làng kháo nhau Vinh mới vỡ nhẽ nó không phải là bong bóng bay bình thường mà là cái túi chuyên dùng, để bịt “b…” đàn ông, khi vợ chồng gần nhau cho khỏi đẻ con. Lúc đầu bà con thấy hay hay sợ đẻ đái, con cái nhiều lấy cứt cho chúng ăn. Với lại được nhà nước cho không tội gì, thử cho biết. Vậy mà sau này chả ai thèm dùng, cho không cũng chả ai “dây”. Nên mới có chuyện trong buồng tay y sỹ phụ trách khâu đẻ đái kế hoạch tồn hàng ngàn cái bao cao su là vì thế. Qua thực tế sử dụng bà con phản ảnh với tổ chức “Đeo cái của nợ ấy vào vướng víu, cồm cộm, khó chịu lắm, mất cả sướng”. Có ông khi sử dụng sau một hồi thao tác liền vùng dậy tháo ra vứt đến xoạch một cái xuống gậm giường, lầm bầm chửi: “Mẹ tiên sư nó, ăn đã phải độn quanh năm, giờ đến cái khoản sung sướng này cũng lại phải độn nữa thì chết quách đi cho nó xong, sống ở đời làm quái gì nữa”.

Rồi tự dưng đang nằm lim dim gãi đùi vợ, bỗng nghe thấy tiếng hai con chó cắn nhau ỳ xéo dưới gậm giường: “Thôi chết! chúng tranh nhau cái của nợ kia, không khéo ăn vào không tiêu hoá được lăn ra chết thì toi”. Hai con chó con mới mua mất đồng bạc tận chợ huyện. Tự dưng lại đi chuốc gánh lo vào người đúng là…

Vinh kể ông Tược thọt sau này khổ, bị mất chức, thu hồi đảng tịch về vườn vì tội hủ hoá. Ông bị bắt quả tang khi đang luyến ái, trên người chả còn tí quần áo. Dân quân cứ thế còng tay dong ông dọc con phố từ kho thương nghiệp sang công an huyện. Bà con đổ ra xem tụm năm tụm bảy chỉ trỏ rồi thì thầm: “Người chả ra người, một chân thì to, một chân thì bé, mà cái chân bé sao lại ngắn thế nhỉ? Các bà nhìn kìa… chỉ được cái ấy thì…”. Một bà cao hứng thò cả tay ra chỉ. Mấy bà trong nhóm nhìn theo rồi vội quay đi úp mặt vào lưng nhau, cười ré lên hai tay vỗ thùm thụp.
...
(Còn tiếp).

Xem:
  1. Ba thằng bạn cùng làng (1) -  22/06/2011, Blog K6.
  2. Ba thằng bạn cùng làng (2) -  24/06/2011, Blog K6.
  3. Ba thằng bạn cùng làng (3) -  27/06/2011, Blog K6.
  4. Ba thằng bạn cùng làng (4) -  30/06/2011, Blog K6.
  5. Ba thằng bạn cùng làng (5) -  03/07/2011, Blog K6.
  6. Ba thằng bạn cùng làng (6) -  05/07/2011, Blog K6.
  7. Ba thằng bạn cùng làng (7) -  06/07/2011, Blog K6.
  8. Ba thằng bạn cùng làng (8) -  08/07/2011, Blog K6.
 ❧ ❀ ❧ 


Đăng lại bài viết của Duy Đảo (đã đăng tại Blog bantroi5: Thứ tư, ngày 06 tháng bảy năm 2011).



Thứ Ba, 5 tháng 7, 2011

Truyện nhiều kỳ: Ba thằng bạn cùng làng (6) - Duy Đảo




Xóm chài - Tranh F.LựcXóm chài - Tranh F.Lực
Hà kể, sau khi trả phép vốn quen mò tôm bắt cá lặn, lội sông nước nên Hà xin bác cho chuyển ngành về xí nghiệp đánh cá Chiến thắng. Ngày ấy đám thuỷ thủ Chiến Thắng giàu lắm. Cá vừa kéo lưới là con buôn đã thu mua ngay trên biển. Tiền cá, tiền dầu, tiền vượt biên hối lộ…  có chuyến đột xuất mỗi thuỷ thủ kiếm cả cây vàng. Tàu thuyền ra khơi ngày ấy rất khó, biên phòng cấp phép kỹ và kiểm soát gắt gao. Chỉ riêng xí nghiệp đánh cá Chiến Thắng mới được cấp phép ra khơi xa, nên đôi khi vớ được tàu vượt biên, bị hối lộ là vì thế.

Hà giữ tôi ở lại chơi. Được hai ba ngày thì rủ tôi đi Vũng Tàu. Chúng tôi nhảy xe đò, xuống bến kêu xe ôm chạy thẳng ra Bãi Trước. Dúi cho tôi ổ bánh mỳ kẹp thịt còn nóng và bịch café đá Hà vừa mua rồi chỉ vào chiếc ghế đá ven bờ biển, bảo tôi ngồi chờ. Hà lững thững đi về phía đám đông đang bu quanh hai tàu cá cập dưới bãi. Vừa nhìn thấy Hà đám đàn bà con gái thương lái bỏ cả cá, bu lấy:

- Sếp Hà! Sếp Hà! Hôm nay không đi biển à?

Thì ra đó là đám bạn hàng của Hà mỗi lần tàu về Vũng Tàu. Hà nói với một cô dáng như chủ vựa: “Chuẩn bị cho anh ít tôm, cá ngon để tối tiếp bạn. Có con Mú, con Hồng cỡ 2-3 kí giữ lại cho anh để sáng mai đem về thành phố làm quà cho ông bác”.

- Có chứ! Sếp cần loại 2-3 kí chứ “loại” 50-60 kí tươi rói lúc nào cũng sẵn hầu sếp.

Giọng cô chủ vựa oang oang cất lên. Cả lũ đàn bà con gái trên bãi hùa theo cười xoe xóe.

- Tối nay bọn anh nghỉ ở nhà Duyên.

- Được rồi! Hai sếp cứ yên tâm về trước tắm giặt, nghỉ ngơi giữ sức đi, mọi cái bọn em sẽ lo. Vừa nói cặp mắt cô chủ vựa vừa đong đưa như rượu trong ly trên tay của kẻ say.

Duyên là em gái cô chủ vựa, có đứa con nhỏ, chồng chết trận. Nhà ngay chợ trung tâm là điểm phân phối cá cho các bạn hàng bán lẻ. Duyên mặn mà chứ không đẹp ngỗ nghịch ào ạt như bà chị không chồng của mình. Đêm ấy cơm ngon, rượu say và lần đầu tiên trong đời tôi biết thế nào là sự ấm áp dịu dàng của cánh phụ nữ phương nam.

Trong xí nghiệp của Hà, đám thuỷ thủ hầu như đều dân bắc, gốc gác lính tráng trận mạc với nhau. Hà sống một mình phóng khoáng, hay giúp đỡ mọi người nên anh em rất thương. Ngay đến căn nhà sau này Hà cũng rủ những anh em độc thân khó khăn chưa có nhà đến ở. Khi bạn có gia đình Hà cũng nhường hai tầng lầu cùng một căn phòng nơi tầng 2 còn trống cho bạn.


Rồi căn bệnh cũ, “động kinh”, như định mệnh sau mười mấy năm bỗng dưng tái phát. Nhưng lần này thì nặng hơn. Xí nghiệp đưa Hà vào viện điều trị. Được ít ngày thì Hà trốn viện và bắt đầu cuộc sống lang thang vô định. Anh em trong xí nghiệp bổ đi tìm. Nhưng tìm làm sao giữa cái thành phố lộn xộn và rộng lớn, lại đang khó khăn vật lộn sau chiến tranh. Hà lang thang chẳng biết những đâu cả năm rồi bỗng nhiên mò về được quê. Cơ quan biết tin cho người về nhà đón Hà vào lại Sài Gòn để chữa bệnh. Nhưng bệnh tình Hà ngày càng nặng, nhớ nhớ quên quên, lúc thì ngồi ôm đầu hét: “Máy bay ném bom”. Lúc thì khóc gào kêu tên những thằng bạn đã chết. Lúc thì ôm khúc cây bắn súng miệng “pằng pằng”… Hà điên thực rồi. Xí nghiệp đành cho người đưa Hà trở lại quê. Hàng tháng vẫn gửi tiền lương và thuốc cho Hà điều trị.

Sau nhiều năm, xí nghiệp làm nghĩa cử cuối cùng với Hà, với một người lính đã giải ngũ - đó là giải quyết chính sách. Hàng tháng Hà có sổ mất sức hơn 600.000 đ. Nghe nói số tiền này hai mẹ con, rồi cả cô em bị bệnh như Hà, sống nhờ vào đó mấy chục năm qua.

Câu chuyện tình nghĩa xí nghiệp cũ nơi Hà công tác bây giờ kể lại người nghe ngỡ chuyện hoang đường. Nhưng đúng là đã có một thời người ta sống với nhau tử tế như thế. Thời quá vãng xa xôi ấy không còn nữa. Nhiều khi gặp bạn bè cũ trong hơi men chỉ biết thều thào vào tai nhau ngậm ngùi: “Bao giờ cho tới ngày xưa”.

