Thứ Hai, 30 tháng 6, 2008

Đọc "Sinh ra trong khói lửa – Tập 2" trên mạng






Đọc/Lấy về SRTKL2 qua bản sách điện tử eBook dạng PDF (Toàn bộ - 12.44 MB)


Đọc SRTKL2 qua bản sách điện tử eBook dạng flipbook


Gửi tạm các bác nào chưa đọc SRTKL bản SCAN một số bài trọn lọc của tập 2. Kĩ thuật non nên 1 số chỗ bị mờ (cũng là thử nghiệm ban đầu), mong các bác chịu khó đọc, lấy thông tin là chính.
  • Đã thay bản Scan bằng bản đánh máy vi tính (do anh Kiến Quốc gửi 10/2008, xin cảm ơn anh Quốc!) - 3/2009.
  • Đã đăng nốt các bài còn lại (9/2009), như vậy là "trọn bộ" .

Mục lục "Sinh ra trong khói lửa – Tập 2"

* - Lời nói đầu - Ban biên tập, SRTKL2: 5-9
1 - Vài cảm nghĩ... - Hồ Thanh, SRTKL2: 10-20

2 - Ý kiến bạn đọc - Ban biên tập, SRTKL2: 21-27

3 - Thư cảm ơn của gia đình liệt sĩ Ngô Ngời - Ngô Câu, SRTKL2: 28-30

4 - Tâm sự người thầy - Thầy giáo Lã Khắc Tiệp, SRTKL2: 31-34

5 - "Sinh ra trong khói lửa" đã cho em nhiều bài học bổ ích - Nguyễn Thị Bích Liên, 35-38

6 - Những chàng lính Trỗi - Đỗ Trung Việt K3 - SRTKL2: 39-41
7 - Đinh chính cho tập 1 - BBT - SRTKL2: 42

Phần I: TƯ LIỆU VỀ NHÀ TRƯỜNG
8 - Chín lời thề danh dự - Tư liệu được Hà Chí Thành K6 lưu giữ từ năm 1965, 43-44
9 - Danh sách các Anh hùng, Liệt sĩ - Ban biên tập, SRTKL2: 45-51
10 - Nhớ thầy cô - Ban biên tập, SRTKL2: 52
11 - Những gia đình có nhiều con là học sinh trường Trỗi - Ban biên tập, 53-57
12 - Cần có nhiều trường như trường Nguyễn Văn Trỗi - Đại tướng Võ Nguyên Giáp, SRTKL2: 58-59
13 - Để có sự thành công trong việc mở trường - Chính ủy Bùi Khắc Quỳnh, 60-64

Phần II: GƯƠNG ANH HÙNG, LIỆT SĨ
14 - "Hổ phụ sinh Hổ tử" - Ban Biên tập, SRTKL2: 65-70
15 - Cùng nhau làm việc nghĩa tình - Trần Kiến Quốc – K5, SRTKL2: 71-75
16 - Anh em tôi vinh dự được viếng Bác - Trần Thành Công K6, SRTKL2: 76-78
17 - Viếng mộ Anh Hoàng Văn Thụ - Lê Võ Tiến Hưng K1, SRTKL2: 79
18 - Tấm ảnh tư liệu qúy giá, - Trần Hữu Nghị K8, SRTKL2: 80-82
19 - Lời tâm nguyện của chúng tôi - Thầy giáo Nguyễn Chi Phan, SRTKL2: 83-85
20 - Viếng mộ anh Trỗi - Ban Liên Lạc, SRTKL2: 86-88
21 - Những mất mát lớn trong tổ ấm nhỏ - Nguyễn Thế Lâm, SRTKL2: 89-90
22 - Nguyễn Văn Ngọc, người liệt sĩ đầu tiên - Đỗ Tấn Mỹ - Anh Thy K5, 91-95
23 - Những bức thư cuối cùng của liệt sĩ Nguyễn Văn Ngọc - Tô Văn Hoành K5, SRTKL2: 96-101
24 - Đọc nhật kí chiến trường của anh hùng liệt sĩ Huỳnh Kim Trung - Minh Đức, SRTKL2: 102-106
25 - Vì chúng tôi là lính Trỗi - Phạm Việt Cường K3, SRTKL2: 107-109
26 - Được kết nạp Đảng mới viết thư về nhà - Tạ Việt Chiến K3, SRTKL2: 110-117
27 - Lòng mẹ - Hữu Thành - K4, SRTKL2: 118-122
28 - Nhớ bạn Nguyễn Văn Ơn - Trương Đông Nhân - K5, SRTKL2: 123-125
29 - Những lá thư dọc đường hành quân - Lê Hòa Bình - K5, SRTKL2: 126-131
30 - Đáp số của bài toán - Trần Minh Sơn K5 - Hoàng Long, SRTKL2: 132-134
31 - Chuyện về một liệt sĩ, bạn tôi - Trần Kiến Quốc K5, SRTKL2: 135-141
32 - CHU TẤN QUANG - Rực sáng tên anh! - Trần Kiến Quốc K5, SRTKL2: 142-146
33 - Lá thư trước giờ ra trận - Ban Biên tập, SRTKL2: 147-148
34 - Từ một bức thư ngỏ - Ban Biên tập, SRTKL2: 149-150
35 - Thông tin về liệt sĩ Võ Nguyên Trọng - Huỳnh Hồng K6, SRTKL2: 151-154
36 - Nhớ Mạnh Minh - Nguyễn Hoàng Anh K6, SRTKL2: 155-162
37 - Tâm linh - Lan Phương, SRTKL2: 163-164
38 - Sẻ chia - Phạm Nhất Trung K5, SRTKL2: 165-169
39 - Những lá thư của liệt sĩ Y Hòa - Minh Phượng, SRTKL2: 170-179
40 - Nhà báo, liệt sĩ Ngô Tất Thắng - Hồ Bá Đạt K8, SRTKL2: 180-183
41 - Đã biết tin về liệt sĩ Lại Xuân Lợi - Kiến Quốc K5, SRTKL2: 184-185
42 - Những lá thư của liệt sĩ Lại Xuân Lợi - Nguyễn Quốc Khánh K7, SRTKL2: 186-190
43 - Người viết đơn bằng máu xin đi bộ đội - Lê Trí Dũng K8, SRTKL2: 191-196
44 - Lời chào vĩnh biệt - BBT, SRTKL2: 197-200
45 - Lần cuối gặp nhau - Nguyễn Trí Dũng K3, SRTKL2: 201-203
46 - Quàng Trị và những đồng đội còn nằm lại - Lê Chí Hòa K5, SRTKL2: 204-208
47 - Với một gia đình liệt sĩ - Vân Anh, SRTKL2: 209-211
48 - Thư gửi từ Leipzig, SRTKL2: 212-213
49 - Tìm được gia đình Lưu Dũng - Lê Quốc Khánh K5, SRTKL2: 214-216
50 - Chúng tôi có một người mẹ như thế! - Hồ Xuân Nam K3, SRTKL2: 217-219
51 - Đêm trăng Trường Sơn - Nguyễn Phong - Thầy giáo, SRTKL2: 220-221
52 - Phù sa mặn - Trần Xuân Lăng K3, SRTKL2: 222-224
** - Ảnh - SRTKL2: 224-225
53 - Đọc thơ cô - Huỳnh Quang Tín K2, SRTKL2: 225-226
54 - Nhớ bạn - Nguyễn Khánh Hòa K5, SRTKL2: 227-229
55 - Lời hứa dang dở - Ngô Văn Cửu K5, SRTKL2: 230-231
56 - Những gì... thầy, bạn để lại - BBT, SRTKL2: 232-235
57 - Xin bổ sung truyền thống "Quân tình"! - Vân Anh, SRTKL2: 236-238

Phần III: MÁI TRƯỜNG NƠI CHIẾN KHU XƯA
58 - Đại đội trưởng đầu tiên - Kiến Quốc K5, SRTKL2: 239-242
59 - Những ngày mới lên trường - Hà Chí Thành K6, SRTKL2: 243-245
60 - Ma cũ bắt nạt ma mới và… - Trần Quốc Việt K5, SRTKL2: 246-248
61 - Những trò nghịch ngợm - Nguyễn Tiến Bắc K5, SRTKL2: 249-252
62 - Bộ phim tài liệu về trường - BBT, SRTKL2: 253-256
63 - Trên mảnh đất quê hương - Thầy giáo Nguyễn Chi Phan, SRTKL2: 257-260
64 - Kỷ niệm về một bài thơ - Lê Võ Tiên Hưng K1, SRTKL2: 261-263
65 - Đêm nay bên rừng Việt Bắc - Thầy giáo Chi Phan, SRTKL2: 264-266
66 - Vị trám - Nguyễn Thanh Đường K4, SRTKL2: 267-268
67 - Nhớ Đại Từ - Đồng Xuân Hiền K3, SRTKL2: 269-270
68 - Tác giả bài „Hiệu ca” - Minh Phương, SRTKL2: 271
69 - Hiệu ca Trường thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi - Hồng Tuyến, SRTKL2: 276
70 - Mùa chiến dịch, mùa thơ văn nở rộ - Thầy giáo Chi Phan, 277-280
71 - Người thầy, người mẹ - Anh Thy, SRTKL: 281-283
72 - Thầy dạy vẽ - Nguyễn Hoàng Anh K6, SRTKL2: 284-285
73 - Kỷ niệm với những học viên đặc biệt - Thầy giáo Nguyễn Đỗ, SRTKL2: 286-288
74 - Một chuyến thăm con - Thầy giáo Mai Duy Vọng, SRTKL2: 289-293
75 - Những ngày trong sáng nhất - Tạ Quang Vinh K3, SRTKL2: 294-297
76 - C11 thân yêu của tôi - Phạm Thị Thục, SRTKL2: 298-304
77 - Chúng tôi đóng kịch “Nổi gió” - Vũ Dương K2, SRTKL2: 305-309
78 - Như những tấm gương - Trần Hồ Bắc K3, SRTKL2: 310-314
79 - Vì sao tôi có biệt danh "Trọc"? - Nguyễn Đức Cảnh K6, SRTKL2: 315-317
80 - Bình minh trong mưa - Hà Chí Quang K4, SRTKL2: 318-323
81 - Lần trốn trại đi hoang - Phan Khương K5, SRTKL2: 324-328
82 - Bọn trẻ chúng tôi đã thể hiện lòng dũng cảm - Phạm Đình Thiện K5, 329-330
83 - Chúng tôi đàm đạo - Hà Chí, SRTKL2: 331-333
84 - Tụi con gái - Thu Vân, SRTKL2: 334-336
85 - Kỷ niệm về những người thầy - Nguyễn Chí Nhân, SRTKL2: 337-342
86 - Tiễn con đi Trung Quốc - Lưu Thị Loan, SRTKL2: 343-345

Phần IV: THÁNG NĂM XA TỔ QUỐC
87 - Thành phố Quế Lâm - SRTKL2: 346-347
88 - Chưa và… rồi - Hồ Phước Khải K3, SRTKL2: 348-349
89 - Những bữa cơm ở Quế Lâm - Anh Thy, SRTKL2: 350-353
90 - Những tháng ngày không quên - Thầy giáo Ngô Hồng Chiêu, SRTKL2: 354-358
91 - Nghe thơ Bác lúc giao thừa - Thầy giáo Chi Phan, SRTKL2: 359-360
92 - Về hòm thư ở Quế Lâm - Nguyễn Văn Tuấn K8, SRTKL2: 361-362
93 - Người giữ nhiều ảnh kỷ niệm ở Y Trung ngày ấy - BAN BIÊN TẬP, 363-366
94 - Bộ sưu tập quý - BAN BIÊN TẬP, SRTKL2: 367-371
95 - Lá thư của Chính uỷ được Cao Cẩm Quỳ lưu giữ - SRTKL2: 372
96 - “Con nuôi” - Phạm Đình Trọng, SRTKL2: 373-380
97 - Vì nhân dân phục vụ! - Nguyễn Trí Dũng K3, SRTKL2: 381-382
98 - Biết ngoại ngữ có khác - Nguyễn Công Trường K5, SRTKL2: 383-385
99 - Hai lần tiếp “Hồng vệ binh” - Thầy giáo Phạm Đình Trọng, SRTKL2: 386-392
100 - Đội bóng đá giáo viên - Thầy giáo Ninh Cử Trực, SRTKL2: 393-395
101 - Ôi Việt Nam, quê mẹ đẹp thêm nhiều - Thầy giáo Chi Phan, SRTKL2: 396-398
102 - Ly Giang, ơi dòng sông tuổi thơ ! - Nguyễn Chỉnh Huấn K5, SRTKL2: 399-403
103 - Tuần hành mừng bắn rơi máy bay Mỹ thứ 1800 - Trần Thắng Lợi K3, 404-406
104 - Chấm bài - Thầy giáo Bùi Đức Thuận, SRTKL2: 407-408
104 - Bên trang giáo án - Thầy giáo Bùi Đức Thuận, SRTKL2: 409-411
104 - Nhật ký dự giờ - Thầy giáo Bùi Đức Thuận, SRTKL2: 411
105 - Độc tấu: Chuyện tiểu đội tôi - Thầy giáo Chi Phan, SRTKL2: 412-417
106 - Những kỷ niệm khó quên - Cô giáo Phạm Thị Thục, SRTKL2: 418-423
107 - Người giữ nhiều kỷ niệm - Tuấn Cường, SRTKL2: 424-425
108 - Những vụ cá cược bánh bao, xôi chè - Lê Minh Nghĩa K8, SRTKL2: 426-428
109 - Vụ đốt rừng ở Phong Khẩu - Nguyễn Chỉnh Huấn K5, SRTKL2: 429-434
110 - Quế Lâm và những lần dã ngoại - Huỳnh Tấn Lợi K5, SRTKL2: 435-436
111 - Nhớ! - Thầy giáo Bùi Đức Thuận, SRTKL2: 437-439
112 - Ca kịch “Tình anh em” - Trần Xuân Lăng K3, SRTKL2: 440-442
113 - Lính Trỗi với bản Đại hợp xướng Cách mạng - Anh Thy, SRTKL2: 443-446
114 - Hoa đỗ quyên - Nguyễn Khánh Hoà K5, SRTKL2: 447
115 - Vượt qua nỗi đau - Kiến Quốc K5, SRTKL2: 448-450
116 - Kỷ niệm về một người thầy - Hoàng Quang K4, SRTKL2: 451-456
117 - Mấy lời tâm huyết - SRTKL2: 457
118 - Xạ thủ - Thầy giáo Chi Phan, SRTKL2: 458-459
119 - Vài nét Quế Lâm – Những ngày Cách mạng Văn hóa - Việt Dũng, 460-464
120 - Người bạn già Trung Hoa - Nguyễn Khắc Việt K7, SRTKL2: 465-469
121 - Giây phút chia tay - Thầy giáo Mai Duy Vọng, SRTKL2: 470-472
122 - Kỷ niệm ngày chia tay “Hồi Quốc” - Đỗ Kiếm Tuyên, SRTKL2: 473-475
123 - Bản đồ Quế Lâm năm 1968 - SRTKL2: 467
124 - Quế Lâm, vùng đất mang nặng ân tình - Trần Kháng Chiến, SRTKL2: 477-482

Phần V: TRỞ VỀ QUÊ HƯƠNG
125 - Vụ lật xe trong đêm hành quân - Nguyễn Xuân Minh K4, SRTKL2: 483-486
126 - Những ngày rèn luyện ở Quân chính - Hoàng Minh Nghĩa K4, SRTKL2: 487-489
127 - Vì nhân dân quên mình - Dương Minh K4, SRTKL2: 490-495
128 - Bữa ăn ngon nhất đời - Lê Tường Long K3, SRTKL2: 496-499
129 - Những bài học khó quyên... - Nguyễn Hoàng Anh – K6, SRTKL2: 500-503
130 - Tai nạn - Việt Hùng, SRTKL2: 504-506
131 - Nhớ về đội bóng của tôi - Trần Mạnh Lảnh K5, SRTKL2: 507-511
132 - Chúng tôi thi học sinh giỏi miền Bắc - Tôn Gia Quý K4, SRTKL2: 512-515
133 - Chuyện cái đài “Xiong Mao” - Cô giáo Phan Thị Nhâm, SRTKL2: 516-518
134 - Lê quyết thắng - Trần Phạm Tùng K4, SRTKL2: 519-529
135 - Tiếng đàn - Hà Quang, SRTKL2: 530-532
136 - Chiếc muôi “chiến lược” - Trần Tuấn Kiệt K5, SRTKL2: 533-534
137 - Những “biệt danh” của tôi -Trần Minh Sơn, SRTKL2: 535-537
138 - Chuyện xảy ra ở „CT 23” - Quang „chầy” K6, SRTKL2: 538-540
139 - Cái tát - Vũ Anh K7, SRTKL2: 541-543
140 - Chuyện cũ bỏ qua - Hạ Thanh Xuyên K5, SRTKL2: 544-546
141 - Đến hôm nay vẫn chơi với các bạn gái - Nguyễn Trọng Quang Vinh K5, 547-549
142 - Tôi vào đại học - Nguyễn Thị Mẫn K5, SRTKL2: 550-552
143 - Tư liệu ngày đi học - BBT, SRTKL2: 553-555
144 - Bài hát “Người giáo viên nhân dân” - Thầy giáo Hồng Tuyến, SRTKL2: 556
145 - Bài hát “Bế Văn Đàn” - Thầy giáo Hồng Tuyến, SRTKL2: 557
146 - Bài hát “Chúng em tăng gia” - Thầy giáo Hồng Tuyến, SRTKL2: 558
147 - Bài hát “Vừ A Dính” - Thầy giáo Hồng Tuyến, SRTKL2: 559

Phần VI: VÀO TRẬN MỚI
148 - Một kỷ niệm khó quên - Việt Dũng, SRTKL2: 560-563
149 - Chúng tôi được gửi đào tạo ở Liên Xô - Đoàn Mạnh Thanh K2, SRTKL2: 564-568
150 - Tình bạn sưởi ấm đời tôi - Nguyễn Hoà Bình K2, SRTKL2: 569-577
151 - Chị, em gặp lại nơi xa - Lê Văn Hiền K2, SRTKL2: 578-582
152 - Tấm ảnh theo tôi ra chiến trường - Anh Thy, SRTKL2: 583-586
153 - Lính cao xạ - Trần Xuân Lăng K3, SRTKL2: 587-591
154 - Chuyện thật như đùa - Nguyễn Trí Dũng K3, SRTKL2: 592-594
155 - Bỏ trốn đơn vị về viếng Bác - Phạm Phi Hùng, SRTKL2: 595-598
156 - Tôi đi bộ đội - Dương Minh K4, SRTKL2: 599-602
157 - Những hạt giống đỏ - Nguyễn Trí Dũng, SRTKL2: 603-607
158 - Chuyện tôi thoát chết - Đỗ Tấn Mỹ K5, SRTKL2: 608-610
159 - Gặp thầy nơi chiến trường xa - Lê Thành Bắc K5, SRTKL2: 611-615
160 - Lính Trỗi học “Đại học dân sự” - Tuấn Linh, SRTKL2: 616-622
161 - Có một lần, chúng tôi đã từ chối nhiệm vụ - Ngô Minh Kính K4, 623-625
162 - Đi chùa Hương - Thuỳ Linh, SRTKL2: 626-634
163 - Gặp nhau trên mọi nẻo đường - Hồ Bá Đạt K8, SRTKL2: 835-639
164 - Ký ức người đi xa - Nguyễn Anh Minh K6, SRTKL2: 640-645
165 - Điều hiếm thấy - Võ Điện Biên K6, SRTKL2: 646
166 - Từ báo tường tới chiến trường – Vũ Hòa Bình, Nguyễn Xuân Lộc K6, 651-658
167 - Chiến đấu ở Nam Lào 1973 - Vân Anh, SRTKL2: 659-665
168 - Những ngày sau Hiệp định Pa-ri - Nguyễn Thế Bắc K5, SRTKL2: 666-669
169 - Âm vang thời gian - Lê Cảnh Nghĩa K3, SRTKL2: 670-672
170 - Trên công trình xây dựng Lăng Bác - Đào Thế Long, SRTKL2: 673-677
171 - Tiếp quản, khai thác hệ thống thông tin viễn thông - Kiến Quốc K5, 678-682
172 - Phát súng - Nguyễn Chiến Thắng K3, SRTKL2: 683-686
173 - Miễn anh là lính Trỗi - Phùng Duy Hưng K5, SRTKL2: 687-689
174 - Khung tiểu đoàn toàn Trỗi - Trần Xuân Lăng K3, SRTKL2: 690-692
175 - Trường ca - Đỗ Trung Việt K3, SRTKL2: 693-697

