Thứ Năm, 31 tháng 1, 2008

Ngày đầu tôi nghỉ hưu - Nguyễn Duy Đảo





Hôm nay tôi viết tặng các bác một câu chuyện nhỏ, câu chuyện của chính tôi. Nếu "tiêu hoá"được thì các Bác cho mấy "Nhời" vào lời góp, gọi là có tí đông viên, để tôi phát huy. Tôi có nhiều chuyện "riêng tư" lắm, viết chủ yếu là để giải toả, thứ nữa là để lấy giấy lộn vỗ béo mấy bà ve chai, đúng như lời thằng con tôi nó hay xỏ xiên, vì nó là độc giả đầu tiên khi mỗi"Tác phẩm"của tôi ra đời. Tôi bắt đầu nhé.
Từ ngày nghỉ hưu tôi đâm sinh tật, sáng nào cũng dậy muộn, ngủ thì không được mà dậy thì chẳng muốn. Nằm trên giường tôi nghe tiếng vợ lầu bầu từ dưới bếp vọng lên: "Thế là sáng nay lại không có gì cho thằng bé ăn sáng, chỉ tại cái bếp ga chết tiệt, tự dưng lại dở chứng hết ga". Lục tục một hồi rồi vợ tôi đi làm. Gần bảy giờ tôi mới dậy, nhìn trên bàn thấy mảnh giấy của vợ để lại: "Anh ra quán ăn sáng rồi mua đồ ăn cho con, gọi nó dậy sớm, vì 8 giờ 30 sáng nay nó có giờ học đàn, đừng để cô giáo đến phải chờ. Anh gọi đại lý ga thay cho em bình ga mới, tiền em để trong ngăn kéo bàn phấn, trong phòng ngủ". Nhà tôi ít khi ăn uống ngoài quán, vợ tôi nói: "Ăn ở nhà vừa rẻ, vừa hợp khẩu vị lại vệ sinh, nhất là trong thời buổi an toàn vệ sinh thực phẩm bát nháo như hiện nay". Lạ thật, tôi cũng không hiểu bao nhiêu năm nay mà bà vợ tôi vẫn không làm sao quen được khẩu vị của người phương Nam là món ăn nào cũng phải cho đường. Gần 11 giờ thằng con tôi nhảy xe Bus lên nhà cô của nó, ăn trưa rồi đi học. Còn lại một mình tôi tha thẩn với lũ chó và dăm ba chậu cây cảnh. Buổi chiều ngồi đọc nốt cuốn sách, cuốn sách có tựa đề"Yêu thương và chết"mà vợ mới mua. Cuốn sách triết lý về sự sống và cái chết, càng đọc tôi càng ngộ ra nhiều điều. Tôi nhớ tới câu:"Mọi ngả đường rồi đều trở về La Mã". Trong chúng ta ai cũng biết điều đó, nó là quy luật, đã chấp nhận cuộc sống phải biết chấp nhận cái chết. Biết là thế mà không hiểu vì sao khi còn tồn tại trên cõi đời này người ta vẫn không chịu thương yêu lấy nhau. Quỹ thời gian mà tạo hoá ban tặng cho mỗi con người chỉ có bấy nhiêu. Chiến tranh, rồi những rủi ro trong hành trình sử dụng quỹ thời gian ấy nhiều người trong bạn bè của chúng ta không có điều kiện để sử dụng hết. Đứa thì hy sinh anh dũng trên chiến trường khi chưa biết thế nào là vị ngọt ngào nụ hôn người bạn gái, đứa thì bệnh tật bỏ lại khoảng thời gian còn lại của mình, mà muốn tặng, muốn cho bạn bè người thân mà chẳng được ... Mải mê đọc và suy ngẫm sự đời, tôi bỗng nghe thấy tiếng chuông đồng hồ, nhìn lên, thôi chết! Đã 4 giờ rồi, sực nhớ tới lời vợ dặn. Chiều nay đi làm về mà không có ga cho vợ nấu cơm thì bà ấy lại càu nhàu, điều mà trong nhà hai bố con tôi rất ngại và cố gắng né tránh. Tôi vội vàng gọi điện thoại cho đại lý ga. Nhanh thật, đúng là kinh tế thị trường, chỉ loáng một cái đã thấy nhân viên của đại lý chở ga tới. Nhân viên chở ga là một thanh niên, da trắng, cao, nét mặt thư sinh và đặc biệt có đôi mắt rất sáng, nói giọng xứ Nghệ . Tôi nghĩ chắc cậu này là sinh viên đi làm thêm để kiếm tiền trang trải học hành. Sau khi thay ga xong tôi cẩn thận hỏi lại:
- Cháu lắp van có chắc chắn cho chú không đấy?
Cậu nhân viên lễ phép:
- Chú yên tâm, cháu làm đúng quy trình kỹ thuật, công việc này tuy đơn giản nhưng sơ ý thì cũng nguy hiểm lắm.
- Hết bao nhiêu tiền hả cháu? Tôi hỏi.
- Dạ Chú cho con xin 245.000 đồng.
- Sao những ngần ấy tiền cơ à! Tôi giật thót người như phải bỏng và hy vọng là mình nghe không rõ.
- Liệu có nhầm không hả cháu? Tôi cố vớt vát hỏi thêm.
Cậu nhân viên giải thích:
- So với tuần trước tuần này giá ga có giảm, rẻ được 5000 đồng mỗi bình đấy chú ạ.
Tôi thẫn thờ quay vào phòng ngủ, thấy tờ giấy bạc màu xanh xanh trên bàn phấn, tôi cầm lấy đi ra đưa cho cậu nhân viên. Sau một thoáng chần chừ, cậu nhân viên nói:
- Thưa chú hết tất cả là 245.000 đồng ạ.
Lại không có tiền thối chứ gì , tôi nghĩ bụng. Lấy cái bóp trong túi quần (Tiền riêng của tôi) cẩn thận lôi hết tiền trong bóp bỏ ra bàn, "Miết" từng tờ tôi đưa cho cậu nhân viên 250.000 đồng, rồi nói:
- Cháu khỏi phải thối lại. Tiền thừa chú bồi dưỡng để cháu uống Cafe.
Nhận tiền xong, sau khi đếm lại cẩn thận cậu nhân viên vội vã nổ máy, rú ga vọt ra cổng, ngoái đầu lại không quên cảm ơn tôi.