Hà vẫn sống. Mấy năm nay tôi không về quê, nghe người làng nói dạo này Hà không còn tỉnh,  người gầy đét, mắt trũng sâu, hai gò má nhô cao. Cứ sáng sớm đầu đội mũ bảo hiểm, quần dài, áo bảo hộ chân đất là Hà đi. Đi cho tới khi lặn mặt giời Hà lại mò về nhà. Có hôm người làng thấy Hà tha thẩn trên sân ga Tiền Trung cách nhà gần 20 km. Hà tìm đến đúng sân ga nơi mà 40 năm trước Hà cùng những đứa bạn tuổi 18-20 ngờ ngệch hồn nhiên bước chân lên tàu. Hà vẫn còn may mắn, nhiều đứa bạn ra đi với Hà chiều đông năm ấy không có cơ hội như Hà, dù chỉ mong được làm cái bóng vật vờ của chính mình để quay về làm khổ cha khổ mẹ. Hình hài những thằng bạn đã chết giờ chỉ còn là những tấm ảnh truyền thần nhoè nhoẹt màu do ông thợ vẽ trên phố huyện nghĩ ra. Cho dù bạn có căng mắt hàng giờ, dù hồi ức kỷ niệm của bạn có sâu đậm, dạt dào đến bao nhiêu chăng nữa, tài thánh bạn cũng không thể nào luận ra được là ai, là thằng bạn nào đang ngồi kia chơ vơ trên nóc tủ bên tấm bằng Tổ quốc ghi công loang lổ màu thời gian, tư lự ngắm lũ nhện giăng tơ bắt muỗi mỗi chiều chạng vạng.
... 
(Còn tiếp).

Xem:
  1. Ba thằng bạn cùng làng (1) -  22/06/2011, Blog K6.
  2. Ba thằng bạn cùng làng (2) -  24/06/2011, Blog K6.
  3. Ba thằng bạn cùng làng (3) -  27/06/2011, Blog K6.
  4. Ba thằng bạn cùng làng (4) -  30/06/2011, Blog K6.
  5. Ba thằng bạn cùng làng (5) -  03/07/2011, Blog K6.
  6. Ba thằng bạn cùng làng (6) -  05/07/2011, Blog K6.
  7. Ba thằng bạn cùng làng (7) -  06/07/2011, Blog K6.
  8. Ba thằng bạn cùng làng (8) -  08/07/2011, Blog K6.
 ❧ ❀ ❧ 


Đăng lại bài viết của Duy Đảo (đã đăng tại Blog bantroi5: Thứ ba, ngày 05 tháng bảy năm 2011).






Xóm chài - Tranh F.LựcXóm chài - Tranh F.Lực
Hà kể, sau khi trả phép vốn quen mò tôm bắt cá lặn, lội sông nước nên Hà xin bác cho chuyển ngành về xí nghiệp đánh cá Chiến thắng. Ngày ấy đám thuỷ thủ Chiến Thắng giàu lắm. Cá vừa kéo lưới là con buôn đã thu mua ngay trên biển. Tiền cá, tiền dầu, tiền vượt biên hối lộ…  có chuyến đột xuất mỗi thuỷ thủ kiếm cả cây vàng. Tàu thuyền ra khơi ngày ấy rất khó, biên phòng cấp phép kỹ và kiểm soát gắt gao. Chỉ riêng xí nghiệp đánh cá Chiến Thắng mới được cấp phép ra khơi xa, nên đôi khi vớ được tàu vượt biên, bị hối lộ là vì thế.

Hà giữ tôi ở lại chơi. Được hai ba ngày thì rủ tôi đi Vũng Tàu. Chúng tôi nhảy xe đò, xuống bến kêu xe ôm chạy thẳng ra Bãi Trước. Dúi cho tôi ổ bánh mỳ kẹp thịt còn nóng và bịch café đá Hà vừa mua rồi chỉ vào chiếc ghế đá ven bờ biển, bảo tôi ngồi chờ. Hà lững thững đi về phía đám đông đang bu quanh hai tàu cá cập dưới bãi. Vừa nhìn thấy Hà đám đàn bà con gái thương lái bỏ cả cá, bu lấy:

- Sếp Hà! Sếp Hà! Hôm nay không đi biển à?

Thì ra đó là đám bạn hàng của Hà mỗi lần tàu về Vũng Tàu. Hà nói với một cô dáng như chủ vựa: “Chuẩn bị cho anh ít tôm, cá ngon để tối tiếp bạn. Có con Mú, con Hồng cỡ 2-3 kí giữ lại cho anh để sáng mai đem về thành phố làm quà cho ông bác”.

- Có chứ! Sếp cần loại 2-3 kí chứ “loại” 50-60 kí tươi rói lúc nào cũng sẵn hầu sếp.

Giọng cô chủ vựa oang oang cất lên. Cả lũ đàn bà con gái trên bãi hùa theo cười xoe xóe.

- Tối nay bọn anh nghỉ ở nhà Duyên.

- Được rồi! Hai sếp cứ yên tâm về trước tắm giặt, nghỉ ngơi giữ sức đi, mọi cái bọn em sẽ lo. Vừa nói cặp mắt cô chủ vựa vừa đong đưa như rượu trong ly trên tay của kẻ say.

Duyên là em gái cô chủ vựa, có đứa con nhỏ, chồng chết trận. Nhà ngay chợ trung tâm là điểm phân phối cá cho các bạn hàng bán lẻ. Duyên mặn mà chứ không đẹp ngỗ nghịch ào ạt như bà chị không chồng của mình. Đêm ấy cơm ngon, rượu say và lần đầu tiên trong đời tôi biết thế nào là sự ấm áp dịu dàng của cánh phụ nữ phương nam.

Trong xí nghiệp của Hà, đám thuỷ thủ hầu như đều dân bắc, gốc gác lính tráng trận mạc với nhau. Hà sống một mình phóng khoáng, hay giúp đỡ mọi người nên anh em rất thương. Ngay đến căn nhà sau này Hà cũng rủ những anh em độc thân khó khăn chưa có nhà đến ở. Khi bạn có gia đình Hà cũng nhường hai tầng lầu cùng một căn phòng nơi tầng 2 còn trống cho bạn.


Rồi căn bệnh cũ, “động kinh”, như định mệnh sau mười mấy năm bỗng dưng tái phát. Nhưng lần này thì nặng hơn. Xí nghiệp đưa Hà vào viện điều trị. Được ít ngày thì Hà trốn viện và bắt đầu cuộc sống lang thang vô định. Anh em trong xí nghiệp bổ đi tìm. Nhưng tìm làm sao giữa cái thành phố lộn xộn và rộng lớn, lại đang khó khăn vật lộn sau chiến tranh. Hà lang thang chẳng biết những đâu cả năm rồi bỗng nhiên mò về được quê. Cơ quan biết tin cho người về nhà đón Hà vào lại Sài Gòn để chữa bệnh. Nhưng bệnh tình Hà ngày càng nặng, nhớ nhớ quên quên, lúc thì ngồi ôm đầu hét: “Máy bay ném bom”. Lúc thì khóc gào kêu tên những thằng bạn đã chết. Lúc thì ôm khúc cây bắn súng miệng “pằng pằng”… Hà điên thực rồi. Xí nghiệp đành cho người đưa Hà trở lại quê. Hàng tháng vẫn gửi tiền lương và thuốc cho Hà điều trị.

Sau nhiều năm, xí nghiệp làm nghĩa cử cuối cùng với Hà, với một người lính đã giải ngũ - đó là giải quyết chính sách. Hàng tháng Hà có sổ mất sức hơn 600.000 đ. Nghe nói số tiền này hai mẹ con, rồi cả cô em bị bệnh như Hà, sống nhờ vào đó mấy chục năm qua.

Câu chuyện tình nghĩa xí nghiệp cũ nơi Hà công tác bây giờ kể lại người nghe ngỡ chuyện hoang đường. Nhưng đúng là đã có một thời người ta sống với nhau tử tế như thế. Thời quá vãng xa xôi ấy không còn nữa. Nhiều khi gặp bạn bè cũ trong hơi men chỉ biết thều thào vào tai nhau ngậm ngùi: “Bao giờ cho tới ngày xưa”.

Hà vẫn sống. Mấy năm nay tôi không về quê, nghe người làng nói dạo này Hà không còn tỉnh,  người gầy đét, mắt trũng sâu, hai gò má nhô cao. Cứ sáng sớm đầu đội mũ bảo hiểm, quần dài, áo bảo hộ chân đất là Hà đi. Đi cho tới khi lặn mặt giời Hà lại mò về nhà. Có hôm người làng thấy Hà tha thẩn trên sân ga Tiền Trung cách nhà gần 20 km. Hà tìm đến đúng sân ga nơi mà 40 năm trước Hà cùng những đứa bạn tuổi 18-20 ngờ ngệch hồn nhiên bước chân lên tàu. Hà vẫn còn may mắn, nhiều đứa bạn ra đi với Hà chiều đông năm ấy không có cơ hội như Hà, dù chỉ mong được làm cái bóng vật vờ của chính mình để quay về làm khổ cha khổ mẹ. Hình hài những thằng bạn đã chết giờ chỉ còn là những tấm ảnh truyền thần nhoè nhoẹt màu do ông thợ vẽ trên phố huyện nghĩ ra. Cho dù bạn có căng mắt hàng giờ, dù hồi ức kỷ niệm của bạn có sâu đậm, dạt dào đến bao nhiêu chăng nữa, tài thánh bạn cũng không thể nào luận ra được là ai, là thằng bạn nào đang ngồi kia chơ vơ trên nóc tủ bên tấm bằng Tổ quốc ghi công loang lổ màu thời gian, tư lự ngắm lũ nhện giăng tơ bắt muỗi mỗi chiều chạng vạng.
... 
(Còn tiếp).

Xem:
  1. Ba thằng bạn cùng làng (1) -  22/06/2011, Blog K6.
  2. Ba thằng bạn cùng làng (2) -  24/06/2011, Blog K6.
  3. Ba thằng bạn cùng làng (3) -  27/06/2011, Blog K6.
  4. Ba thằng bạn cùng làng (4) -  30/06/2011, Blog K6.
  5. Ba thằng bạn cùng làng (5) -  03/07/2011, Blog K6.
  6. Ba thằng bạn cùng làng (6) -  05/07/2011, Blog K6.
  7. Ba thằng bạn cùng làng (7) -  06/07/2011, Blog K6.
  8. Ba thằng bạn cùng làng (8) -  08/07/2011, Blog K6.
 ❧ ❀ ❧ 


Đăng lại bài viết của Duy Đảo (đã đăng tại Blog bantroi5: Thứ ba, ngày 05 tháng bảy năm 2011).