Phần VII: BỐN MƯƠI NĂM SAU
176 - Đi tìm viếng mộ Karl Marx - Nguyễn Nam Điện K6, SRTKL2: 698-701
177 - Lính Trỗi với Đại tướng Bộ trưởng - Nguyễn Tăng Lực K5, SRTKL2: 702-707
178 - Ức Quỳnh Chính uỷ - Ngô Minh Kính K4, SRTKL2: 708-710
179 - Nhớ thầy Hiệu trưởng Dương Hưng Tuấn - BBT, SRTKL2: 711-714
180 - Chuyện về thầy Phú - Nhân-Dũng-Cường, SRTKL2: 715-718
181 - Tình thầy trò - Nguyệt Minh, SRTKL2: 719-720
182 - Có duyên với thầy - Phan Nam K5, SRTKL2: 721-725
183 - Cuộc gặp gỡ kì thú - Lan Phương, SRTKL2: 726-730
184 - Chuyện cũ nhắc lại - Anh Thy, SRTKL2: 731-745
185 - Lá thư gửi từ Nghệ An - Thầy giáo Cao Cự An, SRTKL2: 746-747
186 - Biết ơn trường Nguyễn Văn Trỗi - Nguyễn Mạnh Khoát, SRTKL2: 748-750
187 - Gặp lại thầy Tiến “Địa” sau 34 năm xa - Anh Thy, SRTKL2: 751-754
188 - Tôi sinh hoạt truyền thống với khóa 5 - Cô giáo Phạm Thị Thục, 755-757
189 - Cuộc đời tôi với các em học sinh trường Trỗi - Phan Thị Quyên, 758-763
190 - Niềm vui của cánh học trò - Lê Tất Thắng K4, SRTKL2: 764-765
191 - Chữ “Tín” thời mở cửa - Anh Thy, SRTKL2: 766-771
192 - “Không thể” và “Có thể” - Thầy giáo Phạm Đình Trọng, SRTKL2: 772-776
193 - Kỳ ảo - Trần Chí, SRTKL2: 777-778
194 - Hy hữu - Văn Toàn K3, SRTKL2: 779-782
195 - Gặp gỡ - Bồ Xuân Vinh K3, SRTKL2: 783-787
196 - Cố nhân - Trần Chí Thọ K3 , SRTKL2: 788-794
197 - Người cha dịu dàng - Minh Thi, SRTKL2: 795-796
198 - Kế mưu sinh - Việt Hùng, SRTKL2: 797-800
199 - Đám cưới nhà binh - Phan Hoài Thuận K4, SRTKL2: 801-804
200 - Tâm sự của một bệnh nhân - Đỗ Tấn Mỹ K5, SRTKL2: 805-807
201 - Những gì bạn để lại - Kháng Chiến, SRTKL2: 808
202 - Những người không mắc “Bệnh quyền lực” - Cáng Kiền, SRTKL2: 809-813
203 - Xây nhà cho đồng đội - Vinh Quang, SRTKL2: 814
204 - Đón anh về quê hương - Kiến Quốc K5, SRTKL2: 817-820
205 - Gặp các bạn Trỗi ở Quy Nhơn - Anh Thy, SRTKL2: 821-824
206 - Lễ ra mắt Chi hội Vũng Tàu - Bạch Quốc Đoàn K7, SRTKL2: 825-827
207 - Phút sai lầm được thầy cứu - Cáng Kiền, SRTKL2: 828-829
208 - Niềm đam mê bất tận - Việt Hùng, SRTKL2: 830-833
209 - Bác sĩ – Họa sĩ Nguyễn Trung Liêm - Phương Anh, SRTKL2: 834-837
210 - Những “nghệ sĩ tài danh” của các đơn vị - Văn Công Phước K4, 838-841
211 - Những bài ca không bao giờ quên - Phạm Nguyễn K3, SRTKL2: 842-844
212 - Điều chưa biết về NSƯT Dương Minh Đức - Tân Nhật, SRTKL2: 845-847
213 - Tiếng kèn ắc-mô-ni-ca - Việt Dũng, SRTKL2: 848-850
214 - Những bài hát truyền thống - Việt Dũng, SRTKL2: 851-852
215 - Bài hát “Nguyễn Văn Lịch, người thanh niên anh dũng”, SRTKL2: 853
216 - Đời bạn tôi - Huỳnh Xuân Thuỷ K4, SRTKL2: 854-862
217 - Nghĩ về một chữ còn dở dang - Trần Trường Chiến K3, SRTKL2: 863-865
218 - Có một thời - Thầy giáo Nguyễn Phong, SRTKL2: 866
219 - Tự cảm - Thầy giáo Nguyễn Phong, SRTKL2: 867
220 - Tranh chữ - Đỗ Trung Việt K3, SRTKL2: 868-871
221 - Khóa 5… phía Nam - Ngô Văn Cửu K5, SRTKL2: 872-873
222 - Hoa rừng trên vùng núi... - Nguyễn Thái Chi K3, SRTKL2: 874-876
223 - Khoảnh khắc - Chí Nghĩa, SRTKL2: 877-881
224 - Về thăm An Mỹ, Đại Từ - Hoàng Đôn Hà K5, SRTKL2: 882-888
225 - Hưng Hóa, mái trường xưa - Nguyễn Văn Tuấn K4, SRTKL2: 889-892
226 - Thủa ấy - Nguyễn Khánh Hoà, SRTKL2: 893-895
227 - Một thoáng Hưng Hoá - Nguyễn Hữu Thành K4, SRTKL2: 896-901
228 - Về lại Trung du - Nguyễn Hữu Hà K7, SRTKL2: 902-905
229 - Khi rừng Quế nở hoa - Trần Hoà Bình K5, SRTKL2: 906-908
230 - Một biểu hiện cao đẹp của tình hữu nghị Việt - Trung - ĐÔNG HUYỀN, 909-911
231 - “Dân Quế Lâm” - VŨ TOÀN THẮNG K4, SRTKL2: 912-915
232 - Chuyến về thăm lại Quế Lâm - KIẾN QUỐC, SRTKL2: 916-924
233 - Phóng sự ảnh chuyến hành hương!
234 - Tôi cho con đi du học ở Quế Lâm - Trần Phạm Tùng K4, SRTKL2: 925-928
235 - Quế Lâm, thành phố du lịch xanh - Nguyễn Nam Hoà, SRTKL2: 929-933
236 - Lá thư từ trường Y Trung - Lưu Đào, Hiệu trưởng Trung học số 1 Quế Lâm, Quảng Tây, Trung Quốc, SRTKL2: 934-935
237 - "Ngoại giao nhân dân" mừng 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ - Phạm Hoàng Hưng K6, SRTKL2: 936
238 - Trường ta đã ở “Quá Tử Sơn” - Mạnh Hà, SRTKL2: 940-942
239 - Hai vị khách quý Quế Lâm với chuyến đi xuyên Việt - Đậu Thanh Châu K7, SRTKL2: 943-947
240 - Nguồn gốc cái tên “Cao Tư Lệnh” - Kiến Quốc, SRTKL2: 948-951
241 - Vũng tàu và khách từ Quế Lâm đến - Ngô Phúc Chiến K5, SRTKL2: 952-954
242 - Lời chia tay của người bạn Trung Hoa - Cao Cẩm Quỳ, Cựu học sinh trường Trung học số 1 Quế Lâm, SRTKL2: 955-957
243 - Tôi với các bạn trường Trỗi - Lư Mỹ Niệm, Cựu học sinh Y Trung, 958-961
244 - Chiếc khăn dù - MÃ VI, Cựu học sinh Y Trung, SRTKL2: 962-964
245 - Người duy nhất được trao giải thưởng Sao Khuê 2005 - Anh Thy, 965-968
246 - Cảm nhận về ngôi trường mang tên anh Trỗi - Đại tá Trần Thế Tuyển, 969-973
247 - Chia tay ngày ấy - Trần Chí Thọ K3, SRTKL2: 974-978
248 - Vì sao “Sinh ra trong khói lửa”? - Ban Biên Tập, SRTKL2: 979-982
249 - Nhắn bạn đọc - BLL, SRTKL2: 983-987
250 - Cái thời ... - Nguyễn Phục Hưng K2, SRTKL2: 988-989
251 - Nguyễn Văn Trỗi, Trường chúng ta - nhạc Trần Bắc Hải K5, SRTKL2: 990-991
252 - Bao giờ cho đến... ngày xưa - Phan Đức Dũng K5, SRTKL2: 992
253 - Thay cho lời kết ! - Ban Biên Tập, SRTKL2: 993-997
MỤC LỤC - SRTKL2: 998
Xem thêm:

TOP





Đọc/Lấy về SRTKL2 qua bản sách điện tử eBook dạng PDF (Toàn bộ - 12.44 MB)


Đọc SRTKL2 qua bản sách điện tử eBook dạng flipbook


Gửi tạm các bác nào chưa đọc SRTKL bản SCAN một số bài trọn lọc của tập 2. Kĩ thuật non nên 1 số chỗ bị mờ (cũng là thử nghiệm ban đầu), mong các bác chịu khó đọc, lấy thông tin là chính.
  • Đã thay bản Scan bằng bản đánh máy vi tính (do anh Kiến Quốc gửi 10/2008, xin cảm ơn anh Quốc!) - 3/2009.
  • Đã đăng nốt các bài còn lại (9/2009), như vậy là "trọn bộ" .

Mục lục "Sinh ra trong khói lửa – Tập 2"

* - Lời nói đầu - Ban biên tập, SRTKL2: 5-9
1 - Vài cảm nghĩ... - Hồ Thanh, SRTKL2: 10-20

2 - Ý kiến bạn đọc - Ban biên tập, SRTKL2: 21-27

3 - Thư cảm ơn của gia đình liệt sĩ Ngô Ngời - Ngô Câu, SRTKL2: 28-30

4 - Tâm sự người thầy - Thầy giáo Lã Khắc Tiệp, SRTKL2: 31-34

5 - "Sinh ra trong khói lửa" đã cho em nhiều bài học bổ ích - Nguyễn Thị Bích Liên, 35-38

6 - Những chàng lính Trỗi - Đỗ Trung Việt K3 - SRTKL2: 39-41
7 - Đinh chính cho tập 1 - BBT - SRTKL2: 42

Phần I: TƯ LIỆU VỀ NHÀ TRƯỜNG
8 - Chín lời thề danh dự - Tư liệu được Hà Chí Thành K6 lưu giữ từ năm 1965, 43-44
9 - Danh sách các Anh hùng, Liệt sĩ - Ban biên tập, SRTKL2: 45-51
10 - Nhớ thầy cô - Ban biên tập, SRTKL2: 52
11 - Những gia đình có nhiều con là học sinh trường Trỗi - Ban biên tập, 53-57
12 - Cần có nhiều trường như trường Nguyễn Văn Trỗi - Đại tướng Võ Nguyên Giáp, SRTKL2: 58-59
13 - Để có sự thành công trong việc mở trường - Chính ủy Bùi Khắc Quỳnh, 60-64

Phần II: GƯƠNG ANH HÙNG, LIỆT SĨ
14 - "Hổ phụ sinh Hổ tử" - Ban Biên tập, SRTKL2: 65-70
15 - Cùng nhau làm việc nghĩa tình - Trần Kiến Quốc – K5, SRTKL2: 71-75
16 - Anh em tôi vinh dự được viếng Bác - Trần Thành Công K6, SRTKL2: 76-78
17 - Viếng mộ Anh Hoàng Văn Thụ - Lê Võ Tiến Hưng K1, SRTKL2: 79
18 - Tấm ảnh tư liệu qúy giá, - Trần Hữu Nghị K8, SRTKL2: 80-82
19 - Lời tâm nguyện của chúng tôi - Thầy giáo Nguyễn Chi Phan, SRTKL2: 83-85
20 - Viếng mộ anh Trỗi - Ban Liên Lạc, SRTKL2: 86-88
21 - Những mất mát lớn trong tổ ấm nhỏ - Nguyễn Thế Lâm, SRTKL2: 89-90
22 - Nguyễn Văn Ngọc, người liệt sĩ đầu tiên - Đỗ Tấn Mỹ - Anh Thy K5, 91-95
23 - Những bức thư cuối cùng của liệt sĩ Nguyễn Văn Ngọc - Tô Văn Hoành K5, SRTKL2: 96-101
24 - Đọc nhật kí chiến trường của anh hùng liệt sĩ Huỳnh Kim Trung - Minh Đức, SRTKL2: 102-106
25 - Vì chúng tôi là lính Trỗi - Phạm Việt Cường K3, SRTKL2: 107-109
26 - Được kết nạp Đảng mới viết thư về nhà - Tạ Việt Chiến K3, SRTKL2: 110-117
27 - Lòng mẹ - Hữu Thành - K4, SRTKL2: 118-122
28 - Nhớ bạn Nguyễn Văn Ơn - Trương Đông Nhân - K5, SRTKL2: 123-125
29 - Những lá thư dọc đường hành quân - Lê Hòa Bình - K5, SRTKL2: 126-131
30 - Đáp số của bài toán - Trần Minh Sơn K5 - Hoàng Long, SRTKL2: 132-134
31 - Chuyện về một liệt sĩ, bạn tôi - Trần Kiến Quốc K5, SRTKL2: 135-141
32 - CHU TẤN QUANG - Rực sáng tên anh! - Trần Kiến Quốc K5, SRTKL2: 142-146
33 - Lá thư trước giờ ra trận - Ban Biên tập, SRTKL2: 147-148
34 - Từ một bức thư ngỏ - Ban Biên tập, SRTKL2: 149-150
35 - Thông tin về liệt sĩ Võ Nguyên Trọng - Huỳnh Hồng K6, SRTKL2: 151-154
36 - Nhớ Mạnh Minh - Nguyễn Hoàng Anh K6, SRTKL2: 155-162
37 - Tâm linh - Lan Phương, SRTKL2: 163-164
38 - Sẻ chia - Phạm Nhất Trung K5, SRTKL2: 165-169
39 - Những lá thư của liệt sĩ Y Hòa - Minh Phượng, SRTKL2: 170-179
40 - Nhà báo, liệt sĩ Ngô Tất Thắng - Hồ Bá Đạt K8, SRTKL2: 180-183
41 - Đã biết tin về liệt sĩ Lại Xuân Lợi - Kiến Quốc K5, SRTKL2: 184-185
42 - Những lá thư của liệt sĩ Lại Xuân Lợi - Nguyễn Quốc Khánh K7, SRTKL2: 186-190
43 - Người viết đơn bằng máu xin đi bộ đội - Lê Trí Dũng K8, SRTKL2: 191-196
44 - Lời chào vĩnh biệt - BBT, SRTKL2: 197-200
45 - Lần cuối gặp nhau - Nguyễn Trí Dũng K3, SRTKL2: 201-203
46 - Quàng Trị và những đồng đội còn nằm lại - Lê Chí Hòa K5, SRTKL2: 204-208
47 - Với một gia đình liệt sĩ - Vân Anh, SRTKL2: 209-211
48 - Thư gửi từ Leipzig, SRTKL2: 212-213
49 - Tìm được gia đình Lưu Dũng - Lê Quốc Khánh K5, SRTKL2: 214-216
50 - Chúng tôi có một người mẹ như thế! - Hồ Xuân Nam K3, SRTKL2: 217-219
51 - Đêm trăng Trường Sơn - Nguyễn Phong - Thầy giáo, SRTKL2: 220-221
52 - Phù sa mặn - Trần Xuân Lăng K3, SRTKL2: 222-224
** - Ảnh - SRTKL2: 224-225
53 - Đọc thơ cô - Huỳnh Quang Tín K2, SRTKL2: 225-226
54 - Nhớ bạn - Nguyễn Khánh Hòa K5, SRTKL2: 227-229
55 - Lời hứa dang dở - Ngô Văn Cửu K5, SRTKL2: 230-231
56 - Những gì... thầy, bạn để lại - BBT, SRTKL2: 232-235
57 - Xin bổ sung truyền thống "Quân tình"! - Vân Anh, SRTKL2: 236-238

Phần III: MÁI TRƯỜNG NƠI CHIẾN KHU XƯA
58 - Đại đội trưởng đầu tiên - Kiến Quốc K5, SRTKL2: 239-242
59 - Những ngày mới lên trường - Hà Chí Thành K6, SRTKL2: 243-245
60 - Ma cũ bắt nạt ma mới và… - Trần Quốc Việt K5, SRTKL2: 246-248
61 - Những trò nghịch ngợm - Nguyễn Tiến Bắc K5, SRTKL2: 249-252
62 - Bộ phim tài liệu về trường - BBT, SRTKL2: 253-256
63 - Trên mảnh đất quê hương - Thầy giáo Nguyễn Chi Phan, SRTKL2: 257-260
64 - Kỷ niệm về một bài thơ - Lê Võ Tiên Hưng K1, SRTKL2: 261-263
65 - Đêm nay bên rừng Việt Bắc - Thầy giáo Chi Phan, SRTKL2: 264-266
66 - Vị trám - Nguyễn Thanh Đường K4, SRTKL2: 267-268
67 - Nhớ Đại Từ - Đồng Xuân Hiền K3, SRTKL2: 269-270
68 - Tác giả bài „Hiệu ca” - Minh Phương, SRTKL2: 271
69 - Hiệu ca Trường thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi - Hồng Tuyến, SRTKL2: 276
70 - Mùa chiến dịch, mùa thơ văn nở rộ - Thầy giáo Chi Phan, 277-280
71 - Người thầy, người mẹ - Anh Thy, SRTKL: 281-283
72 - Thầy dạy vẽ - Nguyễn Hoàng Anh K6, SRTKL2: 284-285
73 - Kỷ niệm với những học viên đặc biệt - Thầy giáo Nguyễn Đỗ, SRTKL2: 286-288
74 - Một chuyến thăm con - Thầy giáo Mai Duy Vọng, SRTKL2: 289-293
75 - Những ngày trong sáng nhất - Tạ Quang Vinh K3, SRTKL2: 294-297
76 - C11 thân yêu của tôi - Phạm Thị Thục, SRTKL2: 298-304
77 - Chúng tôi đóng kịch “Nổi gió” - Vũ Dương K2, SRTKL2: 305-309
78 - Như những tấm gương - Trần Hồ Bắc K3, SRTKL2: 310-314
79 - Vì sao tôi có biệt danh "Trọc"? - Nguyễn Đức Cảnh K6, SRTKL2: 315-317
80 - Bình minh trong mưa - Hà Chí Quang K4, SRTKL2: 318-323
81 - Lần trốn trại đi hoang - Phan Khương K5, SRTKL2: 324-328
82 - Bọn trẻ chúng tôi đã thể hiện lòng dũng cảm - Phạm Đình Thiện K5, 329-330
83 - Chúng tôi đàm đạo - Hà Chí, SRTKL2: 331-333
84 - Tụi con gái - Thu Vân, SRTKL2: 334-336
85 - Kỷ niệm về những người thầy - Nguyễn Chí Nhân, SRTKL2: 337-342
86 - Tiễn con đi Trung Quốc - Lưu Thị Loan, SRTKL2: 343-345

Phần IV: THÁNG NĂM XA TỔ QUỐC
87 - Thành phố Quế Lâm - SRTKL2: 346-347
88 - Chưa và… rồi - Hồ Phước Khải K3, SRTKL2: 348-349
89 - Những bữa cơm ở Quế Lâm - Anh Thy, SRTKL2: 350-353
90 - Những tháng ngày không quên - Thầy giáo Ngô Hồng Chiêu, SRTKL2: 354-358
91 - Nghe thơ Bác lúc giao thừa - Thầy giáo Chi Phan, SRTKL2: 359-360
92 - Về hòm thư ở Quế Lâm - Nguyễn Văn Tuấn K8, SRTKL2: 361-362
93 - Người giữ nhiều ảnh kỷ niệm ở Y Trung ngày ấy - BAN BIÊN TẬP, 363-366
94 - Bộ sưu tập quý - BAN BIÊN TẬP, SRTKL2: 367-371
95 - Lá thư của Chính uỷ được Cao Cẩm Quỳ lưu giữ - SRTKL2: 372
96 - “Con nuôi” - Phạm Đình Trọng, SRTKL2: 373-380
97 - Vì nhân dân phục vụ! - Nguyễn Trí Dũng K3, SRTKL2: 381-382
98 - Biết ngoại ngữ có khác - Nguyễn Công Trường K5, SRTKL2: 383-385
99 - Hai lần tiếp “Hồng vệ binh” - Thầy giáo Phạm Đình Trọng, SRTKL2: 386-392
100 - Đội bóng đá giáo viên - Thầy giáo Ninh Cử Trực, SRTKL2: 393-395
101 - Ôi Việt Nam, quê mẹ đẹp thêm nhiều - Thầy giáo Chi Phan, SRTKL2: 396-398
102 - Ly Giang, ơi dòng sông tuổi thơ ! - Nguyễn Chỉnh Huấn K5, SRTKL2: 399-403
103 - Tuần hành mừng bắn rơi máy bay Mỹ thứ 1800 - Trần Thắng Lợi K3, 404-406
104 - Chấm bài - Thầy giáo Bùi Đức Thuận, SRTKL2: 407-408
104 - Bên trang giáo án - Thầy giáo Bùi Đức Thuận, SRTKL2: 409-411
104 - Nhật ký dự giờ - Thầy giáo Bùi Đức Thuận, SRTKL2: 411
105 - Độc tấu: Chuyện tiểu đội tôi - Thầy giáo Chi Phan, SRTKL2: 412-417
106 - Những kỷ niệm khó quên - Cô giáo Phạm Thị Thục, SRTKL2: 418-423
107 - Người giữ nhiều kỷ niệm - Tuấn Cường, SRTKL2: 424-425
108 - Những vụ cá cược bánh bao, xôi chè - Lê Minh Nghĩa K8, SRTKL2: 426-428
109 - Vụ đốt rừng ở Phong Khẩu - Nguyễn Chỉnh Huấn K5, SRTKL2: 429-434
110 - Quế Lâm và những lần dã ngoại - Huỳnh Tấn Lợi K5, SRTKL2: 435-436
111 - Nhớ! - Thầy giáo Bùi Đức Thuận, SRTKL2: 437-439
112 - Ca kịch “Tình anh em” - Trần Xuân Lăng K3, SRTKL2: 440-442
113 - Lính Trỗi với bản Đại hợp xướng Cách mạng - Anh Thy, SRTKL2: 443-446
114 - Hoa đỗ quyên - Nguyễn Khánh Hoà K5, SRTKL2: 447
115 - Vượt qua nỗi đau - Kiến Quốc K5, SRTKL2: 448-450
116 - Kỷ niệm về một người thầy - Hoàng Quang K4, SRTKL2: 451-456
117 - Mấy lời tâm huyết - SRTKL2: 457
118 - Xạ thủ - Thầy giáo Chi Phan, SRTKL2: 458-459
119 - Vài nét Quế Lâm – Những ngày Cách mạng Văn hóa - Việt Dũng, 460-464
120 - Người bạn già Trung Hoa - Nguyễn Khắc Việt K7, SRTKL2: 465-469
121 - Giây phút chia tay - Thầy giáo Mai Duy Vọng, SRTKL2: 470-472
122 - Kỷ niệm ngày chia tay “Hồi Quốc” - Đỗ Kiếm Tuyên, SRTKL2: 473-475
123 - Bản đồ Quế Lâm năm 1968 - SRTKL2: 467
124 - Quế Lâm, vùng đất mang nặng ân tình - Trần Kháng Chiến, SRTKL2: 477-482