Vừa đóng cổng tôi vừa lầm bầm: "Làm ăn mà cứ như chạy giặc ấy, thanh niên bây giờ làm cái gì cũng cứ ào ào, chạy như thế chẳng trách tai nạn giao thông ngày càng tăng cũng phải". Cậu nhân viên đi được một lúc tự nhiên tôi thấy chột dạ, có điều gì đó bất an, không yên tâm. Tôi vội vàng tìm mục kỉnh và mở ví tiền ra đếm lại. Tôi bỗng lặng đi, người lạnh ngắt, mồ hôi vã ra như phải cảm. Chết rồi! Thế là mình đưa nhầm tờ 500.000 đồng, mắt mũi kèm nhèm thế nào lại tưởng là tờ 20.000 đồng, chẳng trách lúc về tôi thấy cậu thanh niên vội vã thế. Tôi đã nhầm kiểu thế này mấy lần rồi. Bực mình về chuyện này mà đã có lần tôi liều, chầu chực ở văn phòng đoàn đại biểu quốc hội thành phố để kiến nghị. Tôi nói với các vị ấy là phải có tiếng nói trên diễn đàn quốc hội, đề nghị ngân hàng nhà nước phải thay đổi mẫu mã của đồng tiền hai mệnh giá này chứ không thì chết tụi mắt mũi kèm nhèm như bọn về hưu chúng tôi. Mất cả nửa tháng lương chứ chẳng chơi, tôi bức xúc lầu bầu tự trách mình.
Thế là tôi vội vàng xách xe máy lao vút đi. Tôi thề với các bác rằng, từ lúc tập toẹ sắm được "Con cá ươn", cho tới bây giờ lên đời được "Chú cánh én", chưa bao giờ tôi chạy xe máy nhanh đến như thế, mặc dù trước đó ít phút tôi đã chửi thầm cậu nhân viên vì tội chạy xe máy ẩu. Tìm mãi tôi mới thấy đại lý, cửa hàng lèo tèo, ọp ẹp, kiểu này không lừa đảo thì chắc cũng chẳng đứng đắn gì, tôi nghĩ bụng. Dừng xe trước cửa hàng tôi hỏi một cô gái có dáng nhân viên đang đứng soi gương tỉa lông mày phía sau quầy:
- Chào cô! Cô cho tôi gặp cậu nhân viên vừa đưa ga xuống nhà tôi.
Cô ta nói:
- Cậu ấy vừa đi ăn cơm chiều rồi chú ạ, có việc gì không chú?
- Tôi có chút việc riêng, muốn gặp cậu ta, tôi nói.
Cô gái tiếp:
- Chú đợi một chút cậu ấy đi ăn cũng sắp về rồi.
Nói đoạn cô gái đưa cho tôi chiếc ghế, mời tôi ngồi. Có tiếng xe máy, cô gái lên tiếng:
- Cậu ấy về rồi kia.
Tôi nhìn lên. Không phải cậu này, cũng cao cao nhưng sao da tái thế kia, mắt thì đùng đục như thằng nghiện, lại đảo qua đảo lại trông ra không phải người ngay. Tôi quay lại hỏi cô gái:
- Cửa hàng của cô có mấy nhân viên giao nhận?
- Dạ chỉ có một mình cậu ấy thôi, cô ta trả lời.
- Cháu chào chú, chú tìm cháu có việc gì không ạ? Giọng Nghệ tĩnh ấm áp, cậu thanh niên lên tiếng khi biết tôi đang chờ. Tôi chớp mắt đến mấy lần và giương mục kỉnh lên. Giọng nói này thì đúng là của cậu ta rồi, mình không thể nhầm được.
Tôi phủ đầu ngay, nhưng vẫn cố giữ được vẻ bình tĩnh:
- Khi thanh toán tiền ga, chú có đưa nhầm cho cháu tờ 500.000 đồng, cháu cho chú xin lại.
Cậu thanh niên ngạc nhiên và vội vàng lôi cái bóp lép kẹp trong túi quần ra kiểm tra. Tôi thoáng nghĩ, thằng này ranh thật, nó đã kịp chuồn về nhà trọ cất biến tờ 500.000 đồng của mình đi rồi. Cậu nhân viên thanh minh:
- Trong bóp của cháu chỉ có thế này thôi, chú kiểm tra lại xem.
Đúng thật trong bóp của nó chẳng có gì đáng kể, ngoài tấm thẻ sinh viên và mấy đồng bạc lẻ. Không lẽ tôi nhầm! Bọn sinh viên có kiến thức là chúng nó ranh ma lắm, phải cảnh giác. Tôi hỏi nó:
- Cửa hàng có máy điện thoại không?
- Dạ có chú ạ.
- Cho chú gọi nhờ.
- Chú cứ tự nhiên, cậu nhân viên có vẻ băn khoăn.
Tôi nhấc máy ấn số gọi cho vợ. Chẳng chào hỏi gì tôi nói: "Tờ 500.000 đồng em để trên bàn phấn trong phòng ngủ có đúng không?". "Chẳng có 500.000 đồng nào cả", vợ tôi trả lời. Rồi tiếp: "Tiền trả ga 245.000 đồng em đã để sẵn trong ngăn kéo bàn phấn trong phòng ngủ". "Thế 500.000 đồng trên bàn là của ai?" tôi lớn giọng. Vợ tôi nói: "em không biết". Quái nhỉ? Không lẽ "Giời" cho? Định thần một lúc tôi mới chột dạ. Thôi chết rồi bây giờ tôi mới nhớ. Vợ tôi để tiền học phí trả cô giáo dạy đàn Piano cho thằng con tôi trong phong bì kẹp ở cuốn sổ đầu bài. Hết giờ học thằng con tôi nó đưa cho cô giáo. Vì không có tiền lẻ nên vợ tôi để cả năm tờ 100.000 đồng trong phong bì. Sau khi kiểm lại cô giáo thối lại cho thằng con tôi tờ 20.000 đồng. Mỗi tuần cô giáo dạy một giờ, một tháng bốn giờ, tiền học một giờ là 120.000 đồng, vậy vị chi có phải là 480.000 đồng không, tôi nhẩm tính. Tờ 20.000 đồng thằng con đem vào phòng ngủ vứt trên bàn phấn, nó đã nói lại với tôi mà tôi quên béng nó mất. Cho nên lúc vào phòng lấy tiền trả, thấy tờ giấy xanh xanh trên bàn tôi lại cứ tưởng tiền vợ để lại trả tiền ga. Hèn chi lúc đầu tôi đưa trả tiền, cậu nhân viên lưỡng lự mãi, rồi lại còn mắng vốn cậu ta nữa chứ: "Đi giao hàng mà không chuẩn bị sẵn tiền lẻ để thối lại cho khách, bất tiện quá".
Mặt tôi đang tái, vì tức chuyện"mất tiền", chuyển dần sang đỏ vì mắc cỡ, biết nói thế nào đây với cậu nhân viên. Tôi đặt ống nghe xuống đi ra. Lúc này trước mặt tôi vẫn cậu nhân viên ấy, vẫn dáng cao cao, trắng trẻo, nét mặt thư sinh, nhanh nhẹn và vui tính, vẫn giọng Nghệ tĩnh ấm áp, khác hẳn hình hài "Méo mó"qua cái nhìn của tôi lúc trước. Tôi nói khẽ đủ để cậu ta nghe: "Chú xin lỗi cháu, mắt mũi chú kem nhèm quá nên chú nhầm, mong cháu thông cảm bỏ qua cho chú". Cậu nhân viên bình thản: "Không sao chú ạ, nhầm lẫn là chuyện bình thường thôi". Tôi vội vàng nổ máy xe, vào số, tăng ga vọt đi như trốn chạy, cũng vội vàng và nhanh như lúc tôi xuất phát từ nhà, chẳng còn thiết gì đến luật lệ giao thông nữa.