Chủ Nhật, 3 tháng 7, 2011

Truyện nhiều kỳ: Ba thằng bạn cùng làng (5) - Duy Đảo




Phố -   Sơn mài  F.LựcPhố - Sơn mài F.Lực
Giải phóng xong, Hà muốn về quê ngay. Nhưng công việc nhiều. Mãi tới đầu năm 1976, ông bác họ mới gọi Hà lên. Ông ôn tồn: “Quê hương đã thống nhất, bây giờ là lúc cần có nhiều lực lượng để củng cố xây dựng đất nước. Hiện bên dân sự đang cần một số cán bộ nòng cốt để phát triển ngành: Hải quan, công an và các khối kinh tế. Quân đội cũng đang có chủ trương giảm bớt quân số. Cho cháu 3 lựa chọn: Hải quan, công an và kinh tế. Kinh tế thì Bộ Thuỷ sản đang thành lập một xí nghiệp đánh cá lớn hoạt động trên biển, đó là xí nghiệp đánh cá Chiến Thắng. Đợt này cho cháu về phép thăm gia đình rồi suy nghĩ chọn hướng nào thì tùy. Vào phép bác sẽ cho chuyển ngành. Ngữ mày chữ ít, sức khoẻ lại kém, không phục vụ quân đội lâu dài được. Là người lính từng kinh qua bom đạn chiến tranh nay hoà bình tăng cường cho lĩnh vực kinh tế thì quý lắm, cháu ạ”.

Rồi ông bảo quản lý đơn vị chuẩn bị cho Hà gói quà. Khi sắp xếp đồ đạc mở gói quà ra Hà hết sức cảm động, trong đó gồm hai cây Rubi Queen, xấp vải đen, vải hoa, ký mỳ chính, ít mỳ tôm, bánh kẹo và cái bật lửa chiến lợi phẩm thu được trong dinh Độc Lập có chữ ký của kẻ bại trận, Tổng thống Thiệu, làm kỷ niệm.

Quãng cuối năm 1976, tôi có dịp vào Nam. Khi chuẩn bị ra Bắc theo địa chỉ tìm tới thăm Hà. Tôi không còn nhớ căn nhà Hà ở lúc đó nằm ở phố nào, chỉ nhớ ở quận 5. Đấy là ngôi nhà mặt phố hình ống, ba tầng lầu. Hà mở khoá đưa tôi qua tầng 1, lên tầng 2. Hà ở một phòng rộng. Phòng ốc lộn xộn, chăn nệm tứ tung, bánh mỳ, đồ ăn thừa, thuốc lá, vỏ rượu vứt lỏng chỏng. Mở tủ lạnh Hà dúi cho tôi chai bia Con cọp. Hai đứa cụng chai trong tiếng gió thổi vù vù của cái quạt trần tuốc năng và 3 chiếc quạt cây Hitachi chạy hết số.

- Chạy gì mà lắm quạt thế? Gió thế này khéo cảm thì chết. - Vừa nói tôi vừa đưa cả hai tay lên đầu giữ mớ tóc bị mấy cây quạt thổi dựng đứng lên.

- Để nhớ cái thời bão gió tháng 8 ngoài quê, anh ạ. Hà cười. - Trong nụ cười có cái gì đó hoài cổ chất phác rất thương.- Nói vui thôi. Em đang thử tải mấy cái quạt. Chạy ròng rã 4 ngày 4 đêm rồi đấy, tính gửi ra Bắc làm quà nhỡ làm sao, lại đâm mang tiếng.

- Ấy chết!

Hà giật mình lao tới cái nồi cơm điện cắm từ sáng. Mở nắp nồi bới một hồi Hà lôi ra hai chiếc đồng hồ. Một chiếc Ôrient và một Seiko dính đầy cơm nếp nhão nhoẹt. Rồi phóng vào toilet. Sau một hồi cọ rửa, cầm hai cái đồng hồ sáng loáng trong tay đi ra, vừa đi vừa gật gù.

- Đúng là cái anh Nhật lùn, Japan, tốt thật! Vẫn chạy êm ru, chính xác đến từng giây mà mặt đá cứ trong vắt, chả có tý hơi nước nào.


Rồi Hà quay sang tôi:

- Em mới mua định một cái để đeo, một cái gửi về quê cho thầy em. May quá… Tiện gặp anh đây tặng anh một cái làm kỷ niệm, anh thích cái nào thì lấy, còn một cái nhờ anh đem về quê cho thầy em, để thầy em biết giờ mà đánh kẻng hợp tác. Chứ cái kiểu xem giờ theo bóng nắng thì … Toàn đồng hồ nguyên tử, tự động cả đấy, khỏi phải lên giây.

Buổi trưa, Hà đưa tôi đi ăn ở nhà hàng Tầu, nhà hàng Đông Kinh. Tôi còn nhớ có món gà rô ty ăn với mỳ xào thập cẩm. Cả đời quen cầm cuốc, cầm cày có biết dao dĩa phóng sết là quái gì đâu nên chọc ngoáy lung tung, hất văng cả mỳ xuống nền nhà. May mà đùi gà chỉ văng ra bàn nên còn thu hồi được. Tức mình tôi dùng tay vừa xé vừa xúc, tuy dân dã nhưng tiện. Ăn uống như thế cảm thấy tự tin hơn.

Quãng 2 giờ chiều, hai thằng về đến nhà. Căn nhà thênh thang, vẫn chỉ có tôi và Hà. Lúc này tôi mới thắc mắc. Hà nói: “Nhà này là nhà em ở từ ngày tiếp quản. Rồi ra quân chuyển ngành ở lại luôn. Chả ai thiết cái nhà như bao diêm, sâu hun hút, lại nằm trên con phố, mở cửa ra là bị tra tấn toàn tiếng ngoại quốc: Ngộ ngộ, lị lị, chả biết đâu mà lần. Hàng quán ăn uống thì món nào cũng đầy mỡ, ngọt lừ như chè đường ngày tết…”.

Trong khi Hà ngủ tôi mới có dịp thăm quan hết 3 tầng lầu, phòng nào cũng tủ giường đồ đạc. Tò mò tôi lôi một cái ngăn tủ trong phòng của Hà. Trời ơi! Nhẫn, sao lại nhiều nhẫn thế, nhẫnvàng hẳn hoi, nhưng sao lại để hớ hênh thế?

Tôi có hỏi, Hà giải thích “Toàn vàng mạ thôi, anh ơi. Cả đời có biết vàng bạc là gì đâu, em bị chúng nó lừa”. Hà chẳng giải thích gì thêm, khuôn mặt bình thản. Với tay bật cái cat-xec, giọng cô ca sỹ như kẹo kéo gặp trời nắng to vọt ra từ hai chiếc loa đặt trên nóc tủ, vừa buồn vừa lạ, chả như những thứ nhạc mà tôi từng nghe mấy chục năm qua.

Đêm ấy tôi ngủ lại với Hà. Chai rượu chứa thứ nước màu hổ phách trong vắt chỉ vật đổ hai thằng khi tiếng chuông nhà thờ Cha Tam đầu phố điểm giờ nguyện buổi sớm.

...

(Còn tiếp).

Xem:
  1. Ba thằng bạn cùng làng (1) -  22/06/2011, Blog K6.
  2. Ba thằng bạn cùng làng (2) -  24/06/2011, Blog K6.
  3. Ba thằng bạn cùng làng (3) -  27/06/2011, Blog K6.
  4. Ba thằng bạn cùng làng (4) -  30/06/2011, Blog K6.
  5. Ba thằng bạn cùng làng (5) -  03/07/2011, Blog K6.
  6. Ba thằng bạn cùng làng (6) -  05/07/2011, Blog K6.
  7. Ba thằng bạn cùng làng (7) -  06/07/2011, Blog K6.
  8. Ba thằng bạn cùng làng (8) -  08/07/2011, Blog K6.
 ❧ ❀ ❧ 


Đăng lại bài viết của Duy Đảo (đã đăng tại Blog bantroi5: Chủ nhật, ngày 03 tháng bảy năm 2011).






Phố -   Sơn mài  F.LựcPhố - Sơn mài F.Lực
Giải phóng xong, Hà muốn về quê ngay. Nhưng công việc nhiều. Mãi tới đầu năm 1976, ông bác họ mới gọi Hà lên. Ông ôn tồn: “Quê hương đã thống nhất, bây giờ là lúc cần có nhiều lực lượng để củng cố xây dựng đất nước. Hiện bên dân sự đang cần một số cán bộ nòng cốt để phát triển ngành: Hải quan, công an và các khối kinh tế. Quân đội cũng đang có chủ trương giảm bớt quân số. Cho cháu 3 lựa chọn: Hải quan, công an và kinh tế. Kinh tế thì Bộ Thuỷ sản đang thành lập một xí nghiệp đánh cá lớn hoạt động trên biển, đó là xí nghiệp đánh cá Chiến Thắng. Đợt này cho cháu về phép thăm gia đình rồi suy nghĩ chọn hướng nào thì tùy. Vào phép bác sẽ cho chuyển ngành. Ngữ mày chữ ít, sức khoẻ lại kém, không phục vụ quân đội lâu dài được. Là người lính từng kinh qua bom đạn chiến tranh nay hoà bình tăng cường cho lĩnh vực kinh tế thì quý lắm, cháu ạ”.

Rồi ông bảo quản lý đơn vị chuẩn bị cho Hà gói quà. Khi sắp xếp đồ đạc mở gói quà ra Hà hết sức cảm động, trong đó gồm hai cây Rubi Queen, xấp vải đen, vải hoa, ký mỳ chính, ít mỳ tôm, bánh kẹo và cái bật lửa chiến lợi phẩm thu được trong dinh Độc Lập có chữ ký của kẻ bại trận, Tổng thống Thiệu, làm kỷ niệm.