Phần V: TRỞ VỀ QUÊ HƯƠNG
125 - Vụ lật xe trong đêm hành quân - Nguyễn Xuân Minh K4, SRTKL2: 483-486
126 - Những ngày rèn luyện ở Quân chính - Hoàng Minh Nghĩa K4, SRTKL2: 487-489
127 - Vì nhân dân quên mình - Dương Minh K4, SRTKL2: 490-495
128 - Bữa ăn ngon nhất đời - Lê Tường Long K3, SRTKL2: 496-499
129 - Những bài học khó quyên... - Nguyễn Hoàng Anh – K6, SRTKL2: 500-503
130 - Tai nạn - Việt Hùng, SRTKL2: 504-506
131 - Nhớ về đội bóng của tôi - Trần Mạnh Lảnh K5, SRTKL2: 507-511
132 - Chúng tôi thi học sinh giỏi miền Bắc - Tôn Gia Quý K4, SRTKL2: 512-515
133 - Chuyện cái đài “Xiong Mao” - Cô giáo Phan Thị Nhâm, SRTKL2: 516-518
134 - Lê quyết thắng - Trần Phạm Tùng K4, SRTKL2: 519-529
135 - Tiếng đàn - Hà Quang, SRTKL2: 530-532
136 - Chiếc muôi “chiến lược” - Trần Tuấn Kiệt K5, SRTKL2: 533-534
137 - Những “biệt danh” của tôi -Trần Minh Sơn, SRTKL2: 535-537
138 - Chuyện xảy ra ở „CT 23” - Quang „chầy” K6, SRTKL2: 538-540
139 - Cái tát - Vũ Anh K7, SRTKL2: 541-543
140 - Chuyện cũ bỏ qua - Hạ Thanh Xuyên K5, SRTKL2: 544-546
141 - Đến hôm nay vẫn chơi với các bạn gái - Nguyễn Trọng Quang Vinh K5, 547-549
142 - Tôi vào đại học - Nguyễn Thị Mẫn K5, SRTKL2: 550-552
143 - Tư liệu ngày đi học - BBT, SRTKL2: 553-555
144 - Bài hát “Người giáo viên nhân dân” - Thầy giáo Hồng Tuyến, SRTKL2: 556
145 - Bài hát “Bế Văn Đàn” - Thầy giáo Hồng Tuyến, SRTKL2: 557
146 - Bài hát “Chúng em tăng gia” - Thầy giáo Hồng Tuyến, SRTKL2: 558
147 - Bài hát “Vừ A Dính” - Thầy giáo Hồng Tuyến, SRTKL2: 559

Phần VI: VÀO TRẬN MỚI
148 - Một kỷ niệm khó quên - Việt Dũng, SRTKL2: 560-563
149 - Chúng tôi được gửi đào tạo ở Liên Xô - Đoàn Mạnh Thanh K2, SRTKL2: 564-568
150 - Tình bạn sưởi ấm đời tôi - Nguyễn Hoà Bình K2, SRTKL2: 569-577
151 - Chị, em gặp lại nơi xa - Lê Văn Hiền K2, SRTKL2: 578-582
152 - Tấm ảnh theo tôi ra chiến trường - Anh Thy, SRTKL2: 583-586
153 - Lính cao xạ - Trần Xuân Lăng K3, SRTKL2: 587-591
154 - Chuyện thật như đùa - Nguyễn Trí Dũng K3, SRTKL2: 592-594
155 - Bỏ trốn đơn vị về viếng Bác - Phạm Phi Hùng, SRTKL2: 595-598
156 - Tôi đi bộ đội - Dương Minh K4, SRTKL2: 599-602
157 - Những hạt giống đỏ - Nguyễn Trí Dũng, SRTKL2: 603-607
158 - Chuyện tôi thoát chết - Đỗ Tấn Mỹ K5, SRTKL2: 608-610
159 - Gặp thầy nơi chiến trường xa - Lê Thành Bắc K5, SRTKL2: 611-615
160 - Lính Trỗi học “Đại học dân sự” - Tuấn Linh, SRTKL2: 616-622
161 - Có một lần, chúng tôi đã từ chối nhiệm vụ - Ngô Minh Kính K4, 623-625
162 - Đi chùa Hương - Thuỳ Linh, SRTKL2: 626-634
163 - Gặp nhau trên mọi nẻo đường - Hồ Bá Đạt K8, SRTKL2: 835-639
164 - Ký ức người đi xa - Nguyễn Anh Minh K6, SRTKL2: 640-645
165 - Điều hiếm thấy - Võ Điện Biên K6, SRTKL2: 646
166 - Từ báo tường tới chiến trường – Vũ Hòa Bình, Nguyễn Xuân Lộc K6, 651-658
167 - Chiến đấu ở Nam Lào 1973 - Vân Anh, SRTKL2: 659-665
168 - Những ngày sau Hiệp định Pa-ri - Nguyễn Thế Bắc K5, SRTKL2: 666-669
169 - Âm vang thời gian - Lê Cảnh Nghĩa K3, SRTKL2: 670-672
170 - Trên công trình xây dựng Lăng Bác - Đào Thế Long, SRTKL2: 673-677
171 - Tiếp quản, khai thác hệ thống thông tin viễn thông - Kiến Quốc K5, 678-682
172 - Phát súng - Nguyễn Chiến Thắng K3, SRTKL2: 683-686
173 - Miễn anh là lính Trỗi - Phùng Duy Hưng K5, SRTKL2: 687-689
174 - Khung tiểu đoàn toàn Trỗi - Trần Xuân Lăng K3, SRTKL2: 690-692
175 - Trường ca - Đỗ Trung Việt K3, SRTKL2: 693-697

Phần VII: BỐN MƯƠI NĂM SAU
176 - Đi tìm viếng mộ Karl Marx - Nguyễn Nam Điện K6, SRTKL2: 698-701
177 - Lính Trỗi với Đại tướng Bộ trưởng - Nguyễn Tăng Lực K5, SRTKL2: 702-707
178 - Ức Quỳnh Chính uỷ - Ngô Minh Kính K4, SRTKL2: 708-710
179 - Nhớ thầy Hiệu trưởng Dương Hưng Tuấn - BBT, SRTKL2: 711-714
180 - Chuyện về thầy Phú - Nhân-Dũng-Cường, SRTKL2: 715-718
181 - Tình thầy trò - Nguyệt Minh, SRTKL2: 719-720
182 - Có duyên với thầy - Phan Nam K5, SRTKL2: 721-725
183 - Cuộc gặp gỡ kì thú - Lan Phương, SRTKL2: 726-730
184 - Chuyện cũ nhắc lại - Anh Thy, SRTKL2: 731-745
185 - Lá thư gửi từ Nghệ An - Thầy giáo Cao Cự An, SRTKL2: 746-747
186 - Biết ơn trường Nguyễn Văn Trỗi - Nguyễn Mạnh Khoát, SRTKL2: 748-750
187 - Gặp lại thầy Tiến “Địa” sau 34 năm xa - Anh Thy, SRTKL2: 751-754
188 - Tôi sinh hoạt truyền thống với khóa 5 - Cô giáo Phạm Thị Thục, 755-757
189 - Cuộc đời tôi với các em học sinh trường Trỗi - Phan Thị Quyên, 758-763
190 - Niềm vui của cánh học trò - Lê Tất Thắng K4, SRTKL2: 764-765
191 - Chữ “Tín” thời mở cửa - Anh Thy, SRTKL2: 766-771
192 - “Không thể” và “Có thể” - Thầy giáo Phạm Đình Trọng, SRTKL2: 772-776
193 - Kỳ ảo - Trần Chí, SRTKL2: 777-778
194 - Hy hữu - Văn Toàn K3, SRTKL2: 779-782
195 - Gặp gỡ - Bồ Xuân Vinh K3, SRTKL2: 783-787
196 - Cố nhân - Trần Chí Thọ K3 , SRTKL2: 788-794
197 - Người cha dịu dàng - Minh Thi, SRTKL2: 795-796
198 - Kế mưu sinh - Việt Hùng, SRTKL2: 797-800
199 - Đám cưới nhà binh - Phan Hoài Thuận K4, SRTKL2: 801-804
200 - Tâm sự của một bệnh nhân - Đỗ Tấn Mỹ K5, SRTKL2: 805-807
201 - Những gì bạn để lại - Kháng Chiến, SRTKL2: 808
202 - Những người không mắc “Bệnh quyền lực” - Cáng Kiền, SRTKL2: 809-813
203 - Xây nhà cho đồng đội - Vinh Quang, SRTKL2: 814
204 - Đón anh về quê hương - Kiến Quốc K5, SRTKL2: 817-820
205 - Gặp các bạn Trỗi ở Quy Nhơn - Anh Thy, SRTKL2: 821-824
206 - Lễ ra mắt Chi hội Vũng Tàu - Bạch Quốc Đoàn K7, SRTKL2: 825-827
207 - Phút sai lầm được thầy cứu - Cáng Kiền, SRTKL2: 828-829
208 - Niềm đam mê bất tận - Việt Hùng, SRTKL2: 830-833
209 - Bác sĩ – Họa sĩ Nguyễn Trung Liêm - Phương Anh, SRTKL2: 834-837
210 - Những “nghệ sĩ tài danh” của các đơn vị - Văn Công Phước K4, 838-841
211 - Những bài ca không bao giờ quên - Phạm Nguyễn K3, SRTKL2: 842-844
212 - Điều chưa biết về NSƯT Dương Minh Đức - Tân Nhật, SRTKL2: 845-847
213 - Tiếng kèn ắc-mô-ni-ca - Việt Dũng, SRTKL2: 848-850
214 - Những bài hát truyền thống - Việt Dũng, SRTKL2: 851-852
215 - Bài hát “Nguyễn Văn Lịch, người thanh niên anh dũng”, SRTKL2: 853
216 - Đời bạn tôi - Huỳnh Xuân Thuỷ K4, SRTKL2: 854-862
217 - Nghĩ về một chữ còn dở dang - Trần Trường Chiến K3, SRTKL2: 863-865
218 - Có một thời - Thầy giáo Nguyễn Phong, SRTKL2: 866
219 - Tự cảm - Thầy giáo Nguyễn Phong, SRTKL2: 867
220 - Tranh chữ - Đỗ Trung Việt K3, SRTKL2: 868-871
221 - Khóa 5… phía Nam - Ngô Văn Cửu K5, SRTKL2: 872-873
222 - Hoa rừng trên vùng núi... - Nguyễn Thái Chi K3, SRTKL2: 874-876
223 - Khoảnh khắc - Chí Nghĩa, SRTKL2: 877-881
224 - Về thăm An Mỹ, Đại Từ - Hoàng Đôn Hà K5, SRTKL2: 882-888
225 - Hưng Hóa, mái trường xưa - Nguyễn Văn Tuấn K4, SRTKL2: 889-892
226 - Thủa ấy - Nguyễn Khánh Hoà, SRTKL2: 893-895
227 - Một thoáng Hưng Hoá - Nguyễn Hữu Thành K4, SRTKL2: 896-901
228 - Về lại Trung du - Nguyễn Hữu Hà K7, SRTKL2: 902-905
229 - Khi rừng Quế nở hoa - Trần Hoà Bình K5, SRTKL2: 906-908
230 - Một biểu hiện cao đẹp của tình hữu nghị Việt - Trung - ĐÔNG HUYỀN, 909-911
231 - “Dân Quế Lâm” - VŨ TOÀN THẮNG K4, SRTKL2: 912-915
232 - Chuyến về thăm lại Quế Lâm - KIẾN QUỐC, SRTKL2: 916-924
233 - Phóng sự ảnh chuyến hành hương!
234 - Tôi cho con đi du học ở Quế Lâm - Trần Phạm Tùng K4, SRTKL2: 925-928
235 - Quế Lâm, thành phố du lịch xanh - Nguyễn Nam Hoà, SRTKL2: 929-933
236 - Lá thư từ trường Y Trung - Lưu Đào, Hiệu trưởng Trung học số 1 Quế Lâm, Quảng Tây, Trung Quốc, SRTKL2: 934-935
237 - "Ngoại giao nhân dân" mừng 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ - Phạm Hoàng Hưng K6, SRTKL2: 936
238 - Trường ta đã ở “Quá Tử Sơn” - Mạnh Hà, SRTKL2: 940-942
239 - Hai vị khách quý Quế Lâm với chuyến đi xuyên Việt - Đậu Thanh Châu K7, SRTKL2: 943-947
240 - Nguồn gốc cái tên “Cao Tư Lệnh” - Kiến Quốc, SRTKL2: 948-951
241 - Vũng tàu và khách từ Quế Lâm đến - Ngô Phúc Chiến K5, SRTKL2: 952-954
242 - Lời chia tay của người bạn Trung Hoa - Cao Cẩm Quỳ, Cựu học sinh trường Trung học số 1 Quế Lâm, SRTKL2: 955-957
243 - Tôi với các bạn trường Trỗi - Lư Mỹ Niệm, Cựu học sinh Y Trung, 958-961
244 - Chiếc khăn dù - MÃ VI, Cựu học sinh Y Trung, SRTKL2: 962-964
245 - Người duy nhất được trao giải thưởng Sao Khuê 2005 - Anh Thy, 965-968
246 - Cảm nhận về ngôi trường mang tên anh Trỗi - Đại tá Trần Thế Tuyển, 969-973
247 - Chia tay ngày ấy - Trần Chí Thọ K3, SRTKL2: 974-978
248 - Vì sao “Sinh ra trong khói lửa”? - Ban Biên Tập, SRTKL2: 979-982
249 - Nhắn bạn đọc - BLL, SRTKL2: 983-987
250 - Cái thời ... - Nguyễn Phục Hưng K2, SRTKL2: 988-989
251 - Nguyễn Văn Trỗi, Trường chúng ta - nhạc Trần Bắc Hải K5, SRTKL2: 990-991
252 - Bao giờ cho đến... ngày xưa - Phan Đức Dũng K5, SRTKL2: 992
253 - Thay cho lời kết ! - Ban Biên Tập, SRTKL2: 993-997
MỤC LỤC - SRTKL2: 998
Xem thêm:

TOP

Lời nói đầu - Ban biên tập, SRTKL2: 5-9



Lời nói đầu


Ban biên tập

Nhân kỷ niệm 40 năm Ngày truyền thống của trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi, thuộc Tổng cục Chính trị (15-10- 1965 – 15-10-2005), tập II “Sinh ra trong khói lửa” ra mắt bạn đọc. So với tập I, đây là sản phẩm tinh thần mang tính toàn trường, từ khâu chỉ đạo, phát động, đôn đốc viết,...v.v. đến khâu biên tập rồi in ấn, phát hành. Lần này Ban biên tập có kinh nghiệm và thời gian chuẩn bị kỹ hơn, đã huy động được nhiều thầy, cô và các cựu học sinh của trường ở khắp nơi trong cả nước và ở nước ngoài, tham gia viết bài, sưu tầm, cung cấp những tư liệu quý.

Chúng tôi xin nêu một vài sự việc vô cùng cảm động. Phan Nam, học sinh khóa 5 của trường, ra Hà Nội tiễn Văn Tiến Huấn về nơi yên nghỉ cuối cùng, đã lưu giữ được mấy bài thơ của bạn, như những lời trăn trối trước khi đột ngột ra đi. Văn Tiến Huấn viết:

Tôi chết nhưng hình bóng tôi không chết
Sẽ có người thương nhớ đến tôi
Không phải siêu nhân nhưng tôi biết
Tên tôi để kỷ niệm cho bao người…

Tạ Việt Chiến, học sinh khóa 3, đã sưu tầm được bức thư đầu tiên cũng là bức thư cuối cùng của liệt sĩ Lê Minh Tân, gửi về gia đình. Là học sinh khóa 3, sau khi tốt nghiệp lớp 10, Tân vào Khoa Chế tạo Máy (Đại học Bách khoa) rồi nhập ngũ đi chiến trường. Anh vượt lên mọi khó khăn, thử thách, kiên trì, bền bỉ phấn đấu và được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam. Đạt được “cái đích đó”, theo Lê Minh Tân, mới xứng đáng gửi thư về cho ba má. Anh viết: “... Đến nay, đã tròn một năm, một năm đầy thử thách với sự đi lên của con. Nay con đã vinh dự được cùng ba má gánh vác nhiệm vụ quang vinh của Đảng giao phó. Con biết đây mới chỉ là cái mốc đầu tiên; còn phải vươn lên nhiều hơn nữa mới đáp ứng được yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng…”. Lê Minh Tân đã anh dũng hy sinh ngày 1 tháng 4 năm 1974, tại Mặt trận Quảng Nam.

Trên đây chỉ là vài tài liệu quý trong nhiều tài liệu phong phú, đa dạng, đầy ắp sự kiện, chan chứa niềm yêu thương, sâu sắc về nội dung giáo dục và rất đỗi tự hào, tiềm ẩn trong những bài văn, bài thơ, trong từng trang viết của các thầy, các cô, của học sinh các khóa gửi về cho Ban biên tập. Chúng tôi thiết nghĩ, gần 2000 ngày sống bên nhau “trong khói lửa” của cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại, trong những giờ phút cam go, thử thách ác liệt nhất của lịch sử dân tộc; trong cái nôi của mẹ hiền, chở che mọi hiểm nguy, bom đạn, tình đồng chí, đồng đội, nghĩa thầy trò nảy nở, gắn kết và sâu đậm hơn bao giờ hết. Vì thế đã hơn 30 năm qua, dù đi đâu, ở đâu, dù sinh cơ lập nghiệp ở phương trời nào thì ai nấy vẫn không thể nào quên những ngày tháng gian khổ, lao lung để cắm một cái mốc son trong cuộc đời một con người.

Năm năm có bấy nhiêu ngày
Mà sao tình nghĩa cao dầy lắm thay
Đọc từng trang viết hôm nay
Xôn xao sống dậy những ngày năm xưa…

Chúng tôi trân trọng, cân nhắc mỗi chữ, mỗi câu trong quá trình biên tập. Tác phẩm gửi về dù dài, dù ngắn, thơ hay văn xuôi, viết theo nhiều thể loại phong phú như hồi ký, nhật ký, truyện ký, tản văn… tất cả đều xuất phát từ những trái tim nóng bỏng yêu thương, từ những suy nghĩ chín muồi, sâu sắc nên chân thực, gây ấn tượng mạnh, làm xúc động lòng người; nhất là các bài viết về anh hùng, liệt sĩ. Hơn nữa, chủ đề tư tưởng cũng rất tập trung ở những trang viết này. Đó là nhiều kỷ niệm không dễ gì quên được dưới mái trường xưa; tình nghĩa thầy trò sâu nặng và học sinh mang truyền thống của nhà trường đi khắp mọi miền của Tổ quốc. Chúng tôi cũng vui mừng khi đọc một số tác phẩm đã đạt tới trình độ của cây bút chuyên nghiệp. Xúc động trước sự hy sinh của Anh hùng, liệt sĩ Huỳnh Kim Trung bên bờ sông Gianh (Quảng Bình) và các liệt sĩ Bùi Hữu Thích, Nguyễn Lâm, Vũ Kiên Cường, Trịnh Thúc Doanh, Đặng Bá Linh, Y Hòa hy sinh bên bờ sông Thạch Hãn mà Nguyễn Xuân Lăng (học sinh khóa 3) đã có bài thơ “Phù sa mặn”. Bài thơ có đoạn:

... Tôi vẫn biết: Trong suốt cuộc đời
Sông cũng như người, buồn vui đủ cả,
Có khác chăng,
Sông đục phù sa mùa hạ.
Sông trong xanh nổi đá mùa đông.
Nhưng sông ơi! Sông có còn nhớ không?
Những đồng đội tôi đến bên sông ngày ấy
Những con người đầu trần, lưng cháy
Những “thiên thần” đi xuyên bóng đêm!
Có phải vô tình hay lâu quá sông quên?
Như con nước vẫn đổ xuôi về biển,…
May có lớp phù sa còn lưu luyến
Giữ lại trong mình bao kỉ niệm xa xăm...

Ở tập II “Sinh ra trong khói lửa”, Ban biên tập cố gắng nâng cao chất lượng cả về nội dung và hình thức thể hiện để tác phẩm thoát ra khỏi mức độ của một “tập san nội bộ”; có tính khoa học, hệ thống, tính văn học và tính xã hội hoá của các thầy, các cô, các cựu học sinh trong toàn trường ở khắp mọi miền đất nước. Bên cạnh đó, trong khi biên tập văn chương, chữ nghĩa, chúng tôi tôn trọng phong cách riêng “không giống ai”của trường ta; tôn trọng “giọng điệu” và “khẩu khí” rất “lính Trỗi”, như “mật khẩu” để tìm đến nhau, tin nhau của người chiến sĩ chung một chiến hào… Và vì thế mà những trang văn, trang thơ của tập sách này tuy thô ráp, mộc mạc nhưng không dễ dãi, dung tục; xúc động đến nao lòng nhưng không uỷ mị, bi quan; tế nhị, hóm hỉnh nhưng không tếu táo, bông phèng; văn chương lưu loát, sáng rõ nhưng không bóng bảy, sáo mòn…

Tuy nhiên, trong quá trình thẩm định các bài gửi về, còn ít tác giả phản ánh sự trưởng thành hôm nay của cựu học sinh nhà trường. Số lượng thơ ca không nhiều bằng các bài văn xuôi. Một vài khóa hầu như còn ít bài. Các thầy, các cô, cựu học sinh ở miền Bắc tham gia viết bài chưa nhiều. Chúng tôi hy vọng rằng, những nhược điểm này sẽ được khắc phục khi hai tập “Sinh ra trong khói lửa” được tái bản hoặc biết đâu, những năm tiếp sau, chúng ta lại hăng hái tiến hành xuất bản tập III “Sinh ra trong khói lửa”!

Lời sau chót, Ban biên tập rất cám ơn gia đình các anh hùng, liệt sĩ cùng các thầy, các cô, các cựu học sinh Trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi đã nhiệt tâm đóng góp ý kiến, tham gia viết bài, góp phần tích cực xuất bản hai tập sách quý của nhà trường - “Sinh ra trong khói lửa”!

BAN BIÊN TẬP



Lời nói đầu


Ban biên tập

Nhân kỷ niệm 40 năm Ngày truyền thống của trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi, thuộc Tổng cục Chính trị (15-10- 1965 – 15-10-2005), tập II “Sinh ra trong khói lửa” ra mắt bạn đọc. So với tập I, đây là sản phẩm tinh thần mang tính toàn trường, từ khâu chỉ đạo, phát động, đôn đốc viết,...v.v. đến khâu biên tập rồi in ấn, phát hành. Lần này Ban biên tập có kinh nghiệm và thời gian chuẩn bị kỹ hơn, đã huy động được nhiều thầy, cô và các cựu học sinh của trường ở khắp nơi trong cả nước và ở nước ngoài, tham gia viết bài, sưu tầm, cung cấp những tư liệu quý.