Hôm nay tôi viết tặng các bác một câu chuyện nhỏ, câu chuyện của chính tôi. Nếu "tiêu hoá"được thì các Bác cho mấy "Nhời" vào lời góp, gọi là có tí đông viên, để tôi phát huy. Tôi có nhiều chuyện "riêng tư" lắm, viết chủ yếu là để giải toả, thứ nữa là để lấy giấy lộn vỗ béo mấy bà ve chai, đúng như lời thằng con tôi nó hay xỏ xiên, vì nó là độc giả đầu tiên khi mỗi"Tác phẩm"của tôi ra đời. Tôi bắt đầu nhé.
Từ ngày nghỉ hưu tôi đâm sinh tật, sáng nào cũng dậy muộn, ngủ thì không được mà dậy thì chẳng muốn. Nằm trên giường tôi nghe tiếng vợ lầu bầu từ dưới bếp vọng lên: "Thế là sáng nay lại không có gì cho thằng bé ăn sáng, chỉ tại cái bếp ga chết tiệt, tự dưng lại dở chứng hết ga". Lục tục một hồi rồi vợ tôi đi làm. Gần bảy giờ tôi mới dậy, nhìn trên bàn thấy mảnh giấy của vợ để lại: "Anh ra quán ăn sáng rồi mua đồ ăn cho con, gọi nó dậy sớm, vì 8 giờ 30 sáng nay nó có giờ học đàn, đừng để cô giáo đến phải chờ. Anh gọi đại lý ga thay cho em bình ga mới, tiền em để trong ngăn kéo bàn phấn, trong phòng ngủ". Nhà tôi ít khi ăn uống ngoài quán, vợ tôi nói: "Ăn ở nhà vừa rẻ, vừa hợp khẩu vị lại vệ sinh, nhất là trong thời buổi an toàn vệ sinh thực phẩm bát nháo như hiện nay". Lạ thật, tôi cũng không hiểu bao nhiêu năm nay mà bà vợ tôi vẫn không làm sao quen được khẩu vị của người phương Nam là món ăn nào cũng phải cho đường. Gần 11 giờ thằng con tôi nhảy xe Bus lên nhà cô của nó, ăn trưa rồi đi học. Còn lại một mình tôi tha thẩn với lũ chó và dăm ba chậu cây cảnh. Buổi chiều ngồi đọc nốt cuốn sách, cuốn sách có tựa đề"Yêu thương và chết"mà vợ mới mua. Cuốn sách triết lý về sự sống và cái chết, càng đọc tôi càng ngộ ra nhiều điều. Tôi nhớ tới câu:"Mọi ngả đường rồi đều trở về La Mã". Trong chúng ta ai cũng biết điều đó, nó là quy luật, đã chấp nhận cuộc sống phải biết chấp nhận cái chết. Biết là thế mà không hiểu vì sao khi còn tồn tại trên cõi đời này người ta vẫn không chịu thương yêu lấy nhau. Quỹ thời gian mà tạo hoá ban tặng cho mỗi con người chỉ có bấy nhiêu. Chiến tranh, rồi những rủi ro trong hành trình sử dụng quỹ thời gian ấy nhiều người trong bạn bè của chúng ta không có điều kiện để sử dụng hết. Đứa thì hy sinh anh dũng trên chiến trường khi chưa biết thế nào là vị ngọt ngào nụ hôn người bạn gái, đứa thì bệnh tật bỏ lại khoảng thời gian còn lại của mình, mà muốn tặng, muốn cho bạn bè người thân mà chẳng được ... Mải mê đọc và suy ngẫm sự đời, tôi bỗng nghe thấy tiếng chuông đồng hồ, nhìn lên, thôi chết! Đã 4 giờ rồi, sực nhớ tới lời vợ dặn. Chiều nay đi làm về mà không có ga cho vợ nấu cơm thì bà ấy lại càu nhàu, điều mà trong nhà hai bố con tôi rất ngại và cố gắng né tránh. Tôi vội vàng gọi điện thoại cho đại lý ga. Nhanh thật, đúng là kinh tế thị trường, chỉ loáng một cái đã thấy nhân viên của đại lý chở ga tới. Nhân viên chở ga là một thanh niên, da trắng, cao, nét mặt thư sinh và đặc biệt có đôi mắt rất sáng, nói giọng xứ Nghệ . Tôi nghĩ chắc cậu này là sinh viên đi làm thêm để kiếm tiền trang trải học hành. Sau khi thay ga xong tôi cẩn thận hỏi lại:
- Cháu lắp van có chắc chắn cho chú không đấy?
Cậu nhân viên lễ phép:
- Chú yên tâm, cháu làm đúng quy trình kỹ thuật, công việc này tuy đơn giản nhưng sơ ý thì cũng nguy hiểm lắm.
- Hết bao nhiêu tiền hả cháu? Tôi hỏi.
- Dạ Chú cho con xin 245.000 đồng.
- Sao những ngần ấy tiền cơ à! Tôi giật thót người như phải bỏng và hy vọng là mình nghe không rõ.
- Liệu có nhầm không hả cháu? Tôi cố vớt vát hỏi thêm.
Cậu nhân viên giải thích:
- So với tuần trước tuần này giá ga có giảm, rẻ được 5000 đồng mỗi bình đấy chú ạ.
Tôi thẫn thờ quay vào phòng ngủ, thấy tờ giấy bạc màu xanh xanh trên bàn phấn, tôi cầm lấy đi ra đưa cho cậu nhân viên. Sau một thoáng chần chừ, cậu nhân viên nói:
- Thưa chú hết tất cả là 245.000 đồng ạ.
Lại không có tiền thối chứ gì , tôi nghĩ bụng. Lấy cái bóp trong túi quần (Tiền riêng của tôi) cẩn thận lôi hết tiền trong bóp bỏ ra bàn, "Miết" từng tờ tôi đưa cho cậu nhân viên 250.000 đồng, rồi nói:
- Cháu khỏi phải thối lại. Tiền thừa chú bồi dưỡng để cháu uống Cafe.
Nhận tiền xong, sau khi đếm lại cẩn thận cậu nhân viên vội vã nổ máy, rú ga vọt ra cổng, ngoái đầu lại không quên cảm ơn tôi.
Vừa đóng cổng tôi vừa lầm bầm: "Làm ăn mà cứ như chạy giặc ấy, thanh niên bây giờ làm cái gì cũng cứ ào ào, chạy như thế chẳng trách tai nạn giao thông ngày càng tăng cũng phải". Cậu nhân viên đi được một lúc tự nhiên tôi thấy chột dạ, có điều gì đó bất an, không yên tâm. Tôi vội vàng tìm mục kỉnh và mở ví tiền ra đếm lại. Tôi bỗng lặng đi, người lạnh ngắt, mồ hôi vã ra như phải cảm. Chết rồi! Thế là mình đưa nhầm tờ 500.000 đồng, mắt mũi kèm nhèm thế nào lại tưởng là tờ 20.000 đồng, chẳng trách lúc về tôi thấy cậu thanh niên vội vã thế. Tôi đã nhầm kiểu thế này mấy lần rồi. Bực mình về chuyện này mà đã có lần tôi liều, chầu chực ở văn phòng đoàn đại biểu quốc hội thành phố để kiến nghị. Tôi nói với các vị ấy là phải có tiếng nói trên diễn đàn quốc hội, đề nghị ngân hàng nhà nước phải thay đổi mẫu mã của đồng tiền hai mệnh giá này chứ không thì chết tụi mắt mũi kèm nhèm như bọn về hưu chúng tôi. Mất cả nửa tháng lương chứ chẳng chơi, tôi bức xúc lầu bầu tự trách mình.
Thế là tôi vội vàng xách xe máy lao vút đi. Tôi thề với các bác rằng, từ lúc tập toẹ sắm được "Con cá ươn", cho tới bây giờ lên đời được "Chú cánh én", chưa bao giờ tôi chạy xe máy nhanh đến như thế, mặc dù trước đó ít phút tôi đã chửi thầm cậu nhân viên vì tội chạy xe máy ẩu. Tìm mãi tôi mới thấy đại lý, cửa hàng lèo tèo, ọp ẹp, kiểu này không lừa đảo thì chắc cũng chẳng đứng đắn gì, tôi nghĩ bụng. Dừng xe trước cửa hàng tôi hỏi một cô gái có dáng nhân viên đang đứng soi gương tỉa lông mày phía sau quầy:
- Chào cô! Cô cho tôi gặp cậu nhân viên vừa đưa ga xuống nhà tôi.
Cô ta nói:
- Cậu ấy vừa đi ăn cơm chiều rồi chú ạ, có việc gì không chú?
- Tôi có chút việc riêng, muốn gặp cậu ta, tôi nói.
Cô gái tiếp:
- Chú đợi một chút cậu ấy đi ăn cũng sắp về rồi.
Nói đoạn cô gái đưa cho tôi chiếc ghế, mời tôi ngồi. Có tiếng xe máy, cô gái lên tiếng:
- Cậu ấy về rồi kia.
Tôi nhìn lên. Không phải cậu này, cũng cao cao nhưng sao da tái thế kia, mắt thì đùng đục như thằng nghiện, lại đảo qua đảo lại trông ra không phải người ngay. Tôi quay lại hỏi cô gái:
- Cửa hàng của cô có mấy nhân viên giao nhận?
- Dạ chỉ có một mình cậu ấy thôi, cô ta trả lời.
- Cháu chào chú, chú tìm cháu có việc gì không ạ? Giọng Nghệ tĩnh ấm áp, cậu thanh niên lên tiếng khi biết tôi đang chờ. Tôi chớp mắt đến mấy lần và giương mục kỉnh lên. Giọng nói này thì đúng là của cậu ta rồi, mình không thể nhầm được.
Tôi phủ đầu ngay, nhưng vẫn cố giữ được vẻ bình tĩnh:
- Khi thanh toán tiền ga, chú có đưa nhầm cho cháu tờ 500.000 đồng, cháu cho chú xin lại.
Cậu thanh niên ngạc nhiên và vội vàng lôi cái bóp lép kẹp trong túi quần ra kiểm tra. Tôi thoáng nghĩ, thằng này ranh thật, nó đã kịp chuồn về nhà trọ cất biến tờ 500.000 đồng của mình đi rồi. Cậu nhân viên thanh minh:
- Trong bóp của cháu chỉ có thế này thôi, chú kiểm tra lại xem.
Đúng thật trong bóp của nó chẳng có gì đáng kể, ngoài tấm thẻ sinh viên và mấy đồng bạc lẻ. Không lẽ tôi nhầm! Bọn sinh viên có kiến thức là chúng nó ranh ma lắm, phải cảnh giác. Tôi hỏi nó:
- Cửa hàng có máy điện thoại không?
- Dạ có chú ạ.
- Cho chú gọi nhờ.
- Chú cứ tự nhiên, cậu nhân viên có vẻ băn khoăn.
Tôi nhấc máy ấn số gọi cho vợ. Chẳng chào hỏi gì tôi nói: "Tờ 500.000 đồng em để trên bàn phấn trong phòng ngủ có đúng không?". "Chẳng có 500.000 đồng nào cả", vợ tôi trả lời. Rồi tiếp: "Tiền trả ga 245.000 đồng em đã để sẵn trong ngăn kéo bàn phấn trong phòng ngủ". "Thế 500.000 đồng trên bàn là của ai?" tôi lớn giọng. Vợ tôi nói: "em không biết". Quái nhỉ? Không lẽ "Giời" cho? Định thần một lúc tôi mới chột dạ. Thôi chết rồi bây giờ tôi mới nhớ. Vợ tôi để tiền học phí trả cô giáo dạy đàn Piano cho thằng con tôi trong phong bì kẹp ở cuốn sổ đầu bài. Hết giờ học thằng con tôi nó đưa cho cô giáo. Vì không có tiền lẻ nên vợ tôi để cả năm tờ 100.000 đồng trong phong bì. Sau khi kiểm lại cô giáo thối lại cho thằng con tôi tờ 20.000 đồng. Mỗi tuần cô giáo dạy một giờ, một tháng bốn giờ, tiền học một giờ là 120.000 đồng, vậy vị chi có phải là 480.000 đồng không, tôi nhẩm tính. Tờ 20.000 đồng thằng con đem vào phòng ngủ vứt trên bàn phấn, nó đã nói lại với tôi mà tôi quên béng nó mất. Cho nên lúc vào phòng lấy tiền trả, thấy tờ giấy xanh xanh trên bàn tôi lại cứ tưởng tiền vợ để lại trả tiền ga. Hèn chi lúc đầu tôi đưa trả tiền, cậu nhân viên lưỡng lự mãi, rồi lại còn mắng vốn cậu ta nữa chứ: "Đi giao hàng mà không chuẩn bị sẵn tiền lẻ để thối lại cho khách, bất tiện quá".
Mặt tôi đang tái, vì tức chuyện"mất tiền", chuyển dần sang đỏ vì mắc cỡ, biết nói thế nào đây với cậu nhân viên. Tôi đặt ống nghe xuống đi ra. Lúc này trước mặt tôi vẫn cậu nhân viên ấy, vẫn dáng cao cao, trắng trẻo, nét mặt thư sinh, nhanh nhẹn và vui tính, vẫn giọng Nghệ tĩnh ấm áp, khác hẳn hình hài "Méo mó"qua cái nhìn của tôi lúc trước. Tôi nói khẽ đủ để cậu ta nghe: "Chú xin lỗi cháu, mắt mũi chú kem nhèm quá nên chú nhầm, mong cháu thông cảm bỏ qua cho chú". Cậu nhân viên bình thản: "Không sao chú ạ, nhầm lẫn là chuyện bình thường thôi". Tôi vội vàng nổ máy xe, vào số, tăng ga vọt đi như trốn chạy, cũng vội vàng và nhanh như lúc tôi xuất phát từ nhà, chẳng còn thiết gì đến luật lệ giao thông nữa.