Quãng cuối năm 1976, tôi có dịp vào Nam. Khi chuẩn bị ra Bắc theo địa chỉ tìm tới thăm Hà. Tôi không còn nhớ căn nhà Hà ở lúc đó nằm ở phố nào, chỉ nhớ ở quận 5. Đấy là ngôi nhà mặt phố hình ống, ba tầng lầu. Hà mở khoá đưa tôi qua tầng 1, lên tầng 2. Hà ở một phòng rộng. Phòng ốc lộn xộn, chăn nệm tứ tung, bánh mỳ, đồ ăn thừa, thuốc lá, vỏ rượu vứt lỏng chỏng. Mở tủ lạnh Hà dúi cho tôi chai bia Con cọp. Hai đứa cụng chai trong tiếng gió thổi vù vù của cái quạt trần tuốc năng và 3 chiếc quạt cây Hitachi chạy hết số.

- Chạy gì mà lắm quạt thế? Gió thế này khéo cảm thì chết. - Vừa nói tôi vừa đưa cả hai tay lên đầu giữ mớ tóc bị mấy cây quạt thổi dựng đứng lên.

- Để nhớ cái thời bão gió tháng 8 ngoài quê, anh ạ. Hà cười. - Trong nụ cười có cái gì đó hoài cổ chất phác rất thương.- Nói vui thôi. Em đang thử tải mấy cái quạt. Chạy ròng rã 4 ngày 4 đêm rồi đấy, tính gửi ra Bắc làm quà nhỡ làm sao, lại đâm mang tiếng.

- Ấy chết!

Hà giật mình lao tới cái nồi cơm điện cắm từ sáng. Mở nắp nồi bới một hồi Hà lôi ra hai chiếc đồng hồ. Một chiếc Ôrient và một Seiko dính đầy cơm nếp nhão nhoẹt. Rồi phóng vào toilet. Sau một hồi cọ rửa, cầm hai cái đồng hồ sáng loáng trong tay đi ra, vừa đi vừa gật gù.

- Đúng là cái anh Nhật lùn, Japan, tốt thật! Vẫn chạy êm ru, chính xác đến từng giây mà mặt đá cứ trong vắt, chả có tý hơi nước nào.


Rồi Hà quay sang tôi:

- Em mới mua định một cái để đeo, một cái gửi về quê cho thầy em. May quá… Tiện gặp anh đây tặng anh một cái làm kỷ niệm, anh thích cái nào thì lấy, còn một cái nhờ anh đem về quê cho thầy em, để thầy em biết giờ mà đánh kẻng hợp tác. Chứ cái kiểu xem giờ theo bóng nắng thì … Toàn đồng hồ nguyên tử, tự động cả đấy, khỏi phải lên giây.

Buổi trưa, Hà đưa tôi đi ăn ở nhà hàng Tầu, nhà hàng Đông Kinh. Tôi còn nhớ có món gà rô ty ăn với mỳ xào thập cẩm. Cả đời quen cầm cuốc, cầm cày có biết dao dĩa phóng sết là quái gì đâu nên chọc ngoáy lung tung, hất văng cả mỳ xuống nền nhà. May mà đùi gà chỉ văng ra bàn nên còn thu hồi được. Tức mình tôi dùng tay vừa xé vừa xúc, tuy dân dã nhưng tiện. Ăn uống như thế cảm thấy tự tin hơn.

Quãng 2 giờ chiều, hai thằng về đến nhà. Căn nhà thênh thang, vẫn chỉ có tôi và Hà. Lúc này tôi mới thắc mắc. Hà nói: “Nhà này là nhà em ở từ ngày tiếp quản. Rồi ra quân chuyển ngành ở lại luôn. Chả ai thiết cái nhà như bao diêm, sâu hun hút, lại nằm trên con phố, mở cửa ra là bị tra tấn toàn tiếng ngoại quốc: Ngộ ngộ, lị lị, chả biết đâu mà lần. Hàng quán ăn uống thì món nào cũng đầy mỡ, ngọt lừ như chè đường ngày tết…”.

Trong khi Hà ngủ tôi mới có dịp thăm quan hết 3 tầng lầu, phòng nào cũng tủ giường đồ đạc. Tò mò tôi lôi một cái ngăn tủ trong phòng của Hà. Trời ơi! Nhẫn, sao lại nhiều nhẫn thế, nhẫnvàng hẳn hoi, nhưng sao lại để hớ hênh thế?

Tôi có hỏi, Hà giải thích “Toàn vàng mạ thôi, anh ơi. Cả đời có biết vàng bạc là gì đâu, em bị chúng nó lừa”. Hà chẳng giải thích gì thêm, khuôn mặt bình thản. Với tay bật cái cat-xec, giọng cô ca sỹ như kẹo kéo gặp trời nắng to vọt ra từ hai chiếc loa đặt trên nóc tủ, vừa buồn vừa lạ, chả như những thứ nhạc mà tôi từng nghe mấy chục năm qua.

Đêm ấy tôi ngủ lại với Hà. Chai rượu chứa thứ nước màu hổ phách trong vắt chỉ vật đổ hai thằng khi tiếng chuông nhà thờ Cha Tam đầu phố điểm giờ nguyện buổi sớm.

...

(Còn tiếp).

Xem:
  1. Ba thằng bạn cùng làng (1) -  22/06/2011, Blog K6.
  2. Ba thằng bạn cùng làng (2) -  24/06/2011, Blog K6.
  3. Ba thằng bạn cùng làng (3) -  27/06/2011, Blog K6.
  4. Ba thằng bạn cùng làng (4) -  30/06/2011, Blog K6.
  5. Ba thằng bạn cùng làng (5) -  03/07/2011, Blog K6.
  6. Ba thằng bạn cùng làng (6) -  05/07/2011, Blog K6.
  7. Ba thằng bạn cùng làng (7) -  06/07/2011, Blog K6.
  8. Ba thằng bạn cùng làng (8) -  08/07/2011, Blog K6.
 ❧ ❀ ❧ 


Đăng lại bài viết của Duy Đảo (đã đăng tại Blog bantroi5: Chủ nhật, ngày 03 tháng bảy năm 2011).



Thứ Năm, 30 tháng 6, 2011

Truyện nhiều kỳ: Ba thằng bạn cùng làng (4) - Duy Đảo




Khi học lớp 5 không hiểu sao Hà bị bệnh. Trời mùa đông lạnh ngắt mà Hà cứ tồng ngồng lao xuống sông ngâm cả ngày. Người nhà phải dỗ dành mãi Hà mới chịu lên bờ. Rồi như người trầm cảm Hà ngồi thu lu trong góc nhà, chả đi đâu và nói năng với ai, nhìn ai cũng lừ lừ đôi mắt.

Ông Nghị, y tá duy nhất trong làng. Thời Tây, ông từng làm cho Pháp ở bệnh viện Đồn Thủy tận Hà Nội. Tiếng Tây ông thạo lắm. Ông đoán Hà bị bệnh động kinh. Ông Khúc, thầy cúng ở chùa làng thì lại phán “Nhà Hà bị động long mạch mồ mả”. Gia đình mời ông cúng bái mãi, mất cả thủ lợn, đàn gà và mấy mẻ rượu lậu mà chả giải được. Bỗng dưng sau một thời gian tự nhiên Hà khỏi bệnh, lại khoẻ mạnh, nhanh nhẹn như xưa.

Năm 70 Hà đi bộ đội. Tôi còn nhớ có một lần Hà chiêu đãi chúng tôi ở cửa hàng ăn uống trên phố huyện, trong kỳ nghỉ tranh thủ giữa 2 đợt huấn luyện được về thăm nhà. Bữa tiệc gồm cơm độn ngô vàng tươi, đậu phụ sốt cà chua, khoai tây xào và đĩa cá rán. Chả biết có phải là cá rán không nhưng bây giờ nhớ lại cái món cá rán ngày ấy là cá nướng thì đúng hơn vì vẩy cá xém đen. Ngẫm lại thời bấy giờ cửa hàng ăn uống quốc doanh mà món nào cũng rán với xào thì có mà sạt nghiệp. Bữa cơm chỉ mất mấy hào bạc và cái tem gạo mà Hà được thanh toán ở đơn vị. Thế mà bốn đứa ăn no, ăn như chưa từng bao giờ được ăn.

Thời thế lộn tùng phèo cả. Cái món cá nướng hạng bét của ngày xưa nghèo đói lại trở thành món đặc sản của ngày hôm nay.

Sau này nghe Hà kể, ngày tiễn anh em bộ đội đi Nam ở ga Tiền Trung, trong đoàn người đưa tiễn hôm ấy không có ai là bạn bè người thân của Hà. Chả biết trong hàng ngàn người lính ra đi trong chiều đông năm ấy có ai buồn như Hà không? Hà ngơ ngác chờ người thân trên đường ke sân ga. Khi lên tầu, Hà cố nhoài người qua ô cửa toa ngoái lại mãi cho tới khi mấy nhịp cầu Lai Vu phía xa bé dần, bé dần rồi khuất hẳn sau làn khói đen. Hà lấy hết sức ném bọc quà qua ô cửa con tàu đang lao nhanh xuống đường rồi nói to với những người đang còng lưng đạp xe trên đường 5 “Gửi hộ về quê theo địa chỉ… ”. Thế rồi bọc quà cũng được ai đó gửi qua bưu điện về quê cho bố mẹ Hà. Quà là bộ quần áo Tô Châu phát trước khi đi cho bố và bộ quần áo cũ cho em cùng cái mũ cối Tầu.

Kỷ niệm Hà tặng tôi trong những ngày sắp rời xa miền Bắc là cuốn tiểu thuyết Ruồi Trâu. Hà nói,  mua ở hiệu sách huyện. Tôi vẫn ngạc nhiên về món quà này cho tới hôm nay. Tôi chả thấy Hà đọc sách bao giờ thế mà tự dưng lại nhận được món quà hết sức nhân văn của giới học sinh sinh viên có học thời ấy.

Sau ngày hoà bình gặp lại, nghe Hà kể đơn vị Hà năm ấy đi nam để bổ sung quân cho chiến trường Đông Nam bộ.