Chúng tôi xin nêu một vài sự việc vô cùng cảm động. Phan Nam, học sinh khóa 5 của trường, ra Hà Nội tiễn Văn Tiến Huấn về nơi yên nghỉ cuối cùng, đã lưu giữ được mấy bài thơ của bạn, như những lời trăn trối trước khi đột ngột ra đi. Văn Tiến Huấn viết:

Tôi chết nhưng hình bóng tôi không chết
Sẽ có người thương nhớ đến tôi
Không phải siêu nhân nhưng tôi biết
Tên tôi để kỷ niệm cho bao người…

Tạ Việt Chiến, học sinh khóa 3, đã sưu tầm được bức thư đầu tiên cũng là bức thư cuối cùng của liệt sĩ Lê Minh Tân, gửi về gia đình. Là học sinh khóa 3, sau khi tốt nghiệp lớp 10, Tân vào Khoa Chế tạo Máy (Đại học Bách khoa) rồi nhập ngũ đi chiến trường. Anh vượt lên mọi khó khăn, thử thách, kiên trì, bền bỉ phấn đấu và được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam. Đạt được “cái đích đó”, theo Lê Minh Tân, mới xứng đáng gửi thư về cho ba má. Anh viết: “... Đến nay, đã tròn một năm, một năm đầy thử thách với sự đi lên của con. Nay con đã vinh dự được cùng ba má gánh vác nhiệm vụ quang vinh của Đảng giao phó. Con biết đây mới chỉ là cái mốc đầu tiên; còn phải vươn lên nhiều hơn nữa mới đáp ứng được yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng…”. Lê Minh Tân đã anh dũng hy sinh ngày 1 tháng 4 năm 1974, tại Mặt trận Quảng Nam.

Trên đây chỉ là vài tài liệu quý trong nhiều tài liệu phong phú, đa dạng, đầy ắp sự kiện, chan chứa niềm yêu thương, sâu sắc về nội dung giáo dục và rất đỗi tự hào, tiềm ẩn trong những bài văn, bài thơ, trong từng trang viết của các thầy, các cô, của học sinh các khóa gửi về cho Ban biên tập. Chúng tôi thiết nghĩ, gần 2000 ngày sống bên nhau “trong khói lửa” của cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại, trong những giờ phút cam go, thử thách ác liệt nhất của lịch sử dân tộc; trong cái nôi của mẹ hiền, chở che mọi hiểm nguy, bom đạn, tình đồng chí, đồng đội, nghĩa thầy trò nảy nở, gắn kết và sâu đậm hơn bao giờ hết. Vì thế đã hơn 30 năm qua, dù đi đâu, ở đâu, dù sinh cơ lập nghiệp ở phương trời nào thì ai nấy vẫn không thể nào quên những ngày tháng gian khổ, lao lung để cắm một cái mốc son trong cuộc đời một con người.

Năm năm có bấy nhiêu ngày
Mà sao tình nghĩa cao dầy lắm thay
Đọc từng trang viết hôm nay
Xôn xao sống dậy những ngày năm xưa…

Chúng tôi trân trọng, cân nhắc mỗi chữ, mỗi câu trong quá trình biên tập. Tác phẩm gửi về dù dài, dù ngắn, thơ hay văn xuôi, viết theo nhiều thể loại phong phú như hồi ký, nhật ký, truyện ký, tản văn… tất cả đều xuất phát từ những trái tim nóng bỏng yêu thương, từ những suy nghĩ chín muồi, sâu sắc nên chân thực, gây ấn tượng mạnh, làm xúc động lòng người; nhất là các bài viết về anh hùng, liệt sĩ. Hơn nữa, chủ đề tư tưởng cũng rất tập trung ở những trang viết này. Đó là nhiều kỷ niệm không dễ gì quên được dưới mái trường xưa; tình nghĩa thầy trò sâu nặng và học sinh mang truyền thống của nhà trường đi khắp mọi miền của Tổ quốc. Chúng tôi cũng vui mừng khi đọc một số tác phẩm đã đạt tới trình độ của cây bút chuyên nghiệp. Xúc động trước sự hy sinh của Anh hùng, liệt sĩ Huỳnh Kim Trung bên bờ sông Gianh (Quảng Bình) và các liệt sĩ Bùi Hữu Thích, Nguyễn Lâm, Vũ Kiên Cường, Trịnh Thúc Doanh, Đặng Bá Linh, Y Hòa hy sinh bên bờ sông Thạch Hãn mà Nguyễn Xuân Lăng (học sinh khóa 3) đã có bài thơ “Phù sa mặn”. Bài thơ có đoạn:

... Tôi vẫn biết: Trong suốt cuộc đời
Sông cũng như người, buồn vui đủ cả,
Có khác chăng,
Sông đục phù sa mùa hạ.
Sông trong xanh nổi đá mùa đông.
Nhưng sông ơi! Sông có còn nhớ không?
Những đồng đội tôi đến bên sông ngày ấy
Những con người đầu trần, lưng cháy
Những “thiên thần” đi xuyên bóng đêm!
Có phải vô tình hay lâu quá sông quên?
Như con nước vẫn đổ xuôi về biển,…
May có lớp phù sa còn lưu luyến
Giữ lại trong mình bao kỉ niệm xa xăm...

Ở tập II “Sinh ra trong khói lửa”, Ban biên tập cố gắng nâng cao chất lượng cả về nội dung và hình thức thể hiện để tác phẩm thoát ra khỏi mức độ của một “tập san nội bộ”; có tính khoa học, hệ thống, tính văn học và tính xã hội hoá của các thầy, các cô, các cựu học sinh trong toàn trường ở khắp mọi miền đất nước. Bên cạnh đó, trong khi biên tập văn chương, chữ nghĩa, chúng tôi tôn trọng phong cách riêng “không giống ai”của trường ta; tôn trọng “giọng điệu” và “khẩu khí” rất “lính Trỗi”, như “mật khẩu” để tìm đến nhau, tin nhau của người chiến sĩ chung một chiến hào… Và vì thế mà những trang văn, trang thơ của tập sách này tuy thô ráp, mộc mạc nhưng không dễ dãi, dung tục; xúc động đến nao lòng nhưng không uỷ mị, bi quan; tế nhị, hóm hỉnh nhưng không tếu táo, bông phèng; văn chương lưu loát, sáng rõ nhưng không bóng bảy, sáo mòn…

Tuy nhiên, trong quá trình thẩm định các bài gửi về, còn ít tác giả phản ánh sự trưởng thành hôm nay của cựu học sinh nhà trường. Số lượng thơ ca không nhiều bằng các bài văn xuôi. Một vài khóa hầu như còn ít bài. Các thầy, các cô, cựu học sinh ở miền Bắc tham gia viết bài chưa nhiều. Chúng tôi hy vọng rằng, những nhược điểm này sẽ được khắc phục khi hai tập “Sinh ra trong khói lửa” được tái bản hoặc biết đâu, những năm tiếp sau, chúng ta lại hăng hái tiến hành xuất bản tập III “Sinh ra trong khói lửa”!

Lời sau chót, Ban biên tập rất cám ơn gia đình các anh hùng, liệt sĩ cùng các thầy, các cô, các cựu học sinh Trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi đã nhiệt tâm đóng góp ý kiến, tham gia viết bài, góp phần tích cực xuất bản hai tập sách quý của nhà trường - “Sinh ra trong khói lửa”!

BAN BIÊN TẬP

1 - Vài cảm nghĩ... - Hồ Thanh, SRTKL2: 10-20

Vài cảm nghĩ...


HỒ THANH


refont.com - Glitter textập I “Sinh ra trong khói lửa” đến với tôi rất sớm, ngay khi còn đang là bản thảo. Thế mà khi cầm cuốn sách hoàn chỉnh lên, tôi vẫn không khỏi ngỡ ngàng. Thời buổi này sách vở đủ loại, đâu có thiếu. Nhưng sách của bạn bè mình, viết về mình, hẳn nhiên là có một hương vị khác. Như vậy là mấy “Anh Hai Trỗi” (đám “lính Trỗi” ở Thành phố Hồ Chí Minh) thật... chịu chơi(!). Đã nói là làm và làm... liền.

Cầm cuốn sách trên tay: Bìa đẹp, giấy tốt. Có đủ các hạng mục: Tư liệu, biên niên, thơ, văn... Lại nhìn danh sách “Ban biên soạn” thấy hầu hết toàn “tay ngang”, không có tên, tuổi chi trên văn đàn cả, mà vừa buồn cười, vừa thương, lại vừa... nể anh em. Ai cũng đều rất bận rộn. Gặp nhau bên bàn nhậu mà nói, mà cười, để rồi... quên thì dễ. Nhưng họ đã chịu khó ngồi lại, vừa cởi mở vừa nghiêm túc bàn bạc, cặm cụi soạn ra “Sinh ra trong khói lửa” với gần 400 trang, chỉ để mong giữ lại những gì rất có thể sẽ mất, gợi lại vài điều đang có đâu đó trong chúng ta... Ít ra là như vậy. Một nghĩa cử đẹp với bạn đồng môn (với người đang sống và cả với người đã khuất). Không có những người như thầy Phạm Đình Trọng, Trần Kiến Quốc (khóa 5), Nguyễn Nam Điện (khóa 6) hẳn việc khó thành.

Tôi không dám có bình luận gì nhiều về cuốn sách, đơn giản chỉ vì không có khả năng để làm việc đó. Nhưng sau khi đọc xong, không thể không mạo muội viết lại vài dòng “cảm nghĩ”. Chỉ “cảm” và “nghĩ”, vậy thôi.

Với thể loại sách này thì thường có hai phần chính (mặc dù các bài có đan xen nhau):

- Phần tư liệu: Gồm các văn bản, bút tích, phát biểu, tư liệu, tranh ảnh ... sưu tầm). Phần này phải chính xác, không thêm bớt.

- Phần bài viết: Gồm các bài ký, ghi chép, văn, thơ... của thầy, trò, tùy theo cảm hứng. Ban biên soạn có chỉnh lý, biên tập lại ít nhiều, nhưng cơ bản giữ đúng tinh thần của người viết.

Đã là tư liệu thì, tất nhiên, rất khô khan. Tuy nhiên, tôi đã xem nó với một tâm trạng của người trong cuộc: Những tấm thẻ học sinh trường Văn hóa quân đội; bằng, giấy khen từ thời “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa”; giấy nghỉ phép với con dấu của “Tiểu đoàn 126”... Tự bản thân nó đã có một sức lay động, như khi ta chợt gặp lại những kỷ niệm đầu đời vậy. Và xúc động hơn là những tấm hình đen trắng chụp từ thời chiến khu Việt Bắc, hay thuở Quế Lâm xa xưa... Ở cái tuổi “tri thiên mệnh”, tôi đã phải trương mục kỉnh lên (thậm chí có khi còn phải “tăng cường” thêm cả kính lúp) để cố tìm lại những ... “thằng” cùng trung đội cũ và cả chính mình – những chú lính nhóc loi choi đứng thấp hơn cả khẩu súng trường CKC – mặt cô cậu nào cũng ... ngố. Ngố thật sự! Nhưng cái hay lại chính là ở đó: Hồn nhiên, giản dị và hãnh diện. Giờ đây, sự hồn nhiên và giản dị không còn (tất nhiên thôi) nhưng niềm hãnh diện sẽ mãi vẫn tồn tại, mà bắt đầu từ đó.

Từ những chàng “lính cậu” ban đầu, thời gian và khói lửa đã trui rèn nhiều người trở thành những sĩ quan dày dạn, những chiến binh can trường. Danh sách các anh hùng liệt sĩ của trường đã hy sinh trong các cuộc chiến tranh được Ban biên soạn sưu tầm khá công phu, nhưng chắc là không thể đầy đủ (hy sinh ở chiến trường nào, trong hoàn cảnh nào...): Bùi Hữu Thích (khóa 1), Cao Quốc Bảo, Lê Minh Tân, Ngô Ngời (khóa 3), Nguyễn Văn Ngọc, Vũ Chí Dũng, Nguyễn Văn Ơn (khóa 4), Huỳnh Kim Trung, Trịnh Thúc Danh, Vũ Kiên Cường, Võ Dũng, Phạm Văn Hạo (khóa 5), Nguyễn Tiến Quân, Chu Tấn Quang, Võ Nguyên Trọng (khóa 6), Y Hòa, Ngô Tất Thắng (khóa 7)... Những người bạn ấy đã nằm lại trên khắp các chiến trường: Mặt trận Quảng Trị trong “Mùa hè đỏ lửa”, đường Trường Sơn, Tây Nguyên, Quảng Nam, Lộc Ninh, Rừng Sác, Chiến khu D... cho đến Xvây Riêng, Côngpông Chàm, Mônđônkiri (Campuchia), cánh đồng Chum, Pắc Xế (Lào) ... Rồi mặt trận Tây Nam mười năm dai dẳng, chiến tranh biên giới phía Bắc gian truân... Đọc lại những dòng ghi chép, thư từ họ để lại, hay những bài bạn bè viết, lòng ta xiết bao bùi ngùi. Họ đều ra đi khi tuổi còn rất trẻ, với sự tự tin và niềm kiêu hãnh về bổn phận của mình khi Tổ quốc lâm nguy. Có thể giờ đây có người không thật sự còn cảm nhận được nhiều về niềm kiêu hãnh ấy nữa, nhưng điều đó không có nghĩa rằng niềm kiêu hãnh một thời ấy là mơ hồ. Ngược lại, nó sẽ vẫn mãi mãi là chân giá trị để cho mọi giá trị khác phải soi vào! Đất nước, quê hương gọi họ là những Anh hùng, liệt sĩ. Còn chúng ta, những đồng môn, đồng đội – vẫn luôn nhắc đến họ trong mỗi lần gặp gỡ, vẫn coi họ là những người bạn, những người bạn mãi mãi tuổi 20!

Đọc lại bài của bác Bùi Khắc Quỳnh, đại tá, nguyên Chính ủy của trường và những bài của các thầy, cô giáo cũ, ta hình dung lại rõ hơn hoàn cảnh ra đời của trường và những “chặng đường trường Trỗi” đã trải qua. Nó không đơn giản chỉ là một giải pháp tình thế (để bảo toàn lực lượng) mà còn chất chứa một ý định lâu dài là xây dựng lực lượng... Tôi chợt nhớ đến lời kể của tướng Tô Ký: Ở Nam Bộ, năm 1947, sau khi chiến thuật đánh nhanh thắng nhanh, thất bại, biết rằng không thể thắng ta về quân sự, bọn Pháp và tay sai bắt đầu lựa chọn con em ngụy quân, ngụy quyền gấp rút đưa sang Pháp đào tạo, chuẩn bị cho kế hoạch “hậu chiến” lâu dài... Bác Tô Ký (chỉ huy quân khu 8 ngày đó) nhạy bén nhận thức được điều này, đã bàn với lãnh đạo quân khu: Dù khó khăn thiếu thốn cỡ nào, cũng không thể để cho con cháu ta thất học! Về lâu dài trí tuệ sẽ là điều quyết định!... Thế rồi những thiếu nhi đang làm liên lạc, trinh sát ở các đơn vị đều được rút về, cùng con em cán bộ, bộ đội tập trung về chiến khu... Trường Thiếu sinh quân và Đồng tử quân Nam Bộ ra đời. Rồi là các trường thiếu sinh quân khu 4, khu 5... thời chống Pháp lần lượt xuất hiện.

Khác với các bậc tiền nhân nổi dậy chống Pháp trước đây (như Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Thái Học...) anh dũng tuyệt vời, nhưng chưa thoát khỏi lối tư duy “không thành công thì cũng thành nhân” bi tráng, lớp cán bộ kháng chiến thời đại Hồ Chí Minh ở từng vùng, từng miền đều có niềm tin: Cuộc kháng chiến này phải thành công, nhất định thành công, dù 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa! Sự ra đời của các trường thiếu sinh quân, các trường nội trú, hay nói rộng ra là cả các trường của ngành giáo dục Việt Nam, ngay trong khi đang chiến tranh khốc liệt, chính là thể hiện một phần cho quyết tâm và niềm tin ấy.

Việc đào tạo nào thì cũng có sự rơi vãi (tạo lập 10 mà đạt được 6-7 cũng đã là thành công rồi), nhưng xét về tổng thể thì đa số thành viên của trường thiếu sinh quân (cũng như các trường nội trú khác: Học sinh Miền nam, Dân tộc...) đều có thể tự hào là đã không phụ lòng mong mỏi của cha ông: Dù chỉ là một chiến sĩ, một người lao động bình thường, hay trở thành các tướng lĩnh, cán bộ cao cấp, nhà quản lý, nhà khoa học, doanh nhân ... họ đều đã và đang góp phần đắc lực cho chiến thắng và cả thành công ngoạn mục hôm nay của đất nước Việt Nam.

Trong tập I “Sinh ra trong khói lửa”, một điều khá bất ngờ với Ban biên soạn là sự hưởng ứng nhiệt tình của rất nhiều bạn “lính Trỗi”, mà hầu hết trong đó đều không phải là dân chuyên cầm bút, thậm chí có bạn vốn rất “kỵ” với chuyện viết lách (vì đó là điểm yếu nhất của mình). Hồi cùng học, chúng ta có bao giờ thấy những chàng như Nguyễn Thanh Tường (khóa 1), Lê Đức Hòa (khóa 3), Hà Chí Quang, Hoàng Quang (khóa 4), Phan Nam, Trương Đông Nhân, Huỳnh Tấn Lợi, Lê Chí Hòa (khóa 5), Nguyễn Hữu Hà, Lê Hòa Bình (khóa 7)... viết văn bao giờ(!). (Thậm chí có bạn còn nói: “Thằng này chỉ có “quậy” chứ viết lách chi?!”). Vậy mà các bạn đều gửi bài rất nhanh và bài nào cũng khá sinh động.

Phan Nam với “Những ngày đầu trở thành người lính” thể hiện chân thực tâm trạng của “đám lính nhóc” khá gai góc, chỉ quen nghịch ngợm, đã trưởng thành dần lên, trong đó phải kể đến công lao rất lớn của các thầy, cô giáo “vừa giỏi văn hóa, vừa nhiều tài lẻ” đã tạo nên dấu ấn sâu đậm trong việc hình thành nên nhân cách của mỗi học sinh.

Hà Chí Quang với “Đòn đau nhớ đời”, “Miếng ngon nhớ lâu”, “Quả đấm triết lý”... nhắc lại những kỷ niệm mà khóa nào cũng có vì ai cũng có thể từng gặp. Lối viết thật ngắn nhưng trào lộng và nhiều thông tin thể hiện lại những “tính cách” rất riêng của “lính Trỗi” ngày ấy, làm cho cuốn sách sinh động lên nhiều.

Trần Kiến Quốc đã bỏ công sưu tầm hàng loạt dấu ấn, chuyện kể về Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi, Anh hùng liệt sĩ Huỳnh Kim Trung (khóa 5), liệt sĩ Y Hòa (khóa 7), liệt sĩ Võ Dũng (khóa 5)... Đang là chủ doanh nghiệp, bận nhiều công việc làm ăn, nhưng Quốc đã lãnh phần chính yếu trong việc tìm tòi, đôn đốc và tổ chức cho việc ra cuốn sách này. Câu chuyện “Chiến thắng số phận” của Quốc viết về bạn Nguyễn Chỉnh Huấn (khóa 5), một tấm gương vượt khó trong đời thường thật đáng trân trọng. Qua bài viết, nhiều bạn đã biết để đến với Huấn và tìm đến với cả những người bạn khác đang gặp khó khăn, để động viên nhau, giúp đỡ nhau thiết thực hơn. Kiến Quốc thường tâm sự: “Kiếm tiền thì không biết bao nhiêu là đủ, nhưng nếu để cho “danh tiếng” trường Trỗi bị lãng quên thì mình sẽ mãi mang một món nợ, nhất là với những bạn bè đã khuất”.

Bài thơ “Viếng trò” của thầy Nguyễn Phong rất ngắn:

Đại tá thầy đưa đại tá trò
Về nơi yên giấc ngủ ngàn thu ...

Có nét gì đó của hơi hướng Đường thi... Mấy chữ “đại tá” vốn nặng nề là thế (ít ai dùng được trong thơ) nay được lặp lại hai lần trong một câu, nhưng lại tạo nên cảm giác nhẹ bỗng của khói sương. Không nói về cái cấp bậc “đại tá” ở đây (vì phía sau nó là những trọng trách, là mấy chục năm binh nghiệp gian nan) mà muốn nói đến cái ý ẩn sau “đại tá thầy” và “đại tá trò”. Trò đã bằng thầy, thậm chí còn hơn thầy, nhưng mối quan hệ thì vẫn là thầy-trò. Đạo lý Á Đông là thế! Ai rồi cũng đi đến chỗ “yên giấc ngàn thu”, nhưng cái “chiều ngược” của cảm giác, cái nỗi đau của sự mất mát cắt cứa ở đây là trò đi trước thầy... “Đại tá thầy đưa đại tá trò”, hình ảnh ấy chỉ có riêng ở các trường quân sự, hay riêng có ở trường thiếu sinh quân, nơi vừa là thầy - trò vừa là đồng chí, đồng đội. Buồn lắm, đau lắm, nhưng phảng phất vẻ tự hào, nét gan góc trầm tĩnh của đời binh nghiệp.

“Làm người bình thường không dễ” của Lê Đức Hòa (khóa 3) để lại một dư âm vừa bi vừa hài trong lòng người đọc. Anh em khóa 3 nhận ngay ra “gã” là ai – Lê Viễn Chiến (hay còn gọi nôm na là Chiến “thộn”): “… Gã sống nội tâm, hay xúc động, chuyện gì cũng có thể trở thành đề tài để gã suy ngẫm. Gã chỉ chấp thuận ý kiến người khác nếu được sự giải đáp chuẩn mực ... Gã tự cho mình cái quyền chỉ chấp hành các chỉ thị mà gã thấy đúng(!) ...”. Con người Chiến “thộn” đúng là vậy! Và một con người như thế thì việc “được” nghỉ hưu sớm cũng là điều dễ hiểu, mặc dù ai cũng biết rằng: Khi gã đã tin tưởng vào một việc gì, thì bất cần lợi nhuận, gã sẽ làm đến nơi đến chốn, thậm chí có nhiều sáng kiến trên mức... bình thường. “Bạn bè cũ tìm tới, kẻ giao công việc bán hàng, người cho vay vốn. Nhưng bán hàng thì sẽ phải ca ngợi những sản phẩm không đáng được ca ngợi, gã không muốn. Còn vay tiền có nghĩa là mắc nợ, là trái với cái lý của gã. Có người bạn tuyển gã làm kỹ thuật viên, nhưng khi biết là để nhận gã, thì người bạn sẽ phải cho người khác thôi việc, nên gã đã từ chối. Thôi thì ngồi nhà đọc sách, uống rượu thưởng trăng...”(!).