Thầy Mãn - hameok6



THẦY MÃN



Tranh Sơn dầu F.LựcTranh F.Lực

B3C5 – năm 1965 được thầy Mãn phụ trách (sau thầy không đi Trung Quốc và nay cũng không nghe nói gì về thầy). Thầy dạy môn địa và đội khi cả toán. Thầy có dáng người nhỏ nhắn, trắng trẻo đúng như các bài tập làm văn mẫu vẫn thường mô tả về một thầy giáo.

Nhưng điều tôi không quên được là những truyện thầy kể cho chúng tôi nghe vào những buổi tối sau giờ sinh hoạt trung đội, trước giờ điểm danh hay cuối các giờ học của thầy “nếu các em trật tự, học tốt thì sẽ có 15 phút kể chuyện”.

Và như vậy, Napoleon chinh chiến khắp châu Âu, châu Phi rồi bị Cutudop đánh bại đã được chúng tôi say sưa nghe với minh họa rõ ràng trên bản đồ Thế giới do thầy vẽ (thầy vẽ bản đồ Thế giới lên bảng với trí nhớ của mình mà không hề sai).

Rồi những Giăng van Giăng, Giave, Codet, Marius... cũng đã cùng chúng tôi đi vào giấc ngủ khi quây quần bên thầy trong những buổi tối ở An – Mỹ, Đại – Từ dưới mái nhà tranh hay trên thảm cỏ.

Những tác phẩm vĩ đại của nền văn học Thế giới đã được thầy truyền lại cho chúng tôi bằng lối kể chuyện hấp dẫn, lôi cuốn nhưng đơn giản để mấy cái đầu non nớt của tụi học sinh lớp 5 chúng tôi có thể “tiêu thụ” được mà vẫn không hề sai với nội dung và ý nghĩa của các đại văn hào đã viết ra (điều này đã được tôi kiểm chứng khi sau này trực tiếp đọc các tác phẩm vĩ đại đó).

Không biết các bạn khác nghĩ sao, nhưng đối với tôi đây là những bước khai phá đầu tiên tiến vào thế giới văn học cổ điển, mà người khai phá là thầy MÃN.

Đăng lại bài viết của Hà Mèo (đã đăng tại „Blog Út Trỗi”: Thứ năm, ngày 03 tháng một năm 2008)



THẦY MÃN



Tranh Sơn dầu F.LựcTranh F.Lực

B3C5 – năm 1965 được thầy Mãn phụ trách (sau thầy không đi Trung Quốc và nay cũng không nghe nói gì về thầy). Thầy dạy môn địa và đội khi cả toán. Thầy có dáng người nhỏ nhắn, trắng trẻo đúng như các bài tập làm văn mẫu vẫn thường mô tả về một thầy giáo.

Nhưng điều tôi không quên được là những truyện thầy kể cho chúng tôi nghe vào những buổi tối sau giờ sinh hoạt trung đội, trước giờ điểm danh hay cuối các giờ học của thầy “nếu các em trật tự, học tốt thì sẽ có 15 phút kể chuyện”.

Và như vậy, Napoleon chinh chiến khắp châu Âu, châu Phi rồi bị Cutudop đánh bại đã được chúng tôi say sưa nghe với minh họa rõ ràng trên bản đồ Thế giới do thầy vẽ (thầy vẽ bản đồ Thế giới lên bảng với trí nhớ của mình mà không hề sai).