Niềm vui - Tranh  F.LựcNiềm vui - Tranh F.Lực
Dọc đường hành quân, đạn bom, quân số rơi rớt lớp chết, lớp sốt rét, một số tụt tạt… Hà là một trong những người lính vào “đến đích”. Tới Tây Ninh quân số được phân chia cho nhiều đơn vị. Một số xuống đồng bằng, số còn lại bổ sung cho các đơn vị Miền.

Một lần Hà nghe tin hơn chục thằng, trong đó có mấy đứa cùng làng nhập ngũ một đợt, hành quân bị vướng mìn Claymo “đi” sạch. Khi nhận được tin này, Hà úp mặt vào võng khóc mấy đêm liền, thương cho những thằng bạn vắn số.

Đánh nhau, chống càn, bom vùi đạn dập, tưởng rồi cũng theo bạn bè, thế mà thoát. Sau này sốt rét nặng quá Hà bị đẩy lại phía sau cho bộ phận sản xuất.

Tình cờ trong một lần chuyển gạo cho đơn vị, Hà gặp được ông bác họ làm chỉ huy một trung tâm huấn luyện của Miền. Rồi được bác gọi về làm chân công vụ. Hơn năm quản lý trà thuốc,  bưng bê cho thủ trưởng thì Sài Gòn giải phóng. Ngày ấy cùng nhóm phục vụ thủ trưởng trong rừng, ngoài Hà, lính bảo vệ, còn có hai em nấu cơm và y tá Việt kiều Campuchia. Cứ một tuần vài tối Hà lại phải xuống kêu y tá lên đấm lưng cho thủ trưởng.

Có hôm thủ trưởng nói “Hôm nay cho y tá nó nghỉ, gọi “cấp dưỡng” lên thay ca đấm lưng cho tao”. Sau này Hà mới biết các thủ trưởng “kha khá” trong rừng hầu như ông nào cũng có “hoàn cảnh” cả. Sau khi bắt thề sống thề chết không được hé răng với ai Hà vít đầu tôi: “Ông bác họ em có cả con với cô y tá”.

Ngày ấy là chiến tranh, là sống, là chết, thôi thì… đằng nào các anh cũng là liệt sỹ, đã hy sinh cho tổ quốc, “đùn” thêm “đứa con” cho các anh nữa cũng chả sao, chắc các anh thông cảm? Vậy nên những trường hợp bị “lỡ” của các thủ trưởng như ông bác họ Hà sau này đều được tổ chức “hợp thức hoá” thành con em “liệt sỹ”, có chế độ chính sách hẳn hoi.
...   (Còn tiếp).

Xem:
  1. Ba thằng bạn cùng làng (1) -  22/06/2011, Blog K6.
  2. Ba thằng bạn cùng làng (2) -  24/06/2011, Blog K6.
  3. Ba thằng bạn cùng làng (3) -  27/06/2011, Blog K6.
  4. Ba thằng bạn cùng làng (4) -  30/06/2011, Blog K6.
  5. Ba thằng bạn cùng làng (5) -  03/07/2011, Blog K6.
  6. Ba thằng bạn cùng làng (6) -  05/07/2011, Blog K6.
  7. Ba thằng bạn cùng làng (7) -  06/07/2011, Blog K6.
  8. Ba thằng bạn cùng làng (8) -  08/07/2011, Blog K6.
 ❧ ❀ ❧ 


Đăng lại bài viết của Duy Đảo (đã đăng tại Blog bantroi5: Thứ năm, ngày 30 tháng sáu năm 2011).






Khi học lớp 5 không hiểu sao Hà bị bệnh. Trời mùa đông lạnh ngắt mà Hà cứ tồng ngồng lao xuống sông ngâm cả ngày. Người nhà phải dỗ dành mãi Hà mới chịu lên bờ. Rồi như người trầm cảm Hà ngồi thu lu trong góc nhà, chả đi đâu và nói năng với ai, nhìn ai cũng lừ lừ đôi mắt.

Ông Nghị, y tá duy nhất trong làng. Thời Tây, ông từng làm cho Pháp ở bệnh viện Đồn Thủy tận Hà Nội. Tiếng Tây ông thạo lắm. Ông đoán Hà bị bệnh động kinh. Ông Khúc, thầy cúng ở chùa làng thì lại phán “Nhà Hà bị động long mạch mồ mả”. Gia đình mời ông cúng bái mãi, mất cả thủ lợn, đàn gà và mấy mẻ rượu lậu mà chả giải được. Bỗng dưng sau một thời gian tự nhiên Hà khỏi bệnh, lại khoẻ mạnh, nhanh nhẹn như xưa.

Năm 70 Hà đi bộ đội. Tôi còn nhớ có một lần Hà chiêu đãi chúng tôi ở cửa hàng ăn uống trên phố huyện, trong kỳ nghỉ tranh thủ giữa 2 đợt huấn luyện được về thăm nhà. Bữa tiệc gồm cơm độn ngô vàng tươi, đậu phụ sốt cà chua, khoai tây xào và đĩa cá rán. Chả biết có phải là cá rán không nhưng bây giờ nhớ lại cái món cá rán ngày ấy là cá nướng thì đúng hơn vì vẩy cá xém đen. Ngẫm lại thời bấy giờ cửa hàng ăn uống quốc doanh mà món nào cũng rán với xào thì có mà sạt nghiệp. Bữa cơm chỉ mất mấy hào bạc và cái tem gạo mà Hà được thanh toán ở đơn vị. Thế mà bốn đứa ăn no, ăn như chưa từng bao giờ được ăn.

Thời thế lộn tùng phèo cả. Cái món cá nướng hạng bét của ngày xưa nghèo đói lại trở thành món đặc sản của ngày hôm nay.

Sau này nghe Hà kể, ngày tiễn anh em bộ đội đi Nam ở ga Tiền Trung, trong đoàn người đưa tiễn hôm ấy không có ai là bạn bè người thân của Hà. Chả biết trong hàng ngàn người lính ra đi trong chiều đông năm ấy có ai buồn như Hà không? Hà ngơ ngác chờ người thân trên đường ke sân ga. Khi lên tầu, Hà cố nhoài người qua ô cửa toa ngoái lại mãi cho tới khi mấy nhịp cầu Lai Vu phía xa bé dần, bé dần rồi khuất hẳn sau làn khói đen. Hà lấy hết sức ném bọc quà qua ô cửa con tàu đang lao nhanh xuống đường rồi nói to với những người đang còng lưng đạp xe trên đường 5 “Gửi hộ về quê theo địa chỉ… ”. Thế rồi bọc quà cũng được ai đó gửi qua bưu điện về quê cho bố mẹ Hà. Quà là bộ quần áo Tô Châu phát trước khi đi cho bố và bộ quần áo cũ cho em cùng cái mũ cối Tầu.

Kỷ niệm Hà tặng tôi trong những ngày sắp rời xa miền Bắc là cuốn tiểu thuyết Ruồi Trâu. Hà nói,  mua ở hiệu sách huyện. Tôi vẫn ngạc nhiên về món quà này cho tới hôm nay. Tôi chả thấy Hà đọc sách bao giờ thế mà tự dưng lại nhận được món quà hết sức nhân văn của giới học sinh sinh viên có học thời ấy.

Sau ngày hoà bình gặp lại, nghe Hà kể đơn vị Hà năm ấy đi nam để bổ sung quân cho chiến trường Đông Nam bộ.


Niềm vui - Tranh  F.LựcNiềm vui - Tranh F.Lực
Dọc đường hành quân, đạn bom, quân số rơi rớt lớp chết, lớp sốt rét, một số tụt tạt… Hà là một trong những người lính vào “đến đích”. Tới Tây Ninh quân số được phân chia cho nhiều đơn vị. Một số xuống đồng bằng, số còn lại bổ sung cho các đơn vị Miền.

Một lần Hà nghe tin hơn chục thằng, trong đó có mấy đứa cùng làng nhập ngũ một đợt, hành quân bị vướng mìn Claymo “đi” sạch. Khi nhận được tin này, Hà úp mặt vào võng khóc mấy đêm liền, thương cho những thằng bạn vắn số.

Đánh nhau, chống càn, bom vùi đạn dập, tưởng rồi cũng theo bạn bè, thế mà thoát. Sau này sốt rét nặng quá Hà bị đẩy lại phía sau cho bộ phận sản xuất.

Tình cờ trong một lần chuyển gạo cho đơn vị, Hà gặp được ông bác họ làm chỉ huy một trung tâm huấn luyện của Miền. Rồi được bác gọi về làm chân công vụ. Hơn năm quản lý trà thuốc,  bưng bê cho thủ trưởng thì Sài Gòn giải phóng. Ngày ấy cùng nhóm phục vụ thủ trưởng trong rừng, ngoài Hà, lính bảo vệ, còn có hai em nấu cơm và y tá Việt kiều Campuchia. Cứ một tuần vài tối Hà lại phải xuống kêu y tá lên đấm lưng cho thủ trưởng.

Có hôm thủ trưởng nói “Hôm nay cho y tá nó nghỉ, gọi “cấp dưỡng” lên thay ca đấm lưng cho tao”. Sau này Hà mới biết các thủ trưởng “kha khá” trong rừng hầu như ông nào cũng có “hoàn cảnh” cả. Sau khi bắt thề sống thề chết không được hé răng với ai Hà vít đầu tôi: “Ông bác họ em có cả con với cô y tá”.

Ngày ấy là chiến tranh, là sống, là chết, thôi thì… đằng nào các anh cũng là liệt sỹ, đã hy sinh cho tổ quốc, “đùn” thêm “đứa con” cho các anh nữa cũng chả sao, chắc các anh thông cảm? Vậy nên những trường hợp bị “lỡ” của các thủ trưởng như ông bác họ Hà sau này đều được tổ chức “hợp thức hoá” thành con em “liệt sỹ”, có chế độ chính sách hẳn hoi.
...   (Còn tiếp).