Tôi vốn ghét thói uống rượu và chẳng chút thiện cảm với những kẻ mượn rượu để ba hoa. Nhưng nay nhớ lại, với riêng Viễn Chiến, mặc dù chẳng nể phục gì y, nhưng trong thâm tâm tôi chưa bao giờ coi thường y, kể cả khi gặp y đang uống rượu tì tì. Vì tửu lượng của y khá cao, càng uống càng tỉnh ra, đã đành, nhưng khi đã uống là y rất ít nói; mà nếu có nói vài lời thì, ơn trời, toàn những lời đùa cợt khá... tinh tế. Thời buổi này, trở thành người có chút chức quyền, hoặc người giàu có, mà không để mình bị méo mó đi, là rất khó. Y vui lòng làm một người bình thường, với cách kiếm ăn bình thường, điều đó không hẳn đã hay. Nhưng có một điều y đã vượt qua hẳn sự bình thường, ấy là: Không để mình bị méo mó đi, dù chỉ một chút lăn tăn(!)... Tố chất “Trỗi” đó chăng?

Viết đến đây tôi chợt nhớ đến chuyện của một anh “lính Trỗi” khác, trong một hoàn cảnh khác... Thôi thì cứ đặt tạm cho anh ta một cái tên là M. cho dễ gọi (tên tạm, nhưng chuyện thì thật): M. là một cán bộ chủ trì một đơn vị cũng kha khá (cả về quy mô và hiệu quả công việc). Có lần một đồng chí lãnh đạo cao cấp ở Trung ương về thăm và làm việc ở đơn vị của M.. Sau một ngày làm việc và trò chuyện, đồng chí lãnh đạo này rất hài lòng và có ấn tượng tốt về M., nên đã nói riêng với viên bí thư đi theo, đại ý: Tôi cảm nhận cậu M. này có thể chính là người tôi đang cần tìm cho một vị trí quan trọng ở trên... Một người có tầm nhìn xa, sắc sảo, nhân cách lại mực thước, khoan hòa. Có thể đây là một nhân tố mới đang “bật lên” từ cơ sở... Cậu lưu ý tìm hiểu thêm về M. rồi báo cáo lại tôi (lời dặn nhưng gần như một chỉ thị). Sau khi “tìm hiểu thêm”, anh bí thư đã gặp thẳng M. và nói chân tình:

- “Bác ấy” có cảm tình và rất lưu ý đến anh. Nếu có thể, anh nên tranh thủ đến gặp riêng “bác ấy” một lần. Không phải quà cáp, khách sáo chi cả. Chỉ cốt tạo thêm một điểm... nhấn, để sau này mọi việc thuận lợi hơn. Tôi sẽ bố trí thời điểm cho.

M. rất phân vân, nhưng đúng hẹn anh cũng đến. Dừng lại trước ngôi nhà của đồng chí lãnh đạo nọ một lúc, đầy băn khoăn, rồi anh bỗng lẳng lặng lên xe... quay về. Sau này biết chuyện, tôi giả vờ trách anh bỏ lỡ một dịp may “thăng tiến”. M. cười lúng túng (khác hẳn vẻ cương nghị thường có), nói:

- Trong đời làm việc mà gặp được người hiểu và đánh giá đúng mình thì quý vô cùng. Nhưng không hiểu sao hôm đó tôi không thể nào giơ nổi tay bấm chuông cửa ngôi nhà ấy. Lòng cứ tự hỏi: Tại sao mình lại đến đây? Nếu quả là thực tài, thực đức thì có cần đến “động tác” này không?... Tôi tin là “bác ấy” sẽ rất vui vẻ đón tôi. Nhưng rồi sâu lắng trong lòng, biết đâu “bác ấy” sẽ lại hơi buồn... Một con người có “nhân cách mực thước” kia mà!

Khác đi một chút, nhưng quả có gì đó gần giống Chiến “thộn” phải không? Nhưng lần này là: Để làm một VIP cho đúng nghĩa quả không dễ!

“Trở lại Quế Lâm” của Chí Thọ (khoá 3) là bài tùy bút dài nhất trong sách. Tôi được biết anh viết bài này ngay sau chuyến đi công tác qua 12 thành phố Trung Quốc trở về. Viết xong anh quăng đâu đó (vì bận và cũng vì khi đó chưa có “chủ trương” ra sách). Kiến Quốc (khoá 5) đến chơi, vớ được và lập tức đưa nó “lên khuôn”. Quả có hơi dài nhưng đọc thì không... chán. Thế là đạt rồi. Ngày ấy còn ít người đi du ngoạn Trung Hoa (hơi “nóng” còn thấp thoáng mà). Nếu có đi thì cũng ít ai ghé Quế Lâm. Mà có ghé Quế Lâm thì cũng ít người có tâm tưởng tìm về trường cũ... Nhưng Chí Thọ đã trở về, trong vai một lữ khách, ngỡ như “Bấy lâu ta vui chốn bụi hồng/ Cảnh xưa, gò ngựa một chiều đông...”. Trở về, bồi hồi nhớ lại và suy tưởng. Một sự suy tưởng rộng và sâu (còn hay – dở lại tuỳ từng người đọc). “Ngắm cảnh rừng phong thu đỏ rực trên đường về Lô Địch Sơn, nước Ly Giang mùa này trong vắt, có thể nhìn tận đáy sông” và “Tượng Tu Sơn đang thở nặng nề cùng với trăng sao” mà tiếc cho thời gian đang qua mau! Nghĩ về lớp cha ông, những người đã từng xông pha “từ trong giông bão của nửa đầu thế kỷ 20... dựng lên cơ nghiệp từ buổi sơ khai, hoàn toàn từ hai bàn tay trắng... vượt qua mọi sự bình thường của bản ngã, để làm nên cái chung phi thường...”. Nói chính trị, nhưng không phải là một lối nói sáo mòn biền ngẫu, nên khá ấn tượng. Nhắc về cha ông không phải là để kể công, mà ở mức độ nào đó để “làm nền” cho những suy nghĩ về cuộc đời, về bạn bè mình hôm nay, với vui buồn lẫn lộn – niềm vui lớn hơn, nhưng là niềm vui đã nếm đủ mùi từng trải. “… Họ đã sống đúng như quy luật của cuộc sống này bày ra – có đủ các tính bi, hài, hỉ, nộ, ái, ố, thăng, trầm... Tuy nhiên, chiều nay bên sườn đá núi Quế Lâm hiu quạnh, trong hơi thở dập dồn của một thiên niên kỷ mới kề bên... tôi chỉ còn muốn nhớ đến họ như cái buổi ban đầu tại chính nơi đây mà thôi. Phải chăng chỉ có như thế mới không là khiên cưỡng, không là phù du?! ...”. Và rồi cảnh vật lại chen vào nói dùm cho con người “... Quế Lâm đã lùi lại rất xa... Một dải nước non xanh thắm ấy ngỡ như có hương thơm nhẹ bẫng, vị ngọt tươi nồng. Mùa này trên đỉnh Triều Dương hẳn đang mù mịt khói sương. Những quả thông già tách vỏ, lặng lẽ rơi trên con đường sơn cước hoang vu. Những bông thảo tần, cúc dại nhỏ nhoi mọc xuyên qua khe đá giá lạnh ...” Khung cảnh thật buồn, nhưng thanh khiết (và có lẽ đó mới là ý tưởng chính của bài viết chăng?). Suy tưởng mở ra có vẻ nặng nề, nhưng khép lại như thế cũng là nhẹ nhõm.

“Nỗi lòng người đi xa” của Hoàng Quang (khóa 4) có thể coi là đại diện cho tâm trạng của những cựu thiếu sinh quân mà, vì lý do nào đó, đang sống cảnh tha phương. Tất nhiên là có lúc rất khó khăn “ Chúng tôi sang sinh sống ở đất Đức này đã 13, 14 năm... Chưa năm nào tuyết nhiều như năm nay... khắp nơi toàn màu tuyết trắng. Cô độc quá, nghĩ thật thương cho những kẻ sống tha phương ...”. Lối viết mộc mạc, rất “logic” kiểu ... Đức... “Kẻ bán thuốc lá, người kéo xe đẩy... sớm sớm theo tàu đi về các tỉnh xa buôn bán kiếm lời... Tuần lễ có 7 ngày, thì chúng tôi hầu như phải “cầy cả 7”...nhưng vẫn đầy lạc quan ... Với khối óc và đôi bàn tay, chúng tôi đã lao động cật lực, không kể bất kỳ việc gì để mưu sinh. Và chúng tôi luôn tự hào về những gì mình đã có... Đã “sinh ra trong khói lửa” thì chẳng còn sợ gì sất !”. Vâng, đúng vậy , đã “sinh ra trong khói lửa” thì chẳng còn sợ gì sất! Tôi được biết, khi cuốn sách sang đến bên ấy (nghĩa là cả ở Đức, Nga, Balan, Séc...), anh em đã chuyền tay nhau đọc, có người đọc nghiến ngấu suốt đêm... Nó được nâng niu như một kỷ vật quý. Chẳng phải vì đó là một “tác phẩm” có giá gì ghê gớm, mà chỉ vì nó như một ngọn lửa nhỏ nhen lên làm ấm lòng người xa xứ, giữa những đêm đông giá lạnh trời Âu.

Còn rất nhiều bài viết để lại những cảm nhận hay: “Thăm lại thầy cũ”, “Suy nghĩ về một cụm từ “, “Những trái táo”, “Đại Từ nơi ấy”, “Một buổi hành quân đêm”, “Đi tìm bạn Ngô Ngời”, “Chúng tôi đã tìm nhau như thế nào”, “Nỗi nhớ không quên”...vv. Không thể đòi hỏi ở thể loại sách này (có tính biên niên, tư liệu) một hàm lượng văn học cao hơn. Mỗi bài, mỗi vẻ, tuy còn nhiều nét thô mộc (thậm chí “xù xì”), nhưng đều toát lên những tình cảm trong sáng, chân thành: Tình thầy trò, tình bạn bè, tình đồng môn, đồng đội... Những tình cảm bắt đầu từ tuổi thiếu niên, khi tính cách từng người đang mới định hình, nên đã để lại những dấu ấn khó phai.

Một số anh em “lính Trỗi” thường nói với nhau: So với nhiều trường khác (cả quân sự và dân sự) có truyền thống vài chục năm; đào tạo ra hàng vạn, thậm chí cả chục vạn học sinh... trường ta chỉ tồn tại 5 năm, với gần 1.200 học sinh, thì quả là khiêm nhường. Lại nữa, trường ta không có một “biểu tượng” cụ thể nào (như là một ngôi trường chẳng hạn) để các thế hệ học sinh “hành hương” về thăm (5 năm thì ở năm, sáu nơi và đều là trường tạm giữa rừng núi, hoặc trên đất Bạn; ba lô đặt đâu thì đó là trường). Âu cũng là đặc điểm riêng của các trường thiếu sinh quân thời chiến – loại trường “Sinh ra trong khói lửa”. Vậy nên việc ra được một cuốn sách, sau hơn 30 năm, (mặc dù còn nhiều khiếm khuyết) là thật ý nghĩa. Ở mức độ nào đó, nó cũng tạo ra được một “biểu tượng” tinh thần cho mỗi cựu học sinh quân. Nó thiên về “tình” hơn là một nghĩa vụ.

Người xưa có câu:

Mới hay muôn sự đều mây nổi
Còn lại trong ta một chút tình

Có lẽ vậy, đời người thật ngắn, mọi sự vui buồn, chức tước, bổng lộc, tiền tài... đến, rồi sẽ đi như đám “mây nổi” mà thôi. Chỉ có chút “tình” may chăng còn lưu lại đâu đó, dù rất nhỏ nhoi. Với ý nghĩa ấy, chắc là “Sinh ra trong khói lửa” tập I cũng đã khiêm nhường đạt được mục đích của mình!

 

Tân Quy Đông - Mùa khô 2004.
H.T

 


Vài cảm nghĩ...


HỒ THANH


refont.com - Glitter textập I “Sinh ra trong khói lửa” đến với tôi rất sớm, ngay khi còn đang là bản thảo. Thế mà khi cầm cuốn sách hoàn chỉnh lên, tôi vẫn không khỏi ngỡ ngàng. Thời buổi này sách vở đủ loại, đâu có thiếu. Nhưng sách của bạn bè mình, viết về mình, hẳn nhiên là có một hương vị khác. Như vậy là mấy “Anh Hai Trỗi” (đám “lính Trỗi” ở Thành phố Hồ Chí Minh) thật... chịu chơi(!). Đã nói là làm và làm... liền.

Cầm cuốn sách trên tay: Bìa đẹp, giấy tốt. Có đủ các hạng mục: Tư liệu, biên niên, thơ, văn... Lại nhìn danh sách “Ban biên soạn” thấy hầu hết toàn “tay ngang”, không có tên, tuổi chi trên văn đàn cả, mà vừa buồn cười, vừa thương, lại vừa... nể anh em. Ai cũng đều rất bận rộn. Gặp nhau bên bàn nhậu mà nói, mà cười, để rồi... quên thì dễ. Nhưng họ đã chịu khó ngồi lại, vừa cởi mở vừa nghiêm túc bàn bạc, cặm cụi soạn ra “Sinh ra trong khói lửa” với gần 400 trang, chỉ để mong giữ lại những gì rất có thể sẽ mất, gợi lại vài điều đang có đâu đó trong chúng ta... Ít ra là như vậy. Một nghĩa cử đẹp với bạn đồng môn (với người đang sống và cả với người đã khuất). Không có những người như thầy Phạm Đình Trọng, Trần Kiến Quốc (khóa 5), Nguyễn Nam Điện (khóa 6) hẳn việc khó thành.

Tôi không dám có bình luận gì nhiều về cuốn sách, đơn giản chỉ vì không có khả năng để làm việc đó. Nhưng sau khi đọc xong, không thể không mạo muội viết lại vài dòng “cảm nghĩ”. Chỉ “cảm” và “nghĩ”, vậy thôi.

Với thể loại sách này thì thường có hai phần chính (mặc dù các bài có đan xen nhau):

- Phần tư liệu: Gồm các văn bản, bút tích, phát biểu, tư liệu, tranh ảnh ... sưu tầm). Phần này phải chính xác, không thêm bớt.

- Phần bài viết: Gồm các bài ký, ghi chép, văn, thơ... của thầy, trò, tùy theo cảm hứng. Ban biên soạn có chỉnh lý, biên tập lại ít nhiều, nhưng cơ bản giữ đúng tinh thần của người viết.

Đã là tư liệu thì, tất nhiên, rất khô khan. Tuy nhiên, tôi đã xem nó với một tâm trạng của người trong cuộc: Những tấm thẻ học sinh trường Văn hóa quân đội; bằng, giấy khen từ thời “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa”; giấy nghỉ phép với con dấu của “Tiểu đoàn 126”... Tự bản thân nó đã có một sức lay động, như khi ta chợt gặp lại những kỷ niệm đầu đời vậy. Và xúc động hơn là những tấm hình đen trắng chụp từ thời chiến khu Việt Bắc, hay thuở Quế Lâm xa xưa... Ở cái tuổi “tri thiên mệnh”, tôi đã phải trương mục kỉnh lên (thậm chí có khi còn phải “tăng cường” thêm cả kính lúp) để cố tìm lại những ... “thằng” cùng trung đội cũ và cả chính mình – những chú lính nhóc loi choi đứng thấp hơn cả khẩu súng trường CKC – mặt cô cậu nào cũng ... ngố. Ngố thật sự! Nhưng cái hay lại chính là ở đó: Hồn nhiên, giản dị và hãnh diện. Giờ đây, sự hồn nhiên và giản dị không còn (tất nhiên thôi) nhưng niềm hãnh diện sẽ mãi vẫn tồn tại, mà bắt đầu từ đó.

Từ những chàng “lính cậu” ban đầu, thời gian và khói lửa đã trui rèn nhiều người trở thành những sĩ quan dày dạn, những chiến binh can trường. Danh sách các anh hùng liệt sĩ của trường đã hy sinh trong các cuộc chiến tranh được Ban biên soạn sưu tầm khá công phu, nhưng chắc là không thể đầy đủ (hy sinh ở chiến trường nào, trong hoàn cảnh nào...): Bùi Hữu Thích (khóa 1), Cao Quốc Bảo, Lê Minh Tân, Ngô Ngời (khóa 3), Nguyễn Văn Ngọc, Vũ Chí Dũng, Nguyễn Văn Ơn (khóa 4), Huỳnh Kim Trung, Trịnh Thúc Danh, Vũ Kiên Cường, Võ Dũng, Phạm Văn Hạo (khóa 5), Nguyễn Tiến Quân, Chu Tấn Quang, Võ Nguyên Trọng (khóa 6), Y Hòa, Ngô Tất Thắng (khóa 7)... Những người bạn ấy đã nằm lại trên khắp các chiến trường: Mặt trận Quảng Trị trong “Mùa hè đỏ lửa”, đường Trường Sơn, Tây Nguyên, Quảng Nam, Lộc Ninh, Rừng Sác, Chiến khu D... cho đến Xvây Riêng, Côngpông Chàm, Mônđônkiri (Campuchia), cánh đồng Chum, Pắc Xế (Lào) ... Rồi mặt trận Tây Nam mười năm dai dẳng, chiến tranh biên giới phía Bắc gian truân... Đọc lại những dòng ghi chép, thư từ họ để lại, hay những bài bạn bè viết, lòng ta xiết bao bùi ngùi. Họ đều ra đi khi tuổi còn rất trẻ, với sự tự tin và niềm kiêu hãnh về bổn phận của mình khi Tổ quốc lâm nguy. Có thể giờ đây có người không thật sự còn cảm nhận được nhiều về niềm kiêu hãnh ấy nữa, nhưng điều đó không có nghĩa rằng niềm kiêu hãnh một thời ấy là mơ hồ. Ngược lại, nó sẽ vẫn mãi mãi là chân giá trị để cho mọi giá trị khác phải soi vào! Đất nước, quê hương gọi họ là những Anh hùng, liệt sĩ. Còn chúng ta, những đồng môn, đồng đội – vẫn luôn nhắc đến họ trong mỗi lần gặp gỡ, vẫn coi họ là những người bạn, những người bạn mãi mãi tuổi 20!

Đọc lại bài của bác Bùi Khắc Quỳnh, đại tá, nguyên Chính ủy của trường và những bài của các thầy, cô giáo cũ, ta hình dung lại rõ hơn hoàn cảnh ra đời của trường và những “chặng đường trường Trỗi” đã trải qua. Nó không đơn giản chỉ là một giải pháp tình thế (để bảo toàn lực lượng) mà còn chất chứa một ý định lâu dài là xây dựng lực lượng... Tôi chợt nhớ đến lời kể của tướng Tô Ký: Ở Nam Bộ, năm 1947, sau khi chiến thuật đánh nhanh thắng nhanh, thất bại, biết rằng không thể thắng ta về quân sự, bọn Pháp và tay sai bắt đầu lựa chọn con em ngụy quân, ngụy quyền gấp rút đưa sang Pháp đào tạo, chuẩn bị cho kế hoạch “hậu chiến” lâu dài... Bác Tô Ký (chỉ huy quân khu 8 ngày đó) nhạy bén nhận thức được điều này, đã bàn với lãnh đạo quân khu: Dù khó khăn thiếu thốn cỡ nào, cũng không thể để cho con cháu ta thất học! Về lâu dài trí tuệ sẽ là điều quyết định!... Thế rồi những thiếu nhi đang làm liên lạc, trinh sát ở các đơn vị đều được rút về, cùng con em cán bộ, bộ đội tập trung về chiến khu... Trường Thiếu sinh quân và Đồng tử quân Nam Bộ ra đời. Rồi là các trường thiếu sinh quân khu 4, khu 5... thời chống Pháp lần lượt xuất hiện.

Khác với các bậc tiền nhân nổi dậy chống Pháp trước đây (như Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Thái Học...) anh dũng tuyệt vời, nhưng chưa thoát khỏi lối tư duy “không thành công thì cũng thành nhân” bi tráng, lớp cán bộ kháng chiến thời đại Hồ Chí Minh ở từng vùng, từng miền đều có niềm tin: Cuộc kháng chiến này phải thành công, nhất định thành công, dù 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa! Sự ra đời của các trường thiếu sinh quân, các trường nội trú, hay nói rộng ra là cả các trường của ngành giáo dục Việt Nam, ngay trong khi đang chiến tranh khốc liệt, chính là thể hiện một phần cho quyết tâm và niềm tin ấy.

Việc đào tạo nào thì cũng có sự rơi vãi (tạo lập 10 mà đạt được 6-7 cũng đã là thành công rồi), nhưng xét về tổng thể thì đa số thành viên của trường thiếu sinh quân (cũng như các trường nội trú khác: Học sinh Miền nam, Dân tộc...) đều có thể tự hào là đã không phụ lòng mong mỏi của cha ông: Dù chỉ là một chiến sĩ, một người lao động bình thường, hay trở thành các tướng lĩnh, cán bộ cao cấp, nhà quản lý, nhà khoa học, doanh nhân ... họ đều đã và đang góp phần đắc lực cho chiến thắng và cả thành công ngoạn mục hôm nay của đất nước Việt Nam.