Rồi những Giăng van Giăng, Giave, Codet, Marius... cũng đã cùng chúng tôi đi vào giấc ngủ khi quây quần bên thầy trong những buổi tối ở An – Mỹ, Đại – Từ dưới mái nhà tranh hay trên thảm cỏ.

Những tác phẩm vĩ đại của nền văn học Thế giới đã được thầy truyền lại cho chúng tôi bằng lối kể chuyện hấp dẫn, lôi cuốn nhưng đơn giản để mấy cái đầu non nớt của tụi học sinh lớp 5 chúng tôi có thể “tiêu thụ” được mà vẫn không hề sai với nội dung và ý nghĩa của các đại văn hào đã viết ra (điều này đã được tôi kiểm chứng khi sau này trực tiếp đọc các tác phẩm vĩ đại đó).

Không biết các bạn khác nghĩ sao, nhưng đối với tôi đây là những bước khai phá đầu tiên tiến vào thế giới văn học cổ điển, mà người khai phá là thầy MÃN.

Đăng lại bài viết của Hà Mèo (đã đăng tại „Blog Út Trỗi”: Thứ năm, ngày 03 tháng một năm 2008)

Kết thúc năm 2007 - hameok6





Hôm qua, 29/12, Khóa 6 TP.HCM gặp mặt cuối năm tại Jodee (ko biết đây là tiếng nước nào mà khó đọc và khó viết đúng quá).
Anh em hỏi : Thời gian gần đây thấy đăng bài lên blog tùm lum, rồi bỗng nhiên lại “biến mất”?
– Xin thưa: sau chuyến đi Quế Lâm về, "tình Trỗi" nổi lên cuồn cuộn mà chẳng gặp được bạn nào để tâm sự. Đành xin anh HT cho “ké” blog giải tỏa nỗi niềm. Bởi cả năm trời khóa 6 mới gặp mặt nhau 1 lần. Buồn thúi ruột !
Nhưng ai học được chữ “ngờ”. Sau vài bài đăng trên blog, các bạn K6 gọi liên tục. Gặp hỏi thăm chuyện Quế Lâm, gặp bạn miền Bắc vô, gặp ngày 22/12, gặp ngày chiến thắng ĐBP trên không…. Ôi, lu bù ! Mà cái lệ dân mình, đám nào rồi cũng là đám nhậu ! Vậy là nhậu triền miên, 3 ngày – 1 bữa, 2 ngày – 1 bữa, rồi 1 ngày – 1 bữa…. .Đó là các bạn đã “thịnh tình” tha tôi không biết uống. Nhựng vẫn bò lê, bò càng.
Gặp nhau nhiều (hình như hơi quá nhiều), bức xúc được giải quyết, ko còn nhu cầu tâm sự. Nhậu nhiều, mệt quá, ko còn đầu óc để viết, mà đôi khi muốn viết cũng chẳng nghĩ ra văn vì văn mình là văn “đểu”, chỉ hứng mới viết được (Hèn nào ko thấy kể chuyện nhậu trên blog, vì mấy thằng nhậu đâu có viết được !). Ví dụ như hôm Duy Đảo mời ăn thịt lợn rừng (ngon tuyệt !) có Tuấn “ôn” trường Bé tham dự, Sơn “lé” K6 phóng tác câu thơ theo kiểu “Bút tre” :
Hôm nay gặp bạn Tuấn ”ôn”
Anh em phấn khởi ăn lợn vui ghê.
26/12 : ăn thịt lợn rừng tiễn bạn Thanh Trung trở ra HN - từ phải qua : Enner, Thanh Trung, Biêu, Duy Đảo, Vũ Hưng, Tuấn ôn, Tô Tâm, Tuấn short, Sơn lé, Hà mèo.
26/12 : ăn thịt lợn rừng tiễn bạn Thanh Trung trở ra HN
- từ phải qua: Enner, Thanh Trung, Biêu, Duy Đảo, Vũ Hưng, Tuấn ôn, Tô Tâm, Tuấn short, Sơn lé, Hà mèo.

Toàn những chuyện nhậu nói dễ, blog khó viết. Thông cảm, rất thông cảm cho các bạn nhậu! Đã không nghĩ ra văn rồi, mà màn hình vi tính thì quá sang, chữ nhiều mà hình ít, chỉ muốn ngủ ! Vậy tốt nhất là đi ngủ lấy sức ….đi nhậu tiếp.
Trong lần gặp mặt này, K6 đã ra “nghị quyết”: để tăng cường mối quan hệ trong khóa tốt hơn, từ nay trở đi, K6 sẽ gặp mặt nhau 1 quý – 1 lần. Đó là chính thức, còn anh em thích “đá bổng, đá bỏ” thì ko tính. Oh, vậy em cũng xin đăng nốt bài này lên blog coi như bài “thơ tuyệt mệnh” của mình vậy.
Xin chào tạm biệt, hẹn ngày tái nạm !


29/12/2007 : gặp mặt K6 cuối năm
29/12 : gặp mặt K6 cuối năm (hình chụp ko được nét - có lẽ do đã "sướng" rồi)


Đăng lại bài viết của Hà Mèo (đã đăng tại „Blog Bạn Trỗi”: Chủ nhật, 30 tháng mười hai, 2007)




Hôm qua, 29/12, Khóa 6 TP.HCM gặp mặt cuối năm tại Jodee (ko biết đây là tiếng nước nào mà khó đọc và khó viết đúng quá).
Anh em hỏi : Thời gian gần đây thấy đăng bài lên blog tùm lum, rồi bỗng nhiên lại “biến mất”?
– Xin thưa: sau chuyến đi Quế Lâm về, "tình Trỗi" nổi lên cuồn cuộn mà chẳng gặp được bạn nào để tâm sự. Đành xin anh HT cho “ké” blog giải tỏa nỗi niềm. Bởi cả năm trời khóa 6 mới gặp mặt nhau 1 lần. Buồn thúi ruột !
Nhưng ai học được chữ “ngờ”. Sau vài bài đăng trên blog, các bạn K6 gọi liên tục. Gặp hỏi thăm chuyện Quế Lâm, gặp bạn miền Bắc vô, gặp ngày 22/12, gặp ngày chiến thắng ĐBP trên không…. Ôi, lu bù ! Mà cái lệ dân mình, đám nào rồi cũng là đám nhậu ! Vậy là nhậu triền miên, 3 ngày – 1 bữa, 2 ngày – 1 bữa, rồi 1 ngày – 1 bữa…. .Đó là các bạn đã “thịnh tình” tha tôi không biết uống. Nhựng vẫn bò lê, bò càng.
Gặp nhau nhiều (hình như hơi quá nhiều), bức xúc được giải quyết, ko còn nhu cầu tâm sự. Nhậu nhiều, mệt quá, ko còn đầu óc để viết, mà đôi khi muốn viết cũng chẳng nghĩ ra văn vì văn mình là văn “đểu”, chỉ hứng mới viết được (Hèn nào ko thấy kể chuyện nhậu trên blog, vì mấy thằng nhậu đâu có viết được !). Ví dụ như hôm Duy Đảo mời ăn thịt lợn rừng (ngon tuyệt !) có Tuấn “ôn” trường Bé tham dự, Sơn “lé” K6 phóng tác câu thơ theo kiểu “Bút tre” :
Hôm nay gặp bạn Tuấn ”ôn”
Anh em phấn khởi ăn lợn vui ghê.
26/12 : ăn thịt lợn rừng tiễn bạn Thanh Trung trở ra HN - từ phải qua : Enner, Thanh Trung, Biêu, Duy Đảo, Vũ Hưng, Tuấn ôn, Tô Tâm, Tuấn short, Sơn lé, Hà mèo.
26/12 : ăn thịt lợn rừng tiễn bạn Thanh Trung trở ra HN
- từ phải qua: Enner, Thanh Trung, Biêu, Duy Đảo, Vũ Hưng, Tuấn ôn, Tô Tâm, Tuấn short, Sơn lé, Hà mèo.