Xem:
  1. Ba thằng bạn cùng làng (1) -  22/06/2011, Blog K6.
  2. Ba thằng bạn cùng làng (2) -  24/06/2011, Blog K6.
  3. Ba thằng bạn cùng làng (3) -  27/06/2011, Blog K6.
  4. Ba thằng bạn cùng làng (4) -  30/06/2011, Blog K6.
  5. Ba thằng bạn cùng làng (5) -  03/07/2011, Blog K6.
  6. Ba thằng bạn cùng làng (6) -  05/07/2011, Blog K6.
  7. Ba thằng bạn cùng làng (7) -  06/07/2011, Blog K6.
  8. Ba thằng bạn cùng làng (8) -  08/07/2011, Blog K6.
 ❧ ❀ ❧ 


Đăng lại bài viết của Duy Đảo (đã đăng tại Blog bantroi5: Thứ năm, ngày 30 tháng sáu năm 2011).



Thứ Hai, 27 tháng 6, 2011

Truyện nhiều kỳ: Ba thằng bạn cùng làng (3) - Duy Đảo




Đường làng - Sơn mài  F.LựcĐường làng - Sơn mài F.Lực
Hà là con cả của chú Rĩnh. Hà chơi thân với tôi. Hà lắm tài từ làm súng phốc bắn quả rau đay, tới câu cá bẫy chim, dậm tôm, dậm cá… Học hết lớp bảy Hà nghỉ không học nữa. Hà nói “Thầy em có biết chữ quái nào đâu mà cũng làm tới chức đội trưởng sản xuất. Chả biết anh thế nào, chứ em cứ động đến chữ, đến sách vở là đầu nó mỏi, hai mắt tự dưng muốn díp lại, chỉ muốn lăn quay ra giường. Em tính rồi học cũng chả để làm gì. Nghỉ học ở nhà sáng sáng dậy sớm đi nhặt cứt chó chăm cho miếng ruộng phần trăm trồng thuốc lào, tới vụ còn giúp thầy bu em được tí tiền, chứ trông chờ vào thóc chia hợp tác thì có mà… ”.

Quê tôi ngày xưa là đất trồng thuốc lào. Có lẽ cùng vệt đất do phù sa của sông Văn Úc, sông Luộc, sông Thái Bình bồi đắp nên khắp một vùng từ Tiên Lãng, Vĩnh Bảo cho tới tận làng tôi thuốc lào đặc biệt ngon. Chả hiểu sao đã là anh thuốc lào thì phải tưới bằng phân chó thì khói mới đượm và say. Giống như ớt phải tưới bằng phân gà mới cay.

(Nhớ ngày ở đảo Kôkông, chúng tôi làm công ăn chia với bọn Thái, trồng cần sa. Bọn Thái kỹ tới mức khôngcho chúng tôi bón bất cứ thứ gì ngoài phân gà. Hàng tuần thuyền chở phân gà từ Thái vượt biển chuyển qua. Khi chúng tôi hỏi thì nó nói cần sa phải tưới bằng phân gà mới tăng chất lượng, tăng độ “phê”).

Những năm ấy làng xóm thanh bình lắm, đến trộm cắp vặt còn không có huống hồ… Thế mà chả hiểu sao bà con nuôi lắm chó thế? Chả biết có phải bà con nuôi chó để lấy cứt bón thuốc lào hay không?

Đi ra đường sơ ý một tí là dẫm phải cứt chó, nhất là các cụ già mắt mũi kèm nhèm. Có cụ đi đám giỗ mặc cái quần ta nâu cả năm mới diện một lần. Thế quái nào đi đường “quệt” phải cứt chó, lúc ngồi nhắm rượu, trên mâm có 5 cụ thì mắt mũi cụ nào cũng toét, cụ này đổ cho cụ kia. Cuối cùng người nhà phải lao vào “can thiệp”, sai con cháu kiểm tra rồi lột quần của cụ bị “dính cứt” đem ra ao “gột”. Thế là một cụ quần đùi “hầu” bốn cụ quần dài, ngồi nhâm nhi cho đến hết cỗ.

Cánh trẻ con làng tôi thời bấy giờ sáng sang phải dậy thật sớm, một tay xách cái rổ bằng tre có buộc dây lót lá chuối, một tay cầm cái kẹp (giống như cái kẹp của cánh thiếu niên nơi thị thành dùng để nhặt hạt táo, bán cho hiệu thuốc bắc trong phong trào gây quỹ đội thời 61-62). Hôm nào ngủ quên, dậy muộn thì đến nước đái chó cũng chả còn mùi chứ đừng nói tới cứt. Cho nên chúng tôi phải dậy thật sớm. Nhiều khi đánh chửi nhau cũng chỉ vì bãi cứt chó.

Sống ở đất thuốc nên chúng tôi đều tập toẹ rồi nghiện hút. Hà nghiện hút từ năm 8-9 tuổi.


Buổi sáng chả có gì tống vào dạ dày, bụng réo sôi ùng ục như hợp tác xã tôi vôi xây trụ sở, đành vớ cái điếu bát của thầy làm một “bi” cho đầy phổi rồi say quắc cần câu nằm co tới tận trưa.

Để làm ra được cân thuốc lào còn vất vả hơn cả trồng lúa. Đất trồng thuốc lào phải làm thật kỹ. Sau khi bón lót bằng phân chuồng thì đặt giống. Khi cây được 3-4 lá là bắt đầu tưới phân chó và chăm sóc. Lá thuốc lào cay thế mà vẫn có sâu rệp xơi được. Nếu không xử lý, lá bị sâu ăn quăn lại, cây chậm lớn, chất lượng thuốc coi như vứt. Người ta phải nấu cơm nếp nát rồi cuốn vào đầu cái que cứ thế lăn trên những lá nào bị rệp, bị sâu. Tất cả rệp lớn, rệp bé… bị cơm nếp dính vào hết… Khi lá thuốc đã già là tới khâu thu hoạch. Thuốc hái về được tước đi phần cuộng và gân, phơi trong bóng mát cho vàng rồi xếp lớp cuộn tròn lại như cái dò lụa ngày tết nhưng dài, có khi dài tới một mét, mét rưỡi cũng không chừng.

Ở quê tôi người ta phải lặn lội sang tận Tiên Lãng, Vĩnh Bảo mời thợ về thái thuốc. Dụng cụ thái thuốc dân trong nghề gọi là “Cầu”. “Cầu” gồm một đường “ray” có độ dốc. Đường “ray” này dùng để đặt bó thuốc đã cuộn lên trên. Phía cuối của “cầu” là một cái lỗ để bó thuốc chui qua, đồng thời đây cũng là bộ phận “lấy cữ”. Xắt dày hay mỏng là do người thợ đẩy cuộn thuốc di chuyển nhanh hay chậm trên đường ray.

Dao thái thuốc giống như lưỡi kiếm Nhật nhưng không có chuôi dầy hơn, có tay nắm ở giữa để người thợ cầm khi thái, đặc biệt rất sắc (cạo được cả lông chân). Người thợ ép dao vào “cữ” đều đặn đưa dao lên xuống, sợi thuốc đều tăm tắp cứ thế tuôn ra.

Khi thái xong, thuốc được rải đều trên những tấm liếp, được hồ bột và nhuộm màu. Màu là nguyên liệu tự nhiên từ củ rừng (hình như là củ nâu). Sau khi hồ và đánh màu thì phơi gió cho khô rồi đóng bánh phân loại. Phân loại thuốc phải nhờ đến các cụ cao niên có nghề hút vài chục năm để đánh giá. Cụ nào được mời thử thuốc sáng phải dậy sớm, mồm phải để thật “thối”, không được đánh răng, không được ăn uống gì. Nhiều khi mẻ thuốc phải thử cả tuần lễ mới xong vì có khi “bi” đầu tiên bắn thử, thuốc ngon quá các cụ say quắc cần câu, lăn quay ra phản. Gia chủ lại phải làm cơm rượu chờ cho các cụ tỉnh thết đãi, sáng hôm sau các cụ mới lại tiếp tục được. Công đoạn thử này rất quan trọng vì nó liên quan đến giá cả. Thuốc lào đóng bánh được cất giữ trong chum lót lá chuối khô chờ thời, khi nào được giá mới tung ra thị trường.    
... (Còn tiếp).

Xem:
  1. Ba thằng bạn cùng làng (1) -  22/06/2011, Blog K6.
  2. Ba thằng bạn cùng làng (2) -  24/06/2011, Blog K6.
  3. Ba thằng bạn cùng làng (3) -  27/06/2011, Blog K6.
  4. Ba thằng bạn cùng làng (4) -  30/06/2011, Blog K6.
  5. Ba thằng bạn cùng làng (5) -  03/07/2011, Blog K6.
  6. Ba thằng bạn cùng làng (6) -  05/07/2011, Blog K6.
  7. Ba thằng bạn cùng làng (7) -  06/07/2011, Blog K6.
  8. Ba thằng bạn cùng làng (8) -  08/07/2011, Blog K6.
 ❧ ❀ ❧ 


Đăng lại bài viết của Duy Đảo (đã đăng tại Blog bantroi5: Thứ tư, ngày 22 tháng sáu năm 2011).






Đường làng - Sơn mài  F.LựcĐường làng - Sơn mài F.Lực
Hà là con cả của chú Rĩnh. Hà chơi thân với tôi. Hà lắm tài từ làm súng phốc bắn quả rau đay, tới câu cá bẫy chim, dậm tôm, dậm cá… Học hết lớp bảy Hà nghỉ không học nữa. Hà nói “Thầy em có biết chữ quái nào đâu mà cũng làm tới chức đội trưởng sản xuất. Chả biết anh thế nào, chứ em cứ động đến chữ, đến sách vở là đầu nó mỏi, hai mắt tự dưng muốn díp lại, chỉ muốn lăn quay ra giường. Em tính rồi học cũng chả để làm gì. Nghỉ học ở nhà sáng sáng dậy sớm đi nhặt cứt chó chăm cho miếng ruộng phần trăm trồng thuốc lào, tới vụ còn giúp thầy bu em được tí tiền, chứ trông chờ vào thóc chia hợp tác thì có mà… ”.