Trong tập I “Sinh ra trong khói lửa”, một điều khá bất ngờ với Ban biên soạn là sự hưởng ứng nhiệt tình của rất nhiều bạn “lính Trỗi”, mà hầu hết trong đó đều không phải là dân chuyên cầm bút, thậm chí có bạn vốn rất “kỵ” với chuyện viết lách (vì đó là điểm yếu nhất của mình). Hồi cùng học, chúng ta có bao giờ thấy những chàng như Nguyễn Thanh Tường (khóa 1), Lê Đức Hòa (khóa 3), Hà Chí Quang, Hoàng Quang (khóa 4), Phan Nam, Trương Đông Nhân, Huỳnh Tấn Lợi, Lê Chí Hòa (khóa 5), Nguyễn Hữu Hà, Lê Hòa Bình (khóa 7)... viết văn bao giờ(!). (Thậm chí có bạn còn nói: “Thằng này chỉ có “quậy” chứ viết lách chi?!”). Vậy mà các bạn đều gửi bài rất nhanh và bài nào cũng khá sinh động.

Phan Nam với “Những ngày đầu trở thành người lính” thể hiện chân thực tâm trạng của “đám lính nhóc” khá gai góc, chỉ quen nghịch ngợm, đã trưởng thành dần lên, trong đó phải kể đến công lao rất lớn của các thầy, cô giáo “vừa giỏi văn hóa, vừa nhiều tài lẻ” đã tạo nên dấu ấn sâu đậm trong việc hình thành nên nhân cách của mỗi học sinh.

Hà Chí Quang với “Đòn đau nhớ đời”, “Miếng ngon nhớ lâu”, “Quả đấm triết lý”... nhắc lại những kỷ niệm mà khóa nào cũng có vì ai cũng có thể từng gặp. Lối viết thật ngắn nhưng trào lộng và nhiều thông tin thể hiện lại những “tính cách” rất riêng của “lính Trỗi” ngày ấy, làm cho cuốn sách sinh động lên nhiều.

Trần Kiến Quốc đã bỏ công sưu tầm hàng loạt dấu ấn, chuyện kể về Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi, Anh hùng liệt sĩ Huỳnh Kim Trung (khóa 5), liệt sĩ Y Hòa (khóa 7), liệt sĩ Võ Dũng (khóa 5)... Đang là chủ doanh nghiệp, bận nhiều công việc làm ăn, nhưng Quốc đã lãnh phần chính yếu trong việc tìm tòi, đôn đốc và tổ chức cho việc ra cuốn sách này. Câu chuyện “Chiến thắng số phận” của Quốc viết về bạn Nguyễn Chỉnh Huấn (khóa 5), một tấm gương vượt khó trong đời thường thật đáng trân trọng. Qua bài viết, nhiều bạn đã biết để đến với Huấn và tìm đến với cả những người bạn khác đang gặp khó khăn, để động viên nhau, giúp đỡ nhau thiết thực hơn. Kiến Quốc thường tâm sự: “Kiếm tiền thì không biết bao nhiêu là đủ, nhưng nếu để cho “danh tiếng” trường Trỗi bị lãng quên thì mình sẽ mãi mang một món nợ, nhất là với những bạn bè đã khuất”.

Bài thơ “Viếng trò” của thầy Nguyễn Phong rất ngắn:

Đại tá thầy đưa đại tá trò
Về nơi yên giấc ngủ ngàn thu ...

Có nét gì đó của hơi hướng Đường thi... Mấy chữ “đại tá” vốn nặng nề là thế (ít ai dùng được trong thơ) nay được lặp lại hai lần trong một câu, nhưng lại tạo nên cảm giác nhẹ bỗng của khói sương. Không nói về cái cấp bậc “đại tá” ở đây (vì phía sau nó là những trọng trách, là mấy chục năm binh nghiệp gian nan) mà muốn nói đến cái ý ẩn sau “đại tá thầy” và “đại tá trò”. Trò đã bằng thầy, thậm chí còn hơn thầy, nhưng mối quan hệ thì vẫn là thầy-trò. Đạo lý Á Đông là thế! Ai rồi cũng đi đến chỗ “yên giấc ngàn thu”, nhưng cái “chiều ngược” của cảm giác, cái nỗi đau của sự mất mát cắt cứa ở đây là trò đi trước thầy... “Đại tá thầy đưa đại tá trò”, hình ảnh ấy chỉ có riêng ở các trường quân sự, hay riêng có ở trường thiếu sinh quân, nơi vừa là thầy - trò vừa là đồng chí, đồng đội. Buồn lắm, đau lắm, nhưng phảng phất vẻ tự hào, nét gan góc trầm tĩnh của đời binh nghiệp.

“Làm người bình thường không dễ” của Lê Đức Hòa (khóa 3) để lại một dư âm vừa bi vừa hài trong lòng người đọc. Anh em khóa 3 nhận ngay ra “gã” là ai – Lê Viễn Chiến (hay còn gọi nôm na là Chiến “thộn”): “… Gã sống nội tâm, hay xúc động, chuyện gì cũng có thể trở thành đề tài để gã suy ngẫm. Gã chỉ chấp thuận ý kiến người khác nếu được sự giải đáp chuẩn mực ... Gã tự cho mình cái quyền chỉ chấp hành các chỉ thị mà gã thấy đúng(!) ...”. Con người Chiến “thộn” đúng là vậy! Và một con người như thế thì việc “được” nghỉ hưu sớm cũng là điều dễ hiểu, mặc dù ai cũng biết rằng: Khi gã đã tin tưởng vào một việc gì, thì bất cần lợi nhuận, gã sẽ làm đến nơi đến chốn, thậm chí có nhiều sáng kiến trên mức... bình thường. “Bạn bè cũ tìm tới, kẻ giao công việc bán hàng, người cho vay vốn. Nhưng bán hàng thì sẽ phải ca ngợi những sản phẩm không đáng được ca ngợi, gã không muốn. Còn vay tiền có nghĩa là mắc nợ, là trái với cái lý của gã. Có người bạn tuyển gã làm kỹ thuật viên, nhưng khi biết là để nhận gã, thì người bạn sẽ phải cho người khác thôi việc, nên gã đã từ chối. Thôi thì ngồi nhà đọc sách, uống rượu thưởng trăng...”(!).

Tôi vốn ghét thói uống rượu và chẳng chút thiện cảm với những kẻ mượn rượu để ba hoa. Nhưng nay nhớ lại, với riêng Viễn Chiến, mặc dù chẳng nể phục gì y, nhưng trong thâm tâm tôi chưa bao giờ coi thường y, kể cả khi gặp y đang uống rượu tì tì. Vì tửu lượng của y khá cao, càng uống càng tỉnh ra, đã đành, nhưng khi đã uống là y rất ít nói; mà nếu có nói vài lời thì, ơn trời, toàn những lời đùa cợt khá... tinh tế. Thời buổi này, trở thành người có chút chức quyền, hoặc người giàu có, mà không để mình bị méo mó đi, là rất khó. Y vui lòng làm một người bình thường, với cách kiếm ăn bình thường, điều đó không hẳn đã hay. Nhưng có một điều y đã vượt qua hẳn sự bình thường, ấy là: Không để mình bị méo mó đi, dù chỉ một chút lăn tăn(!)... Tố chất “Trỗi” đó chăng?

Viết đến đây tôi chợt nhớ đến chuyện của một anh “lính Trỗi” khác, trong một hoàn cảnh khác... Thôi thì cứ đặt tạm cho anh ta một cái tên là M. cho dễ gọi (tên tạm, nhưng chuyện thì thật): M. là một cán bộ chủ trì một đơn vị cũng kha khá (cả về quy mô và hiệu quả công việc). Có lần một đồng chí lãnh đạo cao cấp ở Trung ương về thăm và làm việc ở đơn vị của M.. Sau một ngày làm việc và trò chuyện, đồng chí lãnh đạo này rất hài lòng và có ấn tượng tốt về M., nên đã nói riêng với viên bí thư đi theo, đại ý: Tôi cảm nhận cậu M. này có thể chính là người tôi đang cần tìm cho một vị trí quan trọng ở trên... Một người có tầm nhìn xa, sắc sảo, nhân cách lại mực thước, khoan hòa. Có thể đây là một nhân tố mới đang “bật lên” từ cơ sở... Cậu lưu ý tìm hiểu thêm về M. rồi báo cáo lại tôi (lời dặn nhưng gần như một chỉ thị). Sau khi “tìm hiểu thêm”, anh bí thư đã gặp thẳng M. và nói chân tình:

- “Bác ấy” có cảm tình và rất lưu ý đến anh. Nếu có thể, anh nên tranh thủ đến gặp riêng “bác ấy” một lần. Không phải quà cáp, khách sáo chi cả. Chỉ cốt tạo thêm một điểm... nhấn, để sau này mọi việc thuận lợi hơn. Tôi sẽ bố trí thời điểm cho.

M. rất phân vân, nhưng đúng hẹn anh cũng đến. Dừng lại trước ngôi nhà của đồng chí lãnh đạo nọ một lúc, đầy băn khoăn, rồi anh bỗng lẳng lặng lên xe... quay về. Sau này biết chuyện, tôi giả vờ trách anh bỏ lỡ một dịp may “thăng tiến”. M. cười lúng túng (khác hẳn vẻ cương nghị thường có), nói:

- Trong đời làm việc mà gặp được người hiểu và đánh giá đúng mình thì quý vô cùng. Nhưng không hiểu sao hôm đó tôi không thể nào giơ nổi tay bấm chuông cửa ngôi nhà ấy. Lòng cứ tự hỏi: Tại sao mình lại đến đây? Nếu quả là thực tài, thực đức thì có cần đến “động tác” này không?... Tôi tin là “bác ấy” sẽ rất vui vẻ đón tôi. Nhưng rồi sâu lắng trong lòng, biết đâu “bác ấy” sẽ lại hơi buồn... Một con người có “nhân cách mực thước” kia mà!

Khác đi một chút, nhưng quả có gì đó gần giống Chiến “thộn” phải không? Nhưng lần này là: Để làm một VIP cho đúng nghĩa quả không dễ!

“Trở lại Quế Lâm” của Chí Thọ (khoá 3) là bài tùy bút dài nhất trong sách. Tôi được biết anh viết bài này ngay sau chuyến đi công tác qua 12 thành phố Trung Quốc trở về. Viết xong anh quăng đâu đó (vì bận và cũng vì khi đó chưa có “chủ trương” ra sách). Kiến Quốc (khoá 5) đến chơi, vớ được và lập tức đưa nó “lên khuôn”. Quả có hơi dài nhưng đọc thì không... chán. Thế là đạt rồi. Ngày ấy còn ít người đi du ngoạn Trung Hoa (hơi “nóng” còn thấp thoáng mà). Nếu có đi thì cũng ít ai ghé Quế Lâm. Mà có ghé Quế Lâm thì cũng ít người có tâm tưởng tìm về trường cũ... Nhưng Chí Thọ đã trở về, trong vai một lữ khách, ngỡ như “Bấy lâu ta vui chốn bụi hồng/ Cảnh xưa, gò ngựa một chiều đông...”. Trở về, bồi hồi nhớ lại và suy tưởng. Một sự suy tưởng rộng và sâu (còn hay – dở lại tuỳ từng người đọc). “Ngắm cảnh rừng phong thu đỏ rực trên đường về Lô Địch Sơn, nước Ly Giang mùa này trong vắt, có thể nhìn tận đáy sông” và “Tượng Tu Sơn đang thở nặng nề cùng với trăng sao” mà tiếc cho thời gian đang qua mau! Nghĩ về lớp cha ông, những người đã từng xông pha “từ trong giông bão của nửa đầu thế kỷ 20... dựng lên cơ nghiệp từ buổi sơ khai, hoàn toàn từ hai bàn tay trắng... vượt qua mọi sự bình thường của bản ngã, để làm nên cái chung phi thường...”. Nói chính trị, nhưng không phải là một lối nói sáo mòn biền ngẫu, nên khá ấn tượng. Nhắc về cha ông không phải là để kể công, mà ở mức độ nào đó để “làm nền” cho những suy nghĩ về cuộc đời, về bạn bè mình hôm nay, với vui buồn lẫn lộn – niềm vui lớn hơn, nhưng là niềm vui đã nếm đủ mùi từng trải. “… Họ đã sống đúng như quy luật của cuộc sống này bày ra – có đủ các tính bi, hài, hỉ, nộ, ái, ố, thăng, trầm... Tuy nhiên, chiều nay bên sườn đá núi Quế Lâm hiu quạnh, trong hơi thở dập dồn của một thiên niên kỷ mới kề bên... tôi chỉ còn muốn nhớ đến họ như cái buổi ban đầu tại chính nơi đây mà thôi. Phải chăng chỉ có như thế mới không là khiên cưỡng, không là phù du?! ...”. Và rồi cảnh vật lại chen vào nói dùm cho con người “... Quế Lâm đã lùi lại rất xa... Một dải nước non xanh thắm ấy ngỡ như có hương thơm nhẹ bẫng, vị ngọt tươi nồng. Mùa này trên đỉnh Triều Dương hẳn đang mù mịt khói sương. Những quả thông già tách vỏ, lặng lẽ rơi trên con đường sơn cước hoang vu. Những bông thảo tần, cúc dại nhỏ nhoi mọc xuyên qua khe đá giá lạnh ...” Khung cảnh thật buồn, nhưng thanh khiết (và có lẽ đó mới là ý tưởng chính của bài viết chăng?). Suy tưởng mở ra có vẻ nặng nề, nhưng khép lại như thế cũng là nhẹ nhõm.

“Nỗi lòng người đi xa” của Hoàng Quang (khóa 4) có thể coi là đại diện cho tâm trạng của những cựu thiếu sinh quân mà, vì lý do nào đó, đang sống cảnh tha phương. Tất nhiên là có lúc rất khó khăn “ Chúng tôi sang sinh sống ở đất Đức này đã 13, 14 năm... Chưa năm nào tuyết nhiều như năm nay... khắp nơi toàn màu tuyết trắng. Cô độc quá, nghĩ thật thương cho những kẻ sống tha phương ...”. Lối viết mộc mạc, rất “logic” kiểu ... Đức... “Kẻ bán thuốc lá, người kéo xe đẩy... sớm sớm theo tàu đi về các tỉnh xa buôn bán kiếm lời... Tuần lễ có 7 ngày, thì chúng tôi hầu như phải “cầy cả 7”...nhưng vẫn đầy lạc quan ... Với khối óc và đôi bàn tay, chúng tôi đã lao động cật lực, không kể bất kỳ việc gì để mưu sinh. Và chúng tôi luôn tự hào về những gì mình đã có... Đã “sinh ra trong khói lửa” thì chẳng còn sợ gì sất !”. Vâng, đúng vậy , đã “sinh ra trong khói lửa” thì chẳng còn sợ gì sất! Tôi được biết, khi cuốn sách sang đến bên ấy (nghĩa là cả ở Đức, Nga, Balan, Séc...), anh em đã chuyền tay nhau đọc, có người đọc nghiến ngấu suốt đêm... Nó được nâng niu như một kỷ vật quý. Chẳng phải vì đó là một “tác phẩm” có giá gì ghê gớm, mà chỉ vì nó như một ngọn lửa nhỏ nhen lên làm ấm lòng người xa xứ, giữa những đêm đông giá lạnh trời Âu.

Còn rất nhiều bài viết để lại những cảm nhận hay: “Thăm lại thầy cũ”, “Suy nghĩ về một cụm từ “, “Những trái táo”, “Đại Từ nơi ấy”, “Một buổi hành quân đêm”, “Đi tìm bạn Ngô Ngời”, “Chúng tôi đã tìm nhau như thế nào”, “Nỗi nhớ không quên”...vv. Không thể đòi hỏi ở thể loại sách này (có tính biên niên, tư liệu) một hàm lượng văn học cao hơn. Mỗi bài, mỗi vẻ, tuy còn nhiều nét thô mộc (thậm chí “xù xì”), nhưng đều toát lên những tình cảm trong sáng, chân thành: Tình thầy trò, tình bạn bè, tình đồng môn, đồng đội... Những tình cảm bắt đầu từ tuổi thiếu niên, khi tính cách từng người đang mới định hình, nên đã để lại những dấu ấn khó phai.

Một số anh em “lính Trỗi” thường nói với nhau: So với nhiều trường khác (cả quân sự và dân sự) có truyền thống vài chục năm; đào tạo ra hàng vạn, thậm chí cả chục vạn học sinh... trường ta chỉ tồn tại 5 năm, với gần 1.200 học sinh, thì quả là khiêm nhường. Lại nữa, trường ta không có một “biểu tượng” cụ thể nào (như là một ngôi trường chẳng hạn) để các thế hệ học sinh “hành hương” về thăm (5 năm thì ở năm, sáu nơi và đều là trường tạm giữa rừng núi, hoặc trên đất Bạn; ba lô đặt đâu thì đó là trường). Âu cũng là đặc điểm riêng của các trường thiếu sinh quân thời chiến – loại trường “Sinh ra trong khói lửa”. Vậy nên việc ra được một cuốn sách, sau hơn 30 năm, (mặc dù còn nhiều khiếm khuyết) là thật ý nghĩa. Ở mức độ nào đó, nó cũng tạo ra được một “biểu tượng” tinh thần cho mỗi cựu học sinh quân. Nó thiên về “tình” hơn là một nghĩa vụ.

Người xưa có câu:

Mới hay muôn sự đều mây nổi
Còn lại trong ta một chút tình

Có lẽ vậy, đời người thật ngắn, mọi sự vui buồn, chức tước, bổng lộc, tiền tài... đến, rồi sẽ đi như đám “mây nổi” mà thôi. Chỉ có chút “tình” may chăng còn lưu lại đâu đó, dù rất nhỏ nhoi. Với ý nghĩa ấy, chắc là “Sinh ra trong khói lửa” tập I cũng đã khiêm nhường đạt được mục đích của mình!

 

Tân Quy Đông - Mùa khô 2004.
H.T

 


2 - Ý kiến bạn đọc - Ban biên tập , SRTKL2: 21-27

Những cảm nhận cháy lòng
với tập I “Sinh ra trong khói lửa”


BAN BIÊN TẬP

Ngay sau khi vừa phát hành cuốn sách “Sinh ra trong khói lửa”tập I, Ban biên soạn đã nhận được rất nhiều lời chúc mừng động viên của thầy trò nhà trường qua điện thoại, qua thư, qua nhắn tin, qua thư điện tử… Đúng là một phần thưởng vô giá!

Xin giới thiệu cùng bạn đọc những tình cảm quý báu đó!

- Thầy giáo Mai Duy Vọng (Thành phố Hồ Chí Minh): “Thầy đã thức đến 2 giờ sáng để đọc. Các em không phải nhà văn mà viết hay quá! Các cựu chiến binh, bạn thầy, thay nhau mượn đọc và thực sự ngạc nhiên vì không hề biết có một trường như thế!”

- Tạ Việt Chiến (khóa 3): “Cuốn sách của “các ông” đã làm tôi thức trắng đêm đến sáng để đọc. Tuyệt vời!”

- Bùi Tuấn (Viện quân y 175): “Em thấy sướng vì nhiều điều như huyền thoại, giờ mới hiểu được nguồn gốc một cách có hệ thống…”

- Hoàng Triệu Hùng (khóa 1 – Hà Nội): “Qua cuốn sách, tôi biết anh em rất công phu và trách nhiệm. Tuy vậy vẫn thiếu mảng khóa 1…”

- Võ Hiếu Dân (em gái liệt sĩ Võ Dũng): “Em và ba em xin cảm ơn các anh, nhất là tác giả Anh Thy đã viết về anh Dũng. Hôm qua đến nhà chị Trà Giang em thấy mọi người cũng bàn luận về cuốn sách…”

- Hoàng Quang (khóa 4 - Leipzig, Đức): “Tất cả anh em, bạn bè trường Trỗi thân yêu! Lúc này đã là 10 giờ tối ở Đức (4 giờ sáng giờ Việt Nam). Đã qua giao thừa! Buồn và nhớ nhà, cầm cuốn “Sinh ra trong khói lửa” do Đức Dũng vừa bên nước sang chuyển cho mà tôi không cầm được nước mắt. Nhớ các bạn và nhớ những năm tháng sống ở trường Trỗi; nhất là khi năm hết Tết đến đang phải sống lang thang bên xứ người… Cuốn sách đã làm mấy thằng Trỗi chúng tôi – Quang, Quý, Võ Hùng – xúc động thực sự! Nay mai sẽ cố gắng gửi về một vài kỷ niệm của những năm tháng không thể nào quên cho Ban biên soạn, mong rằng sẽ góp chút gì đây cho “Ngôi nhà chung” của chúng ta. Bọn tôi ghi nhận sự cố gắng tột độ của anh em trong Ban biên soạn. Cuốn sách trên cả tuyệt vời, (chí ít là với bọn tôi, mấy thằng “Trỗi con”, đang kiếm sống ở trời Tây)! Nhân dịp năm mới, chúc anh em cùng toàn thể gia quyến “An khang, Thịnh vượng”, chúc “Sinh ra trong khói lửa” sống mãi trong lòng chúng ta như anh Trỗi sống mãi trong lòng người dân Việt Nam!”

- Tôn Gia Quý (khóa 4 - Leipzig, Đức): “Tạ Vinh thân! Anh em bên nhà vừa gửi qua cuốn “Sinh ra trong khói lửa”. Sách được anh em in rất đẹp, kì công, phần nào đã tái hiện được hình ảnh của nhà trường và các khóa, kể từ khi thành lập cho đến nay (đã 35 năm). Đọc rất cảm động, các mẩu chuyện viết theo lối kể chuyện với giọng văn riêng của “lính Trỗi”. Qua đây mới thấy anh em ở nhà làm được nhiều việc lớn quá, trong khi anh em ta ở đây vẫn “bình chân như vại”. Vì vậy, qua “hội ý tổ tam tam” ở Leipzig, tôi thấy phải làm gì đây để khơi dậy dòng máu Trỗi trong mỗi chúng ta và có chút ít đóng góp cho các thầy cô và anh em ở nhà. Dự kiến, sẽ nối kết các anh em Trỗi sống ở Đức và sớm tổ chức một buổi họp mặt trường Trỗi tại Leipzig. Đồng thời sẽ lập một quỹ riêng (konto) để cùng đóng góp tiền gửi về nước. Anh cho ý kiến. Nếu phát hiện thêm lính Trỗi nào ở đây thì anh báo để tôi liên lạc. Thân!”