Toàn những chuyện nhậu nói dễ, blog khó viết. Thông cảm, rất thông cảm cho các bạn nhậu! Đã không nghĩ ra văn rồi, mà màn hình vi tính thì quá sang, chữ nhiều mà hình ít, chỉ muốn ngủ ! Vậy tốt nhất là đi ngủ lấy sức ….đi nhậu tiếp.
Trong lần gặp mặt này, K6 đã ra “nghị quyết”: để tăng cường mối quan hệ trong khóa tốt hơn, từ nay trở đi, K6 sẽ gặp mặt nhau 1 quý – 1 lần. Đó là chính thức, còn anh em thích “đá bổng, đá bỏ” thì ko tính. Oh, vậy em cũng xin đăng nốt bài này lên blog coi như bài “thơ tuyệt mệnh” của mình vậy.
Xin chào tạm biệt, hẹn ngày tái nạm !


29/12/2007 : gặp mặt K6 cuối năm
29/12 : gặp mặt K6 cuối năm (hình chụp ko được nét - có lẽ do đã "sướng" rồi)


Đăng lại bài viết của Hà Mèo (đã đăng tại „Blog Bạn Trỗi”: Chủ nhật, 30 tháng mười hai, 2007)

Chúc Mừng Năm Mới 2008

Chúc Mừng Năm Mới 2008

HappyNewYear

Chúc Mừng Năm Mới 2008

HappyNewYear

Phiên chợ Ba Tư (In a Persian market)


Có những bài ca gợi nhớ đến một người…
Có những bản nhạc gợi nhớ đến một thời…

Đối với lính Trỗi thì có lẽ bản " Phiên chợ Ba Tư (In a Persian market)" cũng thuộc loại này.


Xem và nghe nhạc trự̣c tuyến tại YouTube.



Gửi các bác bài viết của tác giả Ngọc Anh tại Báo Điện Tử „Tuần Việt Nam”

"In a Persian market": Phiên chợ Ba Tư cổ tích

Thứ bảy, 24/11/2007, 07:56 GMT+7


Bản nhạc: IN A PERSIAN MARKET (Phiên chợ Ba Tư)
Tác giả: Albert William Ketèlbey *****
Nguồn: obst-music.com


Trong những chương trình giới thiệu về các loại nhạc cụ của dàn nhạc giao hưởng cho các em thiếu nhi, In a Persian market” (Phiên chợ Ba Tư) là một trong số những tác phẩm quen thuộc và luôn gây nhiều hứng thú.

Đây là một tác phẩm của nhà soạn nhạc kiêm nhạc trưởng, nghệ sĩ piano người Anh Albert William Ketèlbey (1875 – 1959).

Thực ra, Ketèlbey không phải là một tên tuổi lớn với tư cách một nhà soạn nhạc cổ điển. Trong lĩnh vực này, ông chỉ đạt được một vài ghi nhận nhỏ về mặt phê bình với số ít tác phẩm hợp xướng và thính phòng.

Ngoài những tác phẩm thời kỳ đầu mang phong cách cổ điển, phần lớn thời gian ông chuyên tâm vào kiểu nhạc nhẹ (Light Music) viết cho piano hoặc dàn nhạc. Tuy vâỵ, ông đã biết cách nâng nghệ thuật chinh phục vô số người nghiệp dư lên một đỉnh cao hiếm thấy.

Thành công lớn nhất của ông là những tác phẩm mang tính miêu tả. Đó là những tác phẩm thể hiện khả năng xuất sắc của Ketèlbey trong việc nắm bắt sắc thái bầu không khí xung quanh.

Các tác phẩm này rất phổ biến với dàn nhạc trên sân khấu và cả trong hình thức những bản nhạc in. Mặc dù thể loại âm nhạc này hiện giờ đã mai một nhưng vào thời đó, nó được đánh giá cao và đem lại danh tiếng lừng lẫy cho tác giả.

In a Persian market, được sáng tác năm 1920, là một trong số những tác phẩm nổi tiếng nhất của Ketèlbey. Theo nhà phê bình Anh Ralph Hill, một người rất sành về âm nhạc Ba Tư, đây là tác phẩm về Ba Tư hay nhất được viết ra bên ngoài vùng đất này với một mối quan tâm lớn đến màu sắc phối khí.

Màu sắc phối khí phong phú là một đặc trưng lớn trong nhiều sáng tác của Ketèlbey. Có họa sĩ vẽ cover cho tác phẩm của ông đã hóm hỉnh mô tả chính nhà soạn nhạc như một phù thủy đang pha chế một hỗn hợp âm điệu trong một cái vạc lớn.

Ketèlbey đã pha màu và vẽ ra loạt 9 bức tranh liên hoàn miêu tả cảnh tượng một phiên chợ Ba Tư cổ xưa trong In a Persian market”:

Cảnh 1: Những người đánh lạc đà đang tới chợ
Cảnh 2: Những kẻ hành khất đang cầu xin bố thí
Cảnh 3: Sự xuất hiện của nàng công chúa xinh đẹp
Cảnh 4: Những người làm trò tung hứng trong chợ
Cảnh 5: Những người làm trò dụ rắn trong chợ
Cảnh 6: Đức Kha-lip (vua Hồi giáo) đi qua chợ
Cảnh 7: Những kẻ hành khất lại lên tiếng cầu xin
Cảnh 8: Những người đánh lạc đà tiếp tục lên đường
Cảnh 9: Chợ trở nên vắng vẻ, hoang vu


Bức vẽ một nàng công chúa xứ Ba Tư
Nguồn: persianscholarship.org
Lắng nghe bản nhạc “In a Persian market”, chắc chắn bạn không thể không mỉm cười khi nhận ra mình đang lạc vào một thế giới cổ tích diệu kỳ.

Như thể bạn đang có mặt tại phiên chợ cổ xưa và tận mắt chứng kiến những cảnh tượng vô cùng sống động - những cảnh tượng mà có lẽ trước đây bạn đã từng hình dung khi nghe những câu chuyện cuốn hút mê hồn của nàng Scheherazade trong “Ngàn lẻ một đêm”.

Bản nhạc kết thúc cũng là lúc các em nhỏ vừa làm quen với rất nhiều nhạc cụ trong dàn nhạc giao hưởng trên sân khấu. Có đủ 4 bộ: bộ dây, bộ gỗ, bộ đồng và bộ gõ.

Dù chỉ là một tác phẩm nhạc nhẹ viết cho dàn nhạc, nhưng tác dụng giáo dục âm nhạc của “In a Persian market”không kém gì so với những tác phẩm cổ điển có cùng mục đích như “Hướng dẫn về dàn nhạc cho người trẻ” của Benjamin Britten; “Hội giả trang của các con thú” của Camille Saint-Saëns; “Pechia và chó sói” của Sergei Prokofiev…

Còn các bạn độc giả, mời bạn dạo một vòng nữa qua chợ bằng cách mở lại “In a Persian market” một, hai và nhiều lần nữa. Nhưng nhớ là: đừng mải ngắm nhìn công chúa quá kẻo sẽ va phải chiếc giỏ của người dụ rắn đấy nhé!

  • Ngọc Anh


Có những bài ca gợi nhớ đến một người…
Có những bản nhạc gợi nhớ đến một thời…

Đối với lính Trỗi thì có lẽ bản " Phiên chợ Ba Tư (In a Persian market)" cũng thuộc loại này.


Xem và nghe nhạc trự̣c tuyến tại YouTube.