Quê tôi ngày xưa là đất trồng thuốc lào. Có lẽ cùng vệt đất do phù sa của sông Văn Úc, sông Luộc, sông Thái Bình bồi đắp nên khắp một vùng từ Tiên Lãng, Vĩnh Bảo cho tới tận làng tôi thuốc lào đặc biệt ngon. Chả hiểu sao đã là anh thuốc lào thì phải tưới bằng phân chó thì khói mới đượm và say. Giống như ớt phải tưới bằng phân gà mới cay.

(Nhớ ngày ở đảo Kôkông, chúng tôi làm công ăn chia với bọn Thái, trồng cần sa. Bọn Thái kỹ tới mức khôngcho chúng tôi bón bất cứ thứ gì ngoài phân gà. Hàng tuần thuyền chở phân gà từ Thái vượt biển chuyển qua. Khi chúng tôi hỏi thì nó nói cần sa phải tưới bằng phân gà mới tăng chất lượng, tăng độ “phê”).

Những năm ấy làng xóm thanh bình lắm, đến trộm cắp vặt còn không có huống hồ… Thế mà chả hiểu sao bà con nuôi lắm chó thế? Chả biết có phải bà con nuôi chó để lấy cứt bón thuốc lào hay không?

Đi ra đường sơ ý một tí là dẫm phải cứt chó, nhất là các cụ già mắt mũi kèm nhèm. Có cụ đi đám giỗ mặc cái quần ta nâu cả năm mới diện một lần. Thế quái nào đi đường “quệt” phải cứt chó, lúc ngồi nhắm rượu, trên mâm có 5 cụ thì mắt mũi cụ nào cũng toét, cụ này đổ cho cụ kia. Cuối cùng người nhà phải lao vào “can thiệp”, sai con cháu kiểm tra rồi lột quần của cụ bị “dính cứt” đem ra ao “gột”. Thế là một cụ quần đùi “hầu” bốn cụ quần dài, ngồi nhâm nhi cho đến hết cỗ.

Cánh trẻ con làng tôi thời bấy giờ sáng sang phải dậy thật sớm, một tay xách cái rổ bằng tre có buộc dây lót lá chuối, một tay cầm cái kẹp (giống như cái kẹp của cánh thiếu niên nơi thị thành dùng để nhặt hạt táo, bán cho hiệu thuốc bắc trong phong trào gây quỹ đội thời 61-62). Hôm nào ngủ quên, dậy muộn thì đến nước đái chó cũng chả còn mùi chứ đừng nói tới cứt. Cho nên chúng tôi phải dậy thật sớm. Nhiều khi đánh chửi nhau cũng chỉ vì bãi cứt chó.

Sống ở đất thuốc nên chúng tôi đều tập toẹ rồi nghiện hút. Hà nghiện hút từ năm 8-9 tuổi.


Buổi sáng chả có gì tống vào dạ dày, bụng réo sôi ùng ục như hợp tác xã tôi vôi xây trụ sở, đành vớ cái điếu bát của thầy làm một “bi” cho đầy phổi rồi say quắc cần câu nằm co tới tận trưa.

Để làm ra được cân thuốc lào còn vất vả hơn cả trồng lúa. Đất trồng thuốc lào phải làm thật kỹ. Sau khi bón lót bằng phân chuồng thì đặt giống. Khi cây được 3-4 lá là bắt đầu tưới phân chó và chăm sóc. Lá thuốc lào cay thế mà vẫn có sâu rệp xơi được. Nếu không xử lý, lá bị sâu ăn quăn lại, cây chậm lớn, chất lượng thuốc coi như vứt. Người ta phải nấu cơm nếp nát rồi cuốn vào đầu cái que cứ thế lăn trên những lá nào bị rệp, bị sâu. Tất cả rệp lớn, rệp bé… bị cơm nếp dính vào hết… Khi lá thuốc đã già là tới khâu thu hoạch. Thuốc hái về được tước đi phần cuộng và gân, phơi trong bóng mát cho vàng rồi xếp lớp cuộn tròn lại như cái dò lụa ngày tết nhưng dài, có khi dài tới một mét, mét rưỡi cũng không chừng.

Ở quê tôi người ta phải lặn lội sang tận Tiên Lãng, Vĩnh Bảo mời thợ về thái thuốc. Dụng cụ thái thuốc dân trong nghề gọi là “Cầu”. “Cầu” gồm một đường “ray” có độ dốc. Đường “ray” này dùng để đặt bó thuốc đã cuộn lên trên. Phía cuối của “cầu” là một cái lỗ để bó thuốc chui qua, đồng thời đây cũng là bộ phận “lấy cữ”. Xắt dày hay mỏng là do người thợ đẩy cuộn thuốc di chuyển nhanh hay chậm trên đường ray.

Dao thái thuốc giống như lưỡi kiếm Nhật nhưng không có chuôi dầy hơn, có tay nắm ở giữa để người thợ cầm khi thái, đặc biệt rất sắc (cạo được cả lông chân). Người thợ ép dao vào “cữ” đều đặn đưa dao lên xuống, sợi thuốc đều tăm tắp cứ thế tuôn ra.

Khi thái xong, thuốc được rải đều trên những tấm liếp, được hồ bột và nhuộm màu. Màu là nguyên liệu tự nhiên từ củ rừng (hình như là củ nâu). Sau khi hồ và đánh màu thì phơi gió cho khô rồi đóng bánh phân loại. Phân loại thuốc phải nhờ đến các cụ cao niên có nghề hút vài chục năm để đánh giá. Cụ nào được mời thử thuốc sáng phải dậy sớm, mồm phải để thật “thối”, không được đánh răng, không được ăn uống gì. Nhiều khi mẻ thuốc phải thử cả tuần lễ mới xong vì có khi “bi” đầu tiên bắn thử, thuốc ngon quá các cụ say quắc cần câu, lăn quay ra phản. Gia chủ lại phải làm cơm rượu chờ cho các cụ tỉnh thết đãi, sáng hôm sau các cụ mới lại tiếp tục được. Công đoạn thử này rất quan trọng vì nó liên quan đến giá cả. Thuốc lào đóng bánh được cất giữ trong chum lót lá chuối khô chờ thời, khi nào được giá mới tung ra thị trường.    
... (Còn tiếp).

Xem:
  1. Ba thằng bạn cùng làng (1) -  22/06/2011, Blog K6.
  2. Ba thằng bạn cùng làng (2) -  24/06/2011, Blog K6.
  3. Ba thằng bạn cùng làng (3) -  27/06/2011, Blog K6.
  4. Ba thằng bạn cùng làng (4) -  30/06/2011, Blog K6.
  5. Ba thằng bạn cùng làng (5) -  03/07/2011, Blog K6.
  6. Ba thằng bạn cùng làng (6) -  05/07/2011, Blog K6.
  7. Ba thằng bạn cùng làng (7) -  06/07/2011, Blog K6.
  8. Ba thằng bạn cùng làng (8) -  08/07/2011, Blog K6.
 ❧ ❀ ❧ 


Đăng lại bài viết của Duy Đảo (đã đăng tại Blog bantroi5: Thứ tư, ngày 22 tháng sáu năm 2011).



Thứ Sáu, 24 tháng 6, 2011

Truyện nhiều kỳ: Ba thằng bạn cùng làng (2) - Duy Đảo




Được mùa - Tranh F.LựcĐược mùa - Tranh F.Lực
...
Hà là con ông Rĩnh. Chả biết có họ hàng gì không mà tôi cứ gọi bố của Hà là “chú Rĩnh”. Chú là đội trưởng đội sản suất. Ngày ấy đội trưởng sản xuất thì khá lắm, trong buồng cót thóc bao giờ cũng đầy. Ấy vậy mà nhà chú quanh năm phải ăn gạo cũ vì thóc thừa từ những vụ trước lưu cữu. Chú chết rồi, chết đã được vài năm, chết vì ung thư dạ dày. Lúc chú ốm nặng đúng dịp tôi về quê. Tôi có tới thăm, biếu chú ký đường và mấy hộp sữa. Thời gian sau thì nghe tin chú mất.

Trong đội sản xuất ngày ấy có cô Khánh. Cô ở sát nhà tôi. Chồng cô tái ngũ, là lính pháo phòng không. Chú hy sinh khi cùng đơn vị đánh trả máy bay Mỹ, bảo vệ Nhà máy xi măng Hải Phòng.

Lúc đó cô còn trẻ, tướng mạo phốp pháp, đám đàn ông trai tráng trong làng đi bộ đội sạch cả, chả còn ai để cô cũng như cánh đàn bà đơn chiếc trong làng lườm nguýt, chuyện trò. Nghe bà con trong làng đồn cô Khánh ngủ với chú Rĩnh. Ngày ấy đâu có sẵn dụng cụ tránh thai như bây giờ mà chả thấy cô chửa đẻ. Mấy ông cán bộ xã bênh chú, chửi những kẻ độc miệng: “Nếu chúng nó ngủ với nhau thì phải đẻ đái! Đừng có mà nói mò, vu vạ cho cán bộ đảng viên là theo đuôi phản động, là vi phạm vào chủ trương chính sách của đảng, của chính phủ. Tù mọt gông!”. Nên bà con ngọng, sợ vãi đái, chỉ dấm dúi chõ mồm vào tai nhau thì thào “Vớ vẩn! Nghe chửi dại mặt còn là nhẹ...".
Có tối tôi sang nhà chú Rĩnh chơi, thấy chú chổng mông trên cái chõng tre, trước mặt là ngọn đèn dầu và cuốn sổ cộng điểm. Chả biết chú tính toán ra làm sao mà thấy miệng lúc nào cũng lẩm bẩm như cúng giỗ, thỉnh thoảng lại thấy chú xoè hai bàn tay ra trước mặt đếm từng ngón một. Cái bút chì trên tay lâu lâu lại thấy chú đưa đầu bút lên miệng “mút”. Tôi hỏi chú, chú bảo “Cho chì thấm nước bọt, viết cho rõ nét”.