- Nguyễn Văn Tuấn (khóa 4 – Hà Nội): “Chúng tôi – những cựu học sinh trường Trỗi ở Hà Nội - đã nhận được cuốn “Sinh ra trong khói lửa” của các bạn Trỗi phía Nam biên soạn. Cầm cuốn sách trong tay, đọc những trang viết cùng các ảnh tư liệu quý giá, chúng tôi như được sống lại trong ký ức xưa. Sách in đẹp, rõ ràng với nhiều tư liệu quý, những bài viết thực sự làm xúc động lòng người. Qua đây, chúng tôi hiểu thêm nhiều điều về đại gia đình trường Trỗi mà khi còn là học sinh, chưa hề biết. Chúng tôi đã đọc “ngấu nghiến”, đọc đi đọc lại nhiều lần, chuyền tay nhau cùng đọc và thông báo cho các bạn Trỗi biết cùng đọc. Cuốn sách ra đời là một việc làm tốt. Chúng tôi thực sự cảm ơn sự lao động của các bạn. Cho phép tôi – một cựu học sinh của trường – nhiệt liệt hoan nghênh và cảm ơn việc làm thiết thực này!

Đúng như lời tựa của cuốn sách, rất tiếc còn thiếu nhiều tư liệu quý của các bạn các khóa, của anh em và thầy cô phía Bắc. Rất tiếc do không biết được ý định xuất bản lần này nên chưa tham gia được gì với các bạn. Hy vọng đến dịp kỷ niệm 40 năm, chúng ta sẽ có một cuốn sách đầy đủ, hoàn chỉnh hơn với sự đóng góp của tất cả các khóa ở cả hai miền Nam-Bắc. Chúng tôi sẽ cùng các bạn sưu tầm và gửi nhiều bài vở, góp phần với việc làm ý nghĩa của các bạn…”

- Ngô Phúc Chiến (khóa 5 – Huế): “Vào những ngày giáp Tết, mình nhận được tập “Sinh ra trong khói lửa” của anh em gửi ra. Cả nhà rất mừng và có điều lạ, vợ mình rất lười đọc mà cuốn sách đã cuốn hút cô ấy vào những kỷ niệm của thuở thiếu thời của chúng mình. Bằng tất cả tình cảm và tấm lòng, cuốn sách ra thật đúng lúc với ước muốn của mọi thành viên trong trường. Các bài viết rất súc tích, làm người xem bị lôi cuốn vào những chuyện lạ mà có thật trong đời thường. Bài nào cũng hay, kỷ niệm nào cũng đẹp, nhân vật nào cũng “xuất sắc”! Nói một cách đầy đủ là RẤT SÚC TÍCH!

Nếu nói rằng, mỗi người đều có một khoảng đời thì nếu ai đánh mất khoảng đời đáng nhớ nhất ấy thì người đó sẽ bị lãng quên:

Nếu phải chia cho người yêu một nửa
Thì em ơi, xin nhận lấy khoảng đời đầu
Cái khoảng đời vời vợi nhìn nhau
Đằm thắm thời gian... Không mùa ranh giới.1

- Phan Hoài Thuận (khóa 4, Đà Nẵng): “… Chúng ta đều sinh ra và lớn lên trong khói lửa. Khi mà, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã đi qua gần 30 năm, anh em ta, mỗi người mỗi cương vị, một cuộc sống khác nhau; người bận việc quan trường, giữ những trọng trách trong bộ máy nhà nước, kẻ đang lăn lộn trong cuộc sống đời thường, bạn đã nghỉ hưu… nhưng trong tâm khảm chúng ta vẫn giữ được những kỉ niệm về một thời oanh liệt của dân tộc, của cha anh và của chính chúng ta. Những việc mà anh em phía Nam đã làm, viết bài và cho xuất bản cuốn sách về những tấm gương hy sinh của bạn bè, những kỉ niệm sâu sắc của những năm tháng đã trải qua… thật sự là cần thiết! (Nhất là trong cái thời kì, nhiều người đang phải bon chen, chống chọi với nền kinh tế thị trường để kiếm sống). Cuộc sống vẫn còn nhiều khó khăn nhưng khi đọc “Sinh ra trong khói lửa” làm chúng ta không thể quên được những người đã ngã xuống cho đất nước, không quên được công ơn của Đảng, quân đội đã rèn luyện, đào tạo chúng ta. Nó nhắc nhở chúng ta không bao giờ được quên lí tưởng mà cha ông chúng ta đã hy sinh cả cuộc đời vì nó.

Nếu không có ý tưởng và tâm huyết của các bạn phía Nam, chắc rồi theo năm tháng, cái tên “trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi” cũng đi vào dĩ vãng. Xin chân thành cám ơn các bạn!”

- Thầy giáo Cao Cự An (Diễn Châu, Nghệ An): “…Thầy đã đọc cuốn “Sinh ra trong khói lửa” của các em học sinh trường Nguyễn Văn Trỗi qua nhiều khóa. Nhìn vào cuốn sách, không những nó quý ở bề dầy mà còn là cả tâm huyết và công lao của Ban biên soạn và tất cả các em. Thầy cảm thấy đây là một kỷ niệm ít có trong đời.

Những em trở thành liệt sĩ của khóa 5 thật đáng tự hào. Nhìn vào ảnh các em Huỳnh Kim Trung, Võ Dũng, Trịnh Thúc Doanh, Vũ Kiên Cường, Nguyễn Lâm, Phạm Văn Hạo, làm thầy hình dung ngay ra các em vào thuở đó. Biết nói sao hết được lòng quý mến, tự hào của mình đối với các em học sinh của trường Nguyễn Văn Trỗi. Nhìn đến các em, nhắc đến tên các em, lòng thầy thấy xao xuyến và tự nhủ phải sống như thế nào nữa để xứng đáng với tuổi trẻ của các em, xứng đáng và vinh dự là người thầy, người bạn, người đồng chí của các em!

Niềm vui của Ban biên soạn Tập I

Niềm vui của Ban biên soạn Tập I

 

Thầy rất hào hứng khi đọc “Chị Quyên và ba lần gặp Bác” (trang 314). Đây là bài ký giá trị không những súc tích về tư liệu mà còn sâu lắng tình cảm của người viết. Có gì quý hơn khi văn chương biết thức dậy ở con người một tâm tưởng trong sáng như vậy.

Thầy đọc bài viết chân tình của Nguyễn Thiện Nhân. Cách viết gọn, để lại cho người đọc lòng tự hào về một thời đáng nhớ của tuổi trẻ.

Thầy không ngờ Phan Nam (trang 113) lại biết viết văn chân tình như vậy. Khi sống với Nam thầy có đâu ngờ như bây giờ, Nam đã chững chạc nhiều mặt. Phan Nam thuở xưa rất quý thầy và thầy rất quý Nam. Có một lần, thầy đã gặp Phan Nam dọc đường ở Khu Bốn, khi đó Nam đã là anh bộ đội.

Thầy cũng không ngờ Huỳnh Tấn Lợi, người cao dong dỏng, ngây ngô thuở nào mà nay có bài ký rất hay. Té ra là dưới mái trường thân yêu của chúng ta, đã rèn luyện được những con người như Tấn Lợi, mang sâu nặng lòng yêu nước nồng nàn của tuổi trẻ.

Qua bài “Chiến thắng số phận”, thầy rất xúc động về Nguyễn Chỉnh Huấn. Khi học văn, có lần Huấn đã tâm sự: Văn em chưa hay nhưng thầy hãy tin rằng em sẽ tiến bộ. Con người và nghị lực của Chỉnh Huấn đáng quý biết bao! Thầy mong sao gặp được Chỉnh Huấn, xem chiếc xe “tự chế” của Huấn và ôm Huấn mà không biết chảy bao dòng nước mắt.

Thầy cũng không ngờ Ngô Cửu (trang 294), con người hiền lành và cục tính thuở đó nay có bài viết nhắc đến tên của các bạn trong lớp mà thầy đã từng giảng bài cho các em.

Còn nhiều bài văn, bài thơ, thầy sẽ trao đổi với các em sau.

Gặp các bạn ở phía Nam nói chung, trong đó có nhiều em là tác giả của cuốn sách, hãy nói giúp: thầy An rất cảm ơn các em đã nói lên tất cả những quá khứ vinh quang của mình. Chính nhờ quá khứ đó, đã nâng đỡ tâm hồn và lý tưởng của các em vươn cao hơn, xa hơn. Thầy rất mong có ngày hội ngộ với các em ở phía Nam!”

- Cô giáo Phan Thị Nhâm (Hà Nội): “Năm ngoái nhân cuộc họp cán bộ, giáo viên trường Nguyễn Văn Trỗi, cô nhận được tập san về trường. Cô rất cảm động và cảm ơn Ban biên soạn, Ban Liên lạc và toàn thể các em ở trong Nam. Năm nay cô mới xem hết tập san của các em. Cô đọc từ lời mở đầu, từ bài phát biểu của bác Quỳnh, của các thầy đến từng bài viết của các em. Cô thực sự xúc động khi được biết danh sách các liệt sĩ của nhà trường, trong đó có Anh hùng liệt sĩ Huỳnh Kim Trung. Cô thấy bài viết của các em rất dí dỏm, có một phong cách riêng, cảm động nói lên tình cảm chân thành đối với trường xưa, với thầy cô và bạn bè. Bài nào cũng hay, bài nào cũng đáng nhớ! Xem đến bài “Một lần ăn trộm gà” do bốn trò thực hiện mà cứ cười rũ ra, bọn con gái mà biết chắc cũng phải cười bò ra ấy chứ! Đúng là tuổi trẻ nghịch ngợm. Thế mới biết các thầy ở đại đội thực sự vất vả, vừa dạy học vừa quản lí; khi có sự cố là giải quyết tuyệt khéo vì “con dại cái mang” mà(!). Cô làm đại đội trưởng C11 vất vả không bằng một phần trăm các thầy. Còn lâu mới bén gót! Nhắc lại chuyện xưa (nào là ăn trộm gà hay lấy trộm bài kiểm tra…) không phải để kể tội các em mà để ôn lại những kỉ niệm đáng nhớ của một thời trường Trỗi thân yêu!”

Trên đây chỉ là một phần rất nhỏ chúng tôi muốn đưa tới bạn đọc. Đó chính là những gì “Rất Nguyễn Văn Trỗi”!

B.B.T




1 - Trích bài thơ “Nửa sau khoảng đời”- liệt sĩ Vũ Đình Văn.

Những cảm nhận cháy lòng
với tập I “Sinh ra trong khói lửa”


BAN BIÊN TẬP

Ngay sau khi vừa phát hành cuốn sách “Sinh ra trong khói lửa”tập I, Ban biên soạn đã nhận được rất nhiều lời chúc mừng động viên của thầy trò nhà trường qua điện thoại, qua thư, qua nhắn tin, qua thư điện tử… Đúng là một phần thưởng vô giá!

Xin giới thiệu cùng bạn đọc những tình cảm quý báu đó!

- Thầy giáo Mai Duy Vọng (Thành phố Hồ Chí Minh): “Thầy đã thức đến 2 giờ sáng để đọc. Các em không phải nhà văn mà viết hay quá! Các cựu chiến binh, bạn thầy, thay nhau mượn đọc và thực sự ngạc nhiên vì không hề biết có một trường như thế!”

- Tạ Việt Chiến (khóa 3): “Cuốn sách của “các ông” đã làm tôi thức trắng đêm đến sáng để đọc. Tuyệt vời!”

- Bùi Tuấn (Viện quân y 175): “Em thấy sướng vì nhiều điều như huyền thoại, giờ mới hiểu được nguồn gốc một cách có hệ thống…”

- Hoàng Triệu Hùng (khóa 1 – Hà Nội): “Qua cuốn sách, tôi biết anh em rất công phu và trách nhiệm. Tuy vậy vẫn thiếu mảng khóa 1…”

- Võ Hiếu Dân (em gái liệt sĩ Võ Dũng): “Em và ba em xin cảm ơn các anh, nhất là tác giả Anh Thy đã viết về anh Dũng. Hôm qua đến nhà chị Trà Giang em thấy mọi người cũng bàn luận về cuốn sách…”

- Hoàng Quang (khóa 4 - Leipzig, Đức): “Tất cả anh em, bạn bè trường Trỗi thân yêu! Lúc này đã là 10 giờ tối ở Đức (4 giờ sáng giờ Việt Nam). Đã qua giao thừa! Buồn và nhớ nhà, cầm cuốn “Sinh ra trong khói lửa” do Đức Dũng vừa bên nước sang chuyển cho mà tôi không cầm được nước mắt. Nhớ các bạn và nhớ những năm tháng sống ở trường Trỗi; nhất là khi năm hết Tết đến đang phải sống lang thang bên xứ người… Cuốn sách đã làm mấy thằng Trỗi chúng tôi – Quang, Quý, Võ Hùng – xúc động thực sự! Nay mai sẽ cố gắng gửi về một vài kỷ niệm của những năm tháng không thể nào quên cho Ban biên soạn, mong rằng sẽ góp chút gì đây cho “Ngôi nhà chung” của chúng ta. Bọn tôi ghi nhận sự cố gắng tột độ của anh em trong Ban biên soạn. Cuốn sách trên cả tuyệt vời, (chí ít là với bọn tôi, mấy thằng “Trỗi con”, đang kiếm sống ở trời Tây)! Nhân dịp năm mới, chúc anh em cùng toàn thể gia quyến “An khang, Thịnh vượng”, chúc “Sinh ra trong khói lửa” sống mãi trong lòng chúng ta như anh Trỗi sống mãi trong lòng người dân Việt Nam!”

- Tôn Gia Quý (khóa 4 - Leipzig, Đức): “Tạ Vinh thân! Anh em bên nhà vừa gửi qua cuốn “Sinh ra trong khói lửa”. Sách được anh em in rất đẹp, kì công, phần nào đã tái hiện được hình ảnh của nhà trường và các khóa, kể từ khi thành lập cho đến nay (đã 35 năm). Đọc rất cảm động, các mẩu chuyện viết theo lối kể chuyện với giọng văn riêng của “lính Trỗi”. Qua đây mới thấy anh em ở nhà làm được nhiều việc lớn quá, trong khi anh em ta ở đây vẫn “bình chân như vại”. Vì vậy, qua “hội ý tổ tam tam” ở Leipzig, tôi thấy phải làm gì đây để khơi dậy dòng máu Trỗi trong mỗi chúng ta và có chút ít đóng góp cho các thầy cô và anh em ở nhà. Dự kiến, sẽ nối kết các anh em Trỗi sống ở Đức và sớm tổ chức một buổi họp mặt trường Trỗi tại Leipzig. Đồng thời sẽ lập một quỹ riêng (konto) để cùng đóng góp tiền gửi về nước. Anh cho ý kiến. Nếu phát hiện thêm lính Trỗi nào ở đây thì anh báo để tôi liên lạc. Thân!”

- Nguyễn Văn Tuấn (khóa 4 – Hà Nội): “Chúng tôi – những cựu học sinh trường Trỗi ở Hà Nội - đã nhận được cuốn “Sinh ra trong khói lửa” của các bạn Trỗi phía Nam biên soạn. Cầm cuốn sách trong tay, đọc những trang viết cùng các ảnh tư liệu quý giá, chúng tôi như được sống lại trong ký ức xưa. Sách in đẹp, rõ ràng với nhiều tư liệu quý, những bài viết thực sự làm xúc động lòng người. Qua đây, chúng tôi hiểu thêm nhiều điều về đại gia đình trường Trỗi mà khi còn là học sinh, chưa hề biết. Chúng tôi đã đọc “ngấu nghiến”, đọc đi đọc lại nhiều lần, chuyền tay nhau cùng đọc và thông báo cho các bạn Trỗi biết cùng đọc. Cuốn sách ra đời là một việc làm tốt. Chúng tôi thực sự cảm ơn sự lao động của các bạn. Cho phép tôi – một cựu học sinh của trường – nhiệt liệt hoan nghênh và cảm ơn việc làm thiết thực này!

Đúng như lời tựa của cuốn sách, rất tiếc còn thiếu nhiều tư liệu quý của các bạn các khóa, của anh em và thầy cô phía Bắc. Rất tiếc do không biết được ý định xuất bản lần này nên chưa tham gia được gì với các bạn. Hy vọng đến dịp kỷ niệm 40 năm, chúng ta sẽ có một cuốn sách đầy đủ, hoàn chỉnh hơn với sự đóng góp của tất cả các khóa ở cả hai miền Nam-Bắc. Chúng tôi sẽ cùng các bạn sưu tầm và gửi nhiều bài vở, góp phần với việc làm ý nghĩa của các bạn…”

- Ngô Phúc Chiến (khóa 5 – Huế): “Vào những ngày giáp Tết, mình nhận được tập “Sinh ra trong khói lửa” của anh em gửi ra. Cả nhà rất mừng và có điều lạ, vợ mình rất lười đọc mà cuốn sách đã cuốn hút cô ấy vào những kỷ niệm của thuở thiếu thời của chúng mình. Bằng tất cả tình cảm và tấm lòng, cuốn sách ra thật đúng lúc với ước muốn của mọi thành viên trong trường. Các bài viết rất súc tích, làm người xem bị lôi cuốn vào những chuyện lạ mà có thật trong đời thường. Bài nào cũng hay, kỷ niệm nào cũng đẹp, nhân vật nào cũng “xuất sắc”! Nói một cách đầy đủ là RẤT SÚC TÍCH!

Nếu nói rằng, mỗi người đều có một khoảng đời thì nếu ai đánh mất khoảng đời đáng nhớ nhất ấy thì người đó sẽ bị lãng quên:

Nếu phải chia cho người yêu một nửa
Thì em ơi, xin nhận lấy khoảng đời đầu
Cái khoảng đời vời vợi nhìn nhau
Đằm thắm thời gian... Không mùa ranh giới.1

- Phan Hoài Thuận (khóa 4, Đà Nẵng): “… Chúng ta đều sinh ra và lớn lên trong khói lửa. Khi mà, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã đi qua gần 30 năm, anh em ta, mỗi người mỗi cương vị, một cuộc sống khác nhau; người bận việc quan trường, giữ những trọng trách trong bộ máy nhà nước, kẻ đang lăn lộn trong cuộc sống đời thường, bạn đã nghỉ hưu… nhưng trong tâm khảm chúng ta vẫn giữ được những kỉ niệm về một thời oanh liệt của dân tộc, của cha anh và của chính chúng ta. Những việc mà anh em phía Nam đã làm, viết bài và cho xuất bản cuốn sách về những tấm gương hy sinh của bạn bè, những kỉ niệm sâu sắc của những năm tháng đã trải qua… thật sự là cần thiết! (Nhất là trong cái thời kì, nhiều người đang phải bon chen, chống chọi với nền kinh tế thị trường để kiếm sống). Cuộc sống vẫn còn nhiều khó khăn nhưng khi đọc “Sinh ra trong khói lửa” làm chúng ta không thể quên được những người đã ngã xuống cho đất nước, không quên được công ơn của Đảng, quân đội đã rèn luyện, đào tạo chúng ta. Nó nhắc nhở chúng ta không bao giờ được quên lí tưởng mà cha ông chúng ta đã hy sinh cả cuộc đời vì nó.

Nếu không có ý tưởng và tâm huyết của các bạn phía Nam, chắc rồi theo năm tháng, cái tên “trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi” cũng đi vào dĩ vãng. Xin chân thành cám ơn các bạn!”

- Thầy giáo Cao Cự An (Diễn Châu, Nghệ An): “…Thầy đã đọc cuốn “Sinh ra trong khói lửa” của các em học sinh trường Nguyễn Văn Trỗi qua nhiều khóa. Nhìn vào cuốn sách, không những nó quý ở bề dầy mà còn là cả tâm huyết và công lao của Ban biên soạn và tất cả các em. Thầy cảm thấy đây là một kỷ niệm ít có trong đời.

Những em trở thành liệt sĩ của khóa 5 thật đáng tự hào. Nhìn vào ảnh các em Huỳnh Kim Trung, Võ Dũng, Trịnh Thúc Doanh, Vũ Kiên Cường, Nguyễn Lâm, Phạm Văn Hạo, làm thầy hình dung ngay ra các em vào thuở đó. Biết nói sao hết được lòng quý mến, tự hào của mình đối với các em học sinh của trường Nguyễn Văn Trỗi. Nhìn đến các em, nhắc đến tên các em, lòng thầy thấy xao xuyến và tự nhủ phải sống như thế nào nữa để xứng đáng với tuổi trẻ của các em, xứng đáng và vinh dự là người thầy, người bạn, người đồng chí của các em!

Niềm vui của Ban biên soạn Tập I

Niềm vui của Ban biên soạn Tập I

 

Thầy rất hào hứng khi đọc “Chị Quyên và ba lần gặp Bác” (trang 314). Đây là bài ký giá trị không những súc tích về tư liệu mà còn sâu lắng tình cảm của người viết. Có gì quý hơn khi văn chương biết thức dậy ở con người một tâm tưởng trong sáng như vậy.

Thầy đọc bài viết chân tình của Nguyễn Thiện Nhân. Cách viết gọn, để lại cho người đọc lòng tự hào về một thời đáng nhớ của tuổi trẻ.

Thầy không ngờ Phan Nam (trang 113) lại biết viết văn chân tình như vậy. Khi sống với Nam thầy có đâu ngờ như bây giờ, Nam đã chững chạc nhiều mặt. Phan Nam thuở xưa rất quý thầy và thầy rất quý Nam. Có một lần, thầy đã gặp Phan Nam dọc đường ở Khu Bốn, khi đó Nam đã là anh bộ đội.

Thầy cũng không ngờ Huỳnh Tấn Lợi, người cao dong dỏng, ngây ngô thuở nào mà nay có bài ký rất hay. Té ra là dưới mái trường thân yêu của chúng ta, đã rèn luyện được những con người như Tấn Lợi, mang sâu nặng lòng yêu nước nồng nàn của tuổi trẻ.

Qua bài “Chiến thắng số phận”, thầy rất xúc động về Nguyễn Chỉnh Huấn. Khi học văn, có lần Huấn đã tâm sự: Văn em chưa hay nhưng thầy hãy tin rằng em sẽ tiến bộ. Con người và nghị lực của Chỉnh Huấn đáng quý biết bao! Thầy mong sao gặp được Chỉnh Huấn, xem chiếc xe “tự chế” của Huấn và ôm Huấn mà không biết chảy bao dòng nước mắt.

Thầy cũng không ngờ Ngô Cửu (trang 294), con người hiền lành và cục tính thuở đó nay có bài viết nhắc đến tên của các bạn trong lớp mà thầy đã từng giảng bài cho các em.