Gửi các bác bài viết của tác giả Ngọc Anh tại Báo Điện Tử „Tuần Việt Nam”

"In a Persian market": Phiên chợ Ba Tư cổ tích

Thứ bảy, 24/11/2007, 07:56 GMT+7


Bản nhạc: IN A PERSIAN MARKET (Phiên chợ Ba Tư)
Tác giả: Albert William Ketèlbey *****
Nguồn: obst-music.com


Trong những chương trình giới thiệu về các loại nhạc cụ của dàn nhạc giao hưởng cho các em thiếu nhi, In a Persian market” (Phiên chợ Ba Tư) là một trong số những tác phẩm quen thuộc và luôn gây nhiều hứng thú.

Đây là một tác phẩm của nhà soạn nhạc kiêm nhạc trưởng, nghệ sĩ piano người Anh Albert William Ketèlbey (1875 – 1959).

Thực ra, Ketèlbey không phải là một tên tuổi lớn với tư cách một nhà soạn nhạc cổ điển. Trong lĩnh vực này, ông chỉ đạt được một vài ghi nhận nhỏ về mặt phê bình với số ít tác phẩm hợp xướng và thính phòng.

Ngoài những tác phẩm thời kỳ đầu mang phong cách cổ điển, phần lớn thời gian ông chuyên tâm vào kiểu nhạc nhẹ (Light Music) viết cho piano hoặc dàn nhạc. Tuy vâỵ, ông đã biết cách nâng nghệ thuật chinh phục vô số người nghiệp dư lên một đỉnh cao hiếm thấy.

Thành công lớn nhất của ông là những tác phẩm mang tính miêu tả. Đó là những tác phẩm thể hiện khả năng xuất sắc của Ketèlbey trong việc nắm bắt sắc thái bầu không khí xung quanh.

Các tác phẩm này rất phổ biến với dàn nhạc trên sân khấu và cả trong hình thức những bản nhạc in. Mặc dù thể loại âm nhạc này hiện giờ đã mai một nhưng vào thời đó, nó được đánh giá cao và đem lại danh tiếng lừng lẫy cho tác giả.

In a Persian market, được sáng tác năm 1920, là một trong số những tác phẩm nổi tiếng nhất của Ketèlbey. Theo nhà phê bình Anh Ralph Hill, một người rất sành về âm nhạc Ba Tư, đây là tác phẩm về Ba Tư hay nhất được viết ra bên ngoài vùng đất này với một mối quan tâm lớn đến màu sắc phối khí.

Màu sắc phối khí phong phú là một đặc trưng lớn trong nhiều sáng tác của Ketèlbey. Có họa sĩ vẽ cover cho tác phẩm của ông đã hóm hỉnh mô tả chính nhà soạn nhạc như một phù thủy đang pha chế một hỗn hợp âm điệu trong một cái vạc lớn.

Ketèlbey đã pha màu và vẽ ra loạt 9 bức tranh liên hoàn miêu tả cảnh tượng một phiên chợ Ba Tư cổ xưa trong In a Persian market”:

Cảnh 1: Những người đánh lạc đà đang tới chợ
Cảnh 2: Những kẻ hành khất đang cầu xin bố thí
Cảnh 3: Sự xuất hiện của nàng công chúa xinh đẹp
Cảnh 4: Những người làm trò tung hứng trong chợ
Cảnh 5: Những người làm trò dụ rắn trong chợ
Cảnh 6: Đức Kha-lip (vua Hồi giáo) đi qua chợ
Cảnh 7: Những kẻ hành khất lại lên tiếng cầu xin
Cảnh 8: Những người đánh lạc đà tiếp tục lên đường
Cảnh 9: Chợ trở nên vắng vẻ, hoang vu


Bức vẽ một nàng công chúa xứ Ba Tư
Nguồn: persianscholarship.org
Lắng nghe bản nhạc “In a Persian market”, chắc chắn bạn không thể không mỉm cười khi nhận ra mình đang lạc vào một thế giới cổ tích diệu kỳ.

Như thể bạn đang có mặt tại phiên chợ cổ xưa và tận mắt chứng kiến những cảnh tượng vô cùng sống động - những cảnh tượng mà có lẽ trước đây bạn đã từng hình dung khi nghe những câu chuyện cuốn hút mê hồn của nàng Scheherazade trong “Ngàn lẻ một đêm”.

Bản nhạc kết thúc cũng là lúc các em nhỏ vừa làm quen với rất nhiều nhạc cụ trong dàn nhạc giao hưởng trên sân khấu. Có đủ 4 bộ: bộ dây, bộ gỗ, bộ đồng và bộ gõ.

Dù chỉ là một tác phẩm nhạc nhẹ viết cho dàn nhạc, nhưng tác dụng giáo dục âm nhạc của “In a Persian market”không kém gì so với những tác phẩm cổ điển có cùng mục đích như “Hướng dẫn về dàn nhạc cho người trẻ” của Benjamin Britten; “Hội giả trang của các con thú” của Camille Saint-Saëns; “Pechia và chó sói” của Sergei Prokofiev…

Còn các bạn độc giả, mời bạn dạo một vòng nữa qua chợ bằng cách mở lại “In a Persian market” một, hai và nhiều lần nữa. Nhưng nhớ là: đừng mải ngắm nhìn công chúa quá kẻo sẽ va phải chiếc giỏ của người dụ rắn đấy nhé!

  • Ngọc Anh

Họa sĩ Phạm Lực - thầy của chúng ta (hameok6)





Tôi cũng muốn gởi tới các ae câu chuyện về 1 họa sĩ được copy từ báo Thanh niên. Chắc có nhiều bạn đã đọc rồi, nhưng có lẽ còn 1 số chưa đọc về người họa sĩ quen biết này của chúng ta.

Phạm Lực sinh năm 1943 tại TP Huế, quê cha. Mẹ anh là bà Nguyễn Thị Chương, người Hà Tĩnh, và là chắt ruột của đại thi hào Nguyễn Du. Bà theo chồng vào Huế, nơi ông đang giữ một chức quan của Nam triều. Cách mạng tháng 8.1945 nổ ra, cha của Phạm Lực khuyên vợ đưa 3 đứa con (Phạm Lực lúc đó mới 2 tuổi) trở về Hà Tĩnh sống nhờ bên ngoại, nghe ngóng tình hình thời cuộc xem thế nào... Ai ngờ lần chia ly đó là mãi mãi, đôi vợ chồng kẻ Nam - người Bắc.

Thày Lực và Quách Hoàn Kiếm K8
Thày Lực và Quách Hoàn Kiếm K8

Trong khi người cha ở lại Huế "xênh xang áo mão cân đai" thì vợ con ông ở quê ngoại lại phải sống trong tủi nhục oan nghiệt, bị những người xung quanh dè bỉu, xa lánh vì có cha, có chồng làm "Việt gian". Bà mẹ của Phạm Lực một nách 3 đứa con, đã phải nhẫn nhục chịu đựng trăm cay nghìn đắng cố gắng chống chọi với đói khổ và điều tiếng thị phi chỉ để những đứa con của mình tồn tại. Nhẫn nại, hy sinh đến thế nhưng vẫn không giữ được đứa con thứ hai trong đói lạnh, suy kiệt... Riêng Phạm Lực đã cố gắng vượt thoát cái "số phận định mệnh" ấy bằng những nỗ lực kiên cường. Mê vẽ từ lúc còn rất nhỏ, vật gì cũng có thể trở thành bút vẽ: cành cây, cục than, miếng gạch vụn, mẩu sắn mì phơi khô... và vẽ lên bất cứ ở đâu. Hàng xóm xung quanh đã bao phen "mắng vốn" bà mẹ của Lực vì cậu con chuyên vẽ bậy lên tường nhà của họ. May mắn làm sao, sau đó Phạm Lực phát hiện ra nguyên một bãi cát bao la dọc bờ sông La, mặc sức cho cậu tung hoành sức vẽ!