Có hôm vừa thấy tôi vác mặt sang chơi, chú đã hét toáng lên như đi câu vớ được cá to:
- May quá tao đang bí! Mày lại đây! Lại đây cộng hộ chú. Mấy ngày dồn lại điểm nhiều quá tao đang hoa hết cả mắt lên đây. Cứ tính đi, tính hộ chú, nếu cần tao chi thêm công điểm cho phần của mẹ mày.


Đã nhiều lần tôi giúp chú, vì cái khoản cộng trừ của chú hơi bị yếu.
Tám giờ tối mỗi ngày bà con trong đội sản xuất đều phải có mặt ở nhà chú, ai cũng mang theo cuốn vở như những ngày “bình dân học vụ” trong phong trào diệt dốt của Đảng phát động sau chiến thắng Điện Biên.
- Bà Đa hôm nay được 10 điểm.
- Cô Hữu được 12 điểm.

- Bà Dần 6 điểm.
- Ơ! Sao tôi chỉ được có 6 điểm! - Bà Dần cãi lại
- Bà già rồi, đội giao cho mỗi con trâu ghẻ mà chăm sóc cũng chả ra đâu vào đâu. Nghe bà con phản ảnh trâu toàn bị đi ỉa mà hay bị bỏ đói, cho nên 6 điểm là ưu tiên rồi còn thắc mắc gì? Đáng lý ra bà hết tuổi lao động, phải được nghỉ ngơi theo đúng chính sách của Đảng mới phải.
Bà Dần nghe chú Rĩnh giải thích tự nhiên quai hàm cứng lại, chả dám nói gì thêm.
… Đại loại việc chấm công báo điểm tối tối ở nhà đội trưởng sản xuất mang tính ước lệ hơn là tính hợp lý và công bằng. Thường chả ai thắc mắc. Điểm cộng dồn tới mùa thì chia bằng thóc. Sau khi gặt đập ở sân hợp tác là tới phần chia thóc. Dụng cụ chia là một cái thùng vuông bằng gỗ.
- Bà A hai thùng.
- Bà B một thùng rưỡi... (thùng rưỡi mới là rầy rà vì đong nửa thùng đâu có phải chuyện dễ)…
Sau khi đổ đầy thóc vào thùng, dùng một cái ống tre gạt ngang miệng là xong "một đơn vị thùng”. Thóc đem về nhà phơi, sảy, dần, sàng. Phần phải nộp thuế theo nghĩa vụ, số còn lại các gia đình dè dặt độn thêm sắn thêm khoai. Rồi lại úp mặt xuống đất, còng lưng phơi mông cho giời, mòn mỏi năm này nối tiếp tháng kia như cái kim đồng hồ quả lắc nhà ông Thùng đầu làng - đựơc đội công tác chia ngày cải cách ruộng đất - đều đặn quay tròn.
...
(Còn tiếp).

Xem:
  1. Ba thằng bạn cùng làng (1) -  22/06/2011, Blog K6.
  2. Ba thằng bạn cùng làng (2) -  24/06/2011, Blog K6.
  3. Ba thằng bạn cùng làng (3) -  27/06/2011, Blog K6.
  4. Ba thằng bạn cùng làng (4) -  30/06/2011, Blog K6.
  5. Ba thằng bạn cùng làng (5) -  03/07/2011, Blog K6.
  6. Ba thằng bạn cùng làng (6) -  05/07/2011, Blog K6.
  7. Ba thằng bạn cùng làng (7) -  06/07/2011, Blog K6.
  8. Ba thằng bạn cùng làng (8) -  08/07/2011, Blog K6.
 ❧ ❀ ❧ 


Đăng lại bài viết của Duy Đảo (đã đăng tại Blog bantroi5: Thứ sáu, ngày 24 tháng sáu năm 2011).






Được mùa - Tranh F.LựcĐược mùa - Tranh F.Lực
...
Hà là con ông Rĩnh. Chả biết có họ hàng gì không mà tôi cứ gọi bố của Hà là “chú Rĩnh”. Chú là đội trưởng đội sản suất. Ngày ấy đội trưởng sản xuất thì khá lắm, trong buồng cót thóc bao giờ cũng đầy. Ấy vậy mà nhà chú quanh năm phải ăn gạo cũ vì thóc thừa từ những vụ trước lưu cữu. Chú chết rồi, chết đã được vài năm, chết vì ung thư dạ dày. Lúc chú ốm nặng đúng dịp tôi về quê. Tôi có tới thăm, biếu chú ký đường và mấy hộp sữa. Thời gian sau thì nghe tin chú mất.

Trong đội sản xuất ngày ấy có cô Khánh. Cô ở sát nhà tôi. Chồng cô tái ngũ, là lính pháo phòng không. Chú hy sinh khi cùng đơn vị đánh trả máy bay Mỹ, bảo vệ Nhà máy xi măng Hải Phòng.

Lúc đó cô còn trẻ, tướng mạo phốp pháp, đám đàn ông trai tráng trong làng đi bộ đội sạch cả, chả còn ai để cô cũng như cánh đàn bà đơn chiếc trong làng lườm nguýt, chuyện trò. Nghe bà con trong làng đồn cô Khánh ngủ với chú Rĩnh. Ngày ấy đâu có sẵn dụng cụ tránh thai như bây giờ mà chả thấy cô chửa đẻ. Mấy ông cán bộ xã bênh chú, chửi những kẻ độc miệng: “Nếu chúng nó ngủ với nhau thì phải đẻ đái! Đừng có mà nói mò, vu vạ cho cán bộ đảng viên là theo đuôi phản động, là vi phạm vào chủ trương chính sách của đảng, của chính phủ. Tù mọt gông!”. Nên bà con ngọng, sợ vãi đái, chỉ dấm dúi chõ mồm vào tai nhau thì thào “Vớ vẩn! Nghe chửi dại mặt còn là nhẹ...".
Có tối tôi sang nhà chú Rĩnh chơi, thấy chú chổng mông trên cái chõng tre, trước mặt là ngọn đèn dầu và cuốn sổ cộng điểm. Chả biết chú tính toán ra làm sao mà thấy miệng lúc nào cũng lẩm bẩm như cúng giỗ, thỉnh thoảng lại thấy chú xoè hai bàn tay ra trước mặt đếm từng ngón một. Cái bút chì trên tay lâu lâu lại thấy chú đưa đầu bút lên miệng “mút”. Tôi hỏi chú, chú bảo “Cho chì thấm nước bọt, viết cho rõ nét”.

Có hôm vừa thấy tôi vác mặt sang chơi, chú đã hét toáng lên như đi câu vớ được cá to:
- May quá tao đang bí! Mày lại đây! Lại đây cộng hộ chú. Mấy ngày dồn lại điểm nhiều quá tao đang hoa hết cả mắt lên đây. Cứ tính đi, tính hộ chú, nếu cần tao chi thêm công điểm cho phần của mẹ mày.


Đã nhiều lần tôi giúp chú, vì cái khoản cộng trừ của chú hơi bị yếu.
Tám giờ tối mỗi ngày bà con trong đội sản xuất đều phải có mặt ở nhà chú, ai cũng mang theo cuốn vở như những ngày “bình dân học vụ” trong phong trào diệt dốt của Đảng phát động sau chiến thắng Điện Biên.
- Bà Đa hôm nay được 10 điểm.
- Cô Hữu được 12 điểm.

- Bà Dần 6 điểm.
- Ơ! Sao tôi chỉ được có 6 điểm! - Bà Dần cãi lại
- Bà già rồi, đội giao cho mỗi con trâu ghẻ mà chăm sóc cũng chả ra đâu vào đâu. Nghe bà con phản ảnh trâu toàn bị đi ỉa mà hay bị bỏ đói, cho nên 6 điểm là ưu tiên rồi còn thắc mắc gì? Đáng lý ra bà hết tuổi lao động, phải được nghỉ ngơi theo đúng chính sách của Đảng mới phải.
Bà Dần nghe chú Rĩnh giải thích tự nhiên quai hàm cứng lại, chả dám nói gì thêm.
… Đại loại việc chấm công báo điểm tối tối ở nhà đội trưởng sản xuất mang tính ước lệ hơn là tính hợp lý và công bằng. Thường chả ai thắc mắc. Điểm cộng dồn tới mùa thì chia bằng thóc. Sau khi gặt đập ở sân hợp tác là tới phần chia thóc. Dụng cụ chia là một cái thùng vuông bằng gỗ.
- Bà A hai thùng.
- Bà B một thùng rưỡi... (thùng rưỡi mới là rầy rà vì đong nửa thùng đâu có phải chuyện dễ)…
Sau khi đổ đầy thóc vào thùng, dùng một cái ống tre gạt ngang miệng là xong "một đơn vị thùng”. Thóc đem về nhà phơi, sảy, dần, sàng. Phần phải nộp thuế theo nghĩa vụ, số còn lại các gia đình dè dặt độn thêm sắn thêm khoai. Rồi lại úp mặt xuống đất, còng lưng phơi mông cho giời, mòn mỏi năm này nối tiếp tháng kia như cái kim đồng hồ quả lắc nhà ông Thùng đầu làng - đựơc đội công tác chia ngày cải cách ruộng đất - đều đặn quay tròn.
...
(Còn tiếp).

Xem:
  1. Ba thằng bạn cùng làng (1) -  22/06/2011, Blog K6.
  2. Ba thằng bạn cùng làng (2) -  24/06/2011, Blog K6.
  3. Ba thằng bạn cùng làng (3) -  27/06/2011, Blog K6.
  4. Ba thằng bạn cùng làng (4) -  30/06/2011, Blog K6.
  5. Ba thằng bạn cùng làng (5) -  03/07/2011, Blog K6.
  6. Ba thằng bạn cùng làng (6) -  05/07/2011, Blog K6.
  7. Ba thằng bạn cùng làng (7) -  06/07/2011, Blog K6.
  8. Ba thằng bạn cùng làng (8) -  08/07/2011, Blog K6.
 ❧ ❀ ❧ 


Đăng lại bài viết của Duy Đảo (đã đăng tại Blog bantroi5: Thứ sáu, ngày 24 tháng sáu năm 2011).