Còn nhiều bài văn, bài thơ, thầy sẽ trao đổi với các em sau.

Gặp các bạn ở phía Nam nói chung, trong đó có nhiều em là tác giả của cuốn sách, hãy nói giúp: thầy An rất cảm ơn các em đã nói lên tất cả những quá khứ vinh quang của mình. Chính nhờ quá khứ đó, đã nâng đỡ tâm hồn và lý tưởng của các em vươn cao hơn, xa hơn. Thầy rất mong có ngày hội ngộ với các em ở phía Nam!”

- Cô giáo Phan Thị Nhâm (Hà Nội): “Năm ngoái nhân cuộc họp cán bộ, giáo viên trường Nguyễn Văn Trỗi, cô nhận được tập san về trường. Cô rất cảm động và cảm ơn Ban biên soạn, Ban Liên lạc và toàn thể các em ở trong Nam. Năm nay cô mới xem hết tập san của các em. Cô đọc từ lời mở đầu, từ bài phát biểu của bác Quỳnh, của các thầy đến từng bài viết của các em. Cô thực sự xúc động khi được biết danh sách các liệt sĩ của nhà trường, trong đó có Anh hùng liệt sĩ Huỳnh Kim Trung. Cô thấy bài viết của các em rất dí dỏm, có một phong cách riêng, cảm động nói lên tình cảm chân thành đối với trường xưa, với thầy cô và bạn bè. Bài nào cũng hay, bài nào cũng đáng nhớ! Xem đến bài “Một lần ăn trộm gà” do bốn trò thực hiện mà cứ cười rũ ra, bọn con gái mà biết chắc cũng phải cười bò ra ấy chứ! Đúng là tuổi trẻ nghịch ngợm. Thế mới biết các thầy ở đại đội thực sự vất vả, vừa dạy học vừa quản lí; khi có sự cố là giải quyết tuyệt khéo vì “con dại cái mang” mà(!). Cô làm đại đội trưởng C11 vất vả không bằng một phần trăm các thầy. Còn lâu mới bén gót! Nhắc lại chuyện xưa (nào là ăn trộm gà hay lấy trộm bài kiểm tra…) không phải để kể tội các em mà để ôn lại những kỉ niệm đáng nhớ của một thời trường Trỗi thân yêu!”

Trên đây chỉ là một phần rất nhỏ chúng tôi muốn đưa tới bạn đọc. Đó chính là những gì “Rất Nguyễn Văn Trỗi”!

B.B.T




1 - Trích bài thơ “Nửa sau khoảng đời”- liệt sĩ Vũ Đình Văn.

3 - Thư cảm ơn của gia đình liệt sĩ Ngô Ngời - (Ngô Câu) - SRTKL2: 28-30

Thư cảm ơn của gia đình
liệt sĩ NGÔ NGỜI

Quảng Ngãi ngày 4 tháng 2 năm 2003

Kính gửi: Ban Liên lạc phía Nam trường Nguyễn Văn Trỗi

(Tổng cục Chính trị, Quân đội Nhân dân Việt Nam)

Đầu năm 2002, gia đình tôi có nhận được cuốn sách “Sinh ra trong khói lửa”, do Ban biên tập tặng gia đình liệt sĩ Ngô Ngời.

Tháng 7 năm 2000, tôi - Ngô Câu, bố đẻ cháu Ngô Ngời - tròn 80 tuổi, bị tai biến mạch máu não, liệt nửa người bên trái, phải vào điều trị ở Viện C17. Đến nay, có thể dùng nạng chống từng bước đi lại được trong nhà, tôi muốn viết vài lời cảm ơn tới thầy trò nhà trường.

Xem xong cuốn sách được tặng, tôi vô cùng xúc động khi thấy được công lao của thầy cô và sự chăm sóc của Tổng cục Chính trị đối với con em cán bộ ta nói chung và con em miền Nam tập kết nói riêng. Các cháu đã cố gắng rèn luyện phẩm chất, đạo đức, tuy lúc nhỏ rất nghịch nhưng lớn lên đã trưởng thành mọi mặt.

Con tôi, Ngô Ngời, hy sinh ở Tây Ninh, năm 1979. Vợ chồng tôi mong ước đưa được hài cốt con về với quê hương. Nhưng mơ ước sẽ chỉ là mơ ước nếu như không có các bạn học trường Trỗi đến thăm, xem giấy báo tử, rồi tự đi liên hệ với Quân khu Năm, Quân khu Bảy, với tỉnh Tây Ninh, với huyện, với xã... Lần theo địa chỉ cách đây trên 12 năm, các cháu đã tìm về Nghĩa trang liệt sĩ ở biên giới Tây-Nam khi cây cỏ, lau lách đã um tùm. Các cháu rất vất vả, tốn nhiều công sức mới tìm ra mộ phần Ngô Ngời. Chỉ riêng đoạn đường đi về của cháu Minh Tiến (đóng quân tận biên giới phía Bắc, tàu xe vào tận Đà Nẵng, rồi Tây Ninh) “tính khứ hồi” đến cả chục ngàn cây số, thời gian đi về mất cả tháng trời.

Bạn bè khóa 3 của liệt sĩ Ngô Ngời tại Quế Lâm, đầu năm 1968Bạn bè khóa 3 của liệt sĩ Ngô Ngời tại Quế Lâm, đầu năm 1968.

Việc làm của các cháu Tiến, Tấn, Cường, Dũng, Công - những học sinh trường Nguyễn Văn Trỗi - đầy tình nghĩa thuỷ chung, hết lòng vì bạn, tất cả lo cho bạn, lo cho gia đình bạn hơn cho bản thân mình, cho gia đình mình. Tình nghĩa ấy xưa nay đã hiếm, nay trong nền kinh tế thị trường khi một số người chỉ chạy theo đồng tiền; đạo đức xuống cấp, mà các cháu vẫn giữ trọn tình nghĩa đồng cam cộng khổ, vui buồn, sống chết không bỏ nhau. Thật đáng quý! Chỉ nhờ có sự chỉ đạo chặt chẽ của Tổng cục Chính trị, sự giáo dục của nhà trường, sự dạy dỗ tận tuỵ của thầy, cô giáo và sự rèn luyện của các cháu trong mái trường xã hội chủ nghĩa mới có được những điều tốt đẹp như thế!

Cô chú nhìn các cháu, thấy các cháu đều trưởng thành lại nhớ đến con, mà nhớ đến con chừng nào thì tình cảm càng sâu nặng đối với các cháu chừng ấy!

Việc làm của các cháu làm cô chú vô cùng cảm động, không biết nói gì hơn và cũng không thể nói hết lòng mến phục của cô chú đối với các cháu. Nhìn và nghĩ đến các cháu mà cô chú không thể cầm được nước mắt. Mừng mừng, tủi tủi và vô cùng xúc động khi nhìn thấy hài cốt của Ngô Ngời được các cháu tốn bao công sức mới đưa về đến quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn. Công lao ấy cô chú và cả gia đình không bao giờ quên!

Xin chân thành cảm ơn Ban Liên lạc, thầy, cô giáo và tất cả các cháu học sinh trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi.

Bố liệt sĩ Ngô Ngời - Ngô Câu.

(Thôn Tân Hy, xã Bình Đông, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Điện thoại: 055-610015).



Thư cảm ơn của gia đình
liệt sĩ NGÔ NGỜI

Quảng Ngãi ngày 4 tháng 2 năm 2003

Kính gửi: Ban Liên lạc phía Nam trường Nguyễn Văn Trỗi

(Tổng cục Chính trị, Quân đội Nhân dân Việt Nam)

Đầu năm 2002, gia đình tôi có nhận được cuốn sách “Sinh ra trong khói lửa”, do Ban biên tập tặng gia đình liệt sĩ Ngô Ngời.

Tháng 7 năm 2000, tôi - Ngô Câu, bố đẻ cháu Ngô Ngời - tròn 80 tuổi, bị tai biến mạch máu não, liệt nửa người bên trái, phải vào điều trị ở Viện C17. Đến nay, có thể dùng nạng chống từng bước đi lại được trong nhà, tôi muốn viết vài lời cảm ơn tới thầy trò nhà trường.

Xem xong cuốn sách được tặng, tôi vô cùng xúc động khi thấy được công lao của thầy cô và sự chăm sóc của Tổng cục Chính trị đối với con em cán bộ ta nói chung và con em miền Nam tập kết nói riêng. Các cháu đã cố gắng rèn luyện phẩm chất, đạo đức, tuy lúc nhỏ rất nghịch nhưng lớn lên đã trưởng thành mọi mặt.

Con tôi, Ngô Ngời, hy sinh ở Tây Ninh, năm 1979. Vợ chồng tôi mong ước đưa được hài cốt con về với quê hương. Nhưng mơ ước sẽ chỉ là mơ ước nếu như không có các bạn học trường Trỗi đến thăm, xem giấy báo tử, rồi tự đi liên hệ với Quân khu Năm, Quân khu Bảy, với tỉnh Tây Ninh, với huyện, với xã... Lần theo địa chỉ cách đây trên 12 năm, các cháu đã tìm về Nghĩa trang liệt sĩ ở biên giới Tây-Nam khi cây cỏ, lau lách đã um tùm. Các cháu rất vất vả, tốn nhiều công sức mới tìm ra mộ phần Ngô Ngời. Chỉ riêng đoạn đường đi về của cháu Minh Tiến (đóng quân tận biên giới phía Bắc, tàu xe vào tận Đà Nẵng, rồi Tây Ninh) “tính khứ hồi” đến cả chục ngàn cây số, thời gian đi về mất cả tháng trời.

Bạn bè khóa 3 của liệt sĩ Ngô Ngời tại Quế Lâm, đầu năm 1968Bạn bè khóa 3 của liệt sĩ Ngô Ngời tại Quế Lâm, đầu năm 1968.

Việc làm của các cháu Tiến, Tấn, Cường, Dũng, Công - những học sinh trường Nguyễn Văn Trỗi - đầy tình nghĩa thuỷ chung, hết lòng vì bạn, tất cả lo cho bạn, lo cho gia đình bạn hơn cho bản thân mình, cho gia đình mình. Tình nghĩa ấy xưa nay đã hiếm, nay trong nền kinh tế thị trường khi một số người chỉ chạy theo đồng tiền; đạo đức xuống cấp, mà các cháu vẫn giữ trọn tình nghĩa đồng cam cộng khổ, vui buồn, sống chết không bỏ nhau. Thật đáng quý! Chỉ nhờ có sự chỉ đạo chặt chẽ của Tổng cục Chính trị, sự giáo dục của nhà trường, sự dạy dỗ tận tuỵ của thầy, cô giáo và sự rèn luyện của các cháu trong mái trường xã hội chủ nghĩa mới có được những điều tốt đẹp như thế!

Cô chú nhìn các cháu, thấy các cháu đều trưởng thành lại nhớ đến con, mà nhớ đến con chừng nào thì tình cảm càng sâu nặng đối với các cháu chừng ấy!

Việc làm của các cháu làm cô chú vô cùng cảm động, không biết nói gì hơn và cũng không thể nói hết lòng mến phục của cô chú đối với các cháu. Nhìn và nghĩ đến các cháu mà cô chú không thể cầm được nước mắt. Mừng mừng, tủi tủi và vô cùng xúc động khi nhìn thấy hài cốt của Ngô Ngời được các cháu tốn bao công sức mới đưa về đến quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn. Công lao ấy cô chú và cả gia đình không bao giờ quên!

Xin chân thành cảm ơn Ban Liên lạc, thầy, cô giáo và tất cả các cháu học sinh trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi.

Bố liệt sĩ Ngô Ngời - Ngô Câu.

(Thôn Tân Hy, xã Bình Đông, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Điện thoại: 055-610015).



4 - Tâm sự người thầy - Thầy giáo Lã Khắc Tiệp, SRTKL2: 31-34

Tâm sự người thầy


Thầy giáo LÃ KHẮC TIỆP

… Cảm ơn các em đã và vẫn nhớ đến các thầy, các cô, các cán bộ phụ trách và công nhân viên phục vụ các em tại trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi! Mà không nhớ làm sao được, vì trường của chúng ta là loại trường khá đặc biệt. Các em được đón về để học trong hoàn cảnh cả nước có chiến tranh, các em được “ăn cơm lính, học tập theo kiểu lính và rèn luyện đúng như lính, khi hãy còn ở tuổi học trò”. Thế thì:

Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy
Ngàn năm hồ dễ mấy ai quên!

 * * *

Thầy đã nhận được quà của các em gửi biếu, đó là quyển sách “Sinh ra trong khói lửa”. Không chỉ cảm ơn các em về món quà đó mà thầy rất hoan nghênh, nhiệt liệt hoan nghênh và hoàn toàn ủng hộ việc làm tốt đẹp của các em sẽ “góp phần và tạo điều kiện để viết lại lịch sử của trường ta”. Đây không những chỉ có ý nghĩa về tình cảm, về “tôn sư trọng đạo”, về đoàn kết học tập và rèn luyện trong lúc khó khăn mà nó còn là việc làm tổng kết cho một chủ truơng đúng và một cách làm mang ý nghĩa chiến lược to lớn. Một việc làm rất đáng trân trọng!

Khi đó, thầy chỉ là một giáo viên. Bây giờ, nhìn lại những việc đã làm mới nhận ra một cách đầy đủ cả về tư tưởng và nhận thức cũng như công tác chỉ đạo và tầm nhìn cần thiết cho từng bước đường đời đã qua của riêng mình, góp phần tổng kết cái gì đây cho con cháu!…

Ngày ấy, cả nước có chiến tranh, cả nước thực hiện khẩu hiệu: “Tất cả cho tiền tuyến”, “Tất cả để chiến thắng”. Cả dân tộc dồn sức người, sức của cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Mùa đông tuyết giá lạnh, từ nước Nga xa xôi, học sinh khóa 2 luôn nhớ về trường
Mùa đông tuyết giá lạnh, từ nước Nga xa xôi,
học sinh khóa 2 luôn nhớ về trường
 

Nhớ ngày khởi đầu của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Bác Hồ đã dạy phải “kháng chiến – kiến quốc”. Và chúng ta đã thắng Pháp, rồi bước vào đánh Mỹ. Chúng ta sẽ chiến thắng Mỹ! Chiến thắng rồi, chúng ta phải xây dựng và đưa đất nước đi lên. Như thế là vừa kháng chiến, chúng ta vừa phải xây dựng tiềm lực để kháng chiến thắùng lợi, đồng thời để sau chiến thắng, có đủ điều kiện đưa đất nước phát triển. Cho nên, có người ra tiền tuyến, cũng phải có người làm việc, chuẩn bị cho phát triển. Thế mới biết khi đó, các thầy “đi ngược chiều hành quân ra mặt trận “, cũng là hành quân và cuộc hành quân ấy cũng vô cùng quan trọng. Khi đó các thầy không khỏi có thắc mắc đấy, các em ạ! Thầy đã có bài thơ về vấn đề này để tự giải quyết tư tưởng và đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ.

Chính vì khái niệm “kháng chiến – kiến quốc” đó mà nền giáo dục của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, vẫn phát triển.

Trường ta, ngoài ý nghĩa nằm chung trong quan điểm trên, còn có ý nghĩa thiết thực hơn là thực hiện một chính sách lớn với hai nội dung:

1. Các em là con em của cán bộ trung – cao cấp của Đảng, Nhà nước, quân đội. Để các đồng chí cán bộ có điều kiện yên tâm công tác, tận lực cho kháng chiến; Đảng, Nhà nước, quân đội đã tổ chức trường nuôi dưỡng và dạy dỗ các em. Quả đây là tình sâu nghĩa nặng và trách nhiệm to lớn.

2. Sau ngày chiến tháng, nhiệm vụ xây dựng Đảng, bảo vệ Nhà nước, củng cố quân đội, dĩ nhiên là trách nhiệm của toàn dân, nhưng phải có lực lượng trung kiên. Đó chính là con em các đồng chí đã đổ xương máu để xây dựng và bảo vệ đất nước này.

Đấy, thầy đã rút ra những điều vắn tắt như vậy. Chắc các em đã biết nhiều về điều này, nhưng thầy nhắc lại vẫn không sợ thừa.

 * * *

 Giờ thì thầy ghi lại bài thơ ngày ấy. Tâm tư là không được cùng đồng đội ra trận mà lại lui về dạy học, trong khi chính con mình học ở trường làng. Nhớ lắm chứ! Nhan đề bài thơ là “Trách thầm”:

Rừng khuya cánh võng sương sa
Thoảng nghe tiếng Mẹ ơi à, Mẹ ơi!
Đỉnh đèo vằng vặc trăng soi
Trông gương mặt lá nhớ người đảm đang
Rì rào suối hát vọng sang
Nghe như tiếng trẻ trường làng, nhớ con
Nhớ con, lòng dạ bồn chồn
Con ơi, còn giặc bố còn hành quân

Mỗi lần trời đất sang xuân
Ngâm thơ nhớ bạn, mỗi lần thêm vui
Nhớ hoài ánh mắt như cười
Trách thầm: “Anh chỉ nhủ lời với con”

L.K.T

 

Tâm sự người thầy


Thầy giáo LÃ KHẮC TIỆP

… Cảm ơn các em đã và vẫn nhớ đến các thầy, các cô, các cán bộ phụ trách và công nhân viên phục vụ các em tại trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi! Mà không nhớ làm sao được, vì trường của chúng ta là loại trường khá đặc biệt. Các em được đón về để học trong hoàn cảnh cả nước có chiến tranh, các em được “ăn cơm lính, học tập theo kiểu lính và rèn luyện đúng như lính, khi hãy còn ở tuổi học trò”. Thế thì:

Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy
Ngàn năm hồ dễ mấy ai quên!

 * * *

Thầy đã nhận được quà của các em gửi biếu, đó là quyển sách “Sinh ra trong khói lửa”. Không chỉ cảm ơn các em về món quà đó mà thầy rất hoan nghênh, nhiệt liệt hoan nghênh và hoàn toàn ủng hộ việc làm tốt đẹp của các em sẽ “góp phần và tạo điều kiện để viết lại lịch sử của trường ta”. Đây không những chỉ có ý nghĩa về tình cảm, về “tôn sư trọng đạo”, về đoàn kết học tập và rèn luyện trong lúc khó khăn mà nó còn là việc làm tổng kết cho một chủ truơng đúng và một cách làm mang ý nghĩa chiến lược to lớn. Một việc làm rất đáng trân trọng!

Khi đó, thầy chỉ là một giáo viên. Bây giờ, nhìn lại những việc đã làm mới nhận ra một cách đầy đủ cả về tư tưởng và nhận thức cũng như công tác chỉ đạo và tầm nhìn cần thiết cho từng bước đường đời đã qua của riêng mình, góp phần tổng kết cái gì đây cho con cháu!…

Ngày ấy, cả nước có chiến tranh, cả nước thực hiện khẩu hiệu: “Tất cả cho tiền tuyến”, “Tất cả để chiến thắng”. Cả dân tộc dồn sức người, sức của cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Mùa đông tuyết giá lạnh, từ nước Nga xa xôi, học sinh khóa 2 luôn nhớ về trường
Mùa đông tuyết giá lạnh, từ nước Nga xa xôi,
học sinh khóa 2 luôn nhớ về trường
 

Nhớ ngày khởi đầu của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Bác Hồ đã dạy phải “kháng chiến – kiến quốc”. Và chúng ta đã thắng Pháp, rồi bước vào đánh Mỹ. Chúng ta sẽ chiến thắng Mỹ! Chiến thắng rồi, chúng ta phải xây dựng và đưa đất nước đi lên. Như thế là vừa kháng chiến, chúng ta vừa phải xây dựng tiềm lực để kháng chiến thắùng lợi, đồng thời để sau chiến thắng, có đủ điều kiện đưa đất nước phát triển. Cho nên, có người ra tiền tuyến, cũng phải có người làm việc, chuẩn bị cho phát triển. Thế mới biết khi đó, các thầy “đi ngược chiều hành quân ra mặt trận “, cũng là hành quân và cuộc hành quân ấy cũng vô cùng quan trọng. Khi đó các thầy không khỏi có thắc mắc đấy, các em ạ! Thầy đã có bài thơ về vấn đề này để tự giải quyết tư tưởng và đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ.

Chính vì khái niệm “kháng chiến – kiến quốc” đó mà nền giáo dục của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, vẫn phát triển.

Trường ta, ngoài ý nghĩa nằm chung trong quan điểm trên, còn có ý nghĩa thiết thực hơn là thực hiện một chính sách lớn với hai nội dung:

1. Các em là con em của cán bộ trung – cao cấp của Đảng, Nhà nước, quân đội. Để các đồng chí cán bộ có điều kiện yên tâm công tác, tận lực cho kháng chiến; Đảng, Nhà nước, quân đội đã tổ chức trường nuôi dưỡng và dạy dỗ các em. Quả đây là tình sâu nghĩa nặng và trách nhiệm to lớn.

2. Sau ngày chiến tháng, nhiệm vụ xây dựng Đảng, bảo vệ Nhà nước, củng cố quân đội, dĩ nhiên là trách nhiệm của toàn dân, nhưng phải có lực lượng trung kiên. Đó chính là con em các đồng chí đã đổ xương máu để xây dựng và bảo vệ đất nước này.

Đấy, thầy đã rút ra những điều vắn tắt như vậy. Chắc các em đã biết nhiều về điều này, nhưng thầy nhắc lại vẫn không sợ thừa.

 * * *

 Giờ thì thầy ghi lại bài thơ ngày ấy. Tâm tư là không được cùng đồng đội ra trận mà lại lui về dạy học, trong khi chính con mình học ở trường làng. Nhớ lắm chứ! Nhan đề bài thơ là “Trách thầm”:

Rừng khuya cánh võng sương sa
Thoảng nghe tiếng Mẹ ơi à, Mẹ ơi!
Đỉnh đèo vằng vặc trăng soi
Trông gương mặt lá nhớ người đảm đang
Rì rào suối hát vọng sang
Nghe như tiếng trẻ trường làng, nhớ con
Nhớ con, lòng dạ bồn chồn
Con ơi, còn giặc bố còn hành quân

Mỗi lần trời đất sang xuân
Ngâm thơ nhớ bạn, mỗi lần thêm vui
Nhớ hoài ánh mắt như cười
Trách thầm: “Anh chỉ nhủ lời với con”

L.K.T