Đam mê lớn nhất của Phạm Lực là được vẽ nhưng cái "phốt" lý lịch hầu như đã đóng sập những cánh cửa dẫn vào trường vẽ. Vậy mà bằng những phấn đấu không mệt mỏi, cuối cùng Phạm Lực cũng đã được vào học trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam (niên khóa 1960-1965). Vừa ra trường, Phạm Lực trở thành bộ đội chiến đấu ở Hàm Rồng (Thanh Hóa), tuyến lửa Vĩnh Linh... rồi các chiến trường Tây Nguyên, Nam Lào, Tây Nam Bộ... 35 năm trong quân ngũ, tay súng tay cọ - Phạm Lực đã trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, thiếu tá kiêm họa sĩ của Quân đội Nhân dân Việt Nam, đủ biết rằng anh đã chiến đấu, lao động nghệ thuật như thế nào mới tạo được sự tin tưởng tuyệt đối của thượng cấp (trong thời gian này anh đã đoạt được nhiều giải thưởng về nghệ thuật và văn học của Bộ Quốc phòng). Năm 1977 anh tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật Việt Nam.

Ai cũng phải công nhận sức vẽ của Phạm Lực thật là... kinh khủng! Một mình anh vẽ bằng 5 người khác. Anh căng toan lên khoảng một chục giá vẽ rồi mới bắt đầu vẽ, đang vẽ mà... bí thì nhảy sang khung toan khác. Cứ thế mà vẽ liên tục, đầy ngẫu hứng mà không hề qua giai đoạn vẽ phác thảo. Cởi áo lính vào năm 1993, Phạm Lực về Hà Nội mở xưởng vẽ. Gọi là "xưởng" cho... oai, thật ra đó chỉ là một căn phòng xập xệ, chật hẹp.

Thầy Lực đang vẽ tại nhà
Thày Lực đang vẽ tại nhà

Tuy thế, tranh của Phạm Lực lại có sức hấp dẫn lạ kỳ, nhiều người sành chơi tranh năng lui tới nơi này và giới thiệu với nhiều người khác, kể cả người nước ngoài. Bà Francois Flane (người Pháp) lúc đó là Trưởng đại diện UNICEF (Quỹ nhi đồng Liên Hiệp Quốc) tại Hà Nội cũng rất hay đến xem Phạm Lực vẽ và mỗi khi ra về bà ấy lại "mua" vài bức tranh mang đi mà không hề... trả tiền. Phạm Lực cũng ngại đòi tiền vì... không biết nói tiếng Pháp ! Sau 3 năm như thế, một hôm bà Francoi đến với một người phiên dịch và nói: "Đi! Tao trả tiền tranh cho mày!". Phạm Lực lúng ta, lúng túng leo lên xe taxi. Đến một căn biệt thự ở làng hoa Nghi Tàm bà ấy nói: "Tao trả nợ bằng... căn nhà này đó !", rồi trao chìa khóa cho Phạm Lực. Ít lâu sau bà ấy lại nói: "Mày có nhà rồi, cho tao... ở nhờ với!". Phạm Lực chỉ còn biết... gãi đầu, cười cười dắt bà ấy đi "đăng ký" !

Nhờ bà vợ người Pháp này mà ở Paris (Pháp) có hẳn một Gallery Tranh Phạm Lực rồi tranh Phạm Lực lan tỏa sang các nước châu Âu. Riêng ở trong nước, lần đầu tiên một họa sĩ Việt Nam đương đại có hẳn một CLB Sưu tập tranh Phạm Lực với khoảng 60 thành viên cực kỳ mê tranh Phạm Lực do ông Nguyễn Sĩ Dũng (Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội) làm chủ tịch. CLB này sẵn sàng hỗ trợ về tài chính hoặc các yêu cầu khác của họa sĩ chỉ để họa sĩ yên tâm sáng tác và để tranh Phạm Lực được giữ lại ở Việt Nam vì "rất sợ con cháu muốn xem tranh Phạm Lực lại phải ra nước ngoài mới xem được" (lời ông Nguyễn Sĩ Dũng trong buổi họp báo).

Hà Đình Nguyên (báo Thanh Niên)

Được đăng bởi hameok6 tại 18:20

Đăng lại bài viết của Hà Mèo  (đã đăng tại „Blog Út Trỗi”: Thứ sáu, ngày 28 tháng mười hai năm 2007

Xem:
1. Trang WEB của thầy http://www.phamluc.com/
2. 2. CÂU LẠC BỘ NHỮNG NGƯỜI SƯU TẦM TRANH PHẠM LỤC
3. Triển lãm tranh của thầy Phạm Lực ở Tp HCM - Kiến Quốc.
4. Thầy dạy vẽ - Nguyễn Hoàng Anh – K6.
5. THẦY CÔ TRƯỜNG TRỖI - Nét V - Trần Chí Thọ K3.
6. Giờ học vẽ đầu tiên của thày Phạm Lực - Vinhnq.




Tôi cũng muốn gởi tới các ae câu chuyện về 1 họa sĩ được copy từ báo Thanh niên. Chắc có nhiều bạn đã đọc rồi, nhưng có lẽ còn 1 số chưa đọc về người họa sĩ quen biết này của chúng ta.

Phạm Lực sinh năm 1943 tại TP Huế, quê cha. Mẹ anh là bà Nguyễn Thị Chương, người Hà Tĩnh, và là chắt ruột của đại thi hào Nguyễn Du. Bà theo chồng vào Huế, nơi ông đang giữ một chức quan của Nam triều. Cách mạng tháng 8.1945 nổ ra, cha của Phạm Lực khuyên vợ đưa 3 đứa con (Phạm Lực lúc đó mới 2 tuổi) trở về Hà Tĩnh sống nhờ bên ngoại, nghe ngóng tình hình thời cuộc xem thế nào... Ai ngờ lần chia ly đó là mãi mãi, đôi vợ chồng kẻ Nam - người Bắc.

Thày Lực và Quách Hoàn Kiếm K8
Thày Lực và Quách Hoàn Kiếm K8

Trong khi người cha ở lại Huế "xênh xang áo mão cân đai" thì vợ con ông ở quê ngoại lại phải sống trong tủi nhục oan nghiệt, bị những người xung quanh dè bỉu, xa lánh vì có cha, có chồng làm "Việt gian". Bà mẹ của Phạm Lực một nách 3 đứa con, đã phải nhẫn nhục chịu đựng trăm cay nghìn đắng cố gắng chống chọi với đói khổ và điều tiếng thị phi chỉ để những đứa con của mình tồn tại. Nhẫn nại, hy sinh đến thế nhưng vẫn không giữ được đứa con thứ hai trong đói lạnh, suy kiệt... Riêng Phạm Lực đã cố gắng vượt thoát cái "số phận định mệnh" ấy bằng những nỗ lực kiên cường. Mê vẽ từ lúc còn rất nhỏ, vật gì cũng có thể trở thành bút vẽ: cành cây, cục than, miếng gạch vụn, mẩu sắn mì phơi khô... và vẽ lên bất cứ ở đâu. Hàng xóm xung quanh đã bao phen "mắng vốn" bà mẹ của Lực vì cậu con chuyên vẽ bậy lên tường nhà của họ. May mắn làm sao, sau đó Phạm Lực phát hiện ra nguyên một bãi cát bao la dọc bờ sông La, mặc sức cho cậu tung hoành sức vẽ!

Đam mê lớn nhất của Phạm Lực là được vẽ nhưng cái "phốt" lý lịch hầu như đã đóng sập những cánh cửa dẫn vào trường vẽ. Vậy mà bằng những phấn đấu không mệt mỏi, cuối cùng Phạm Lực cũng đã được vào học trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam (niên khóa 1960-1965). Vừa ra trường, Phạm Lực trở thành bộ đội chiến đấu ở Hàm Rồng (Thanh Hóa), tuyến lửa Vĩnh Linh... rồi các chiến trường Tây Nguyên, Nam Lào, Tây Nam Bộ... 35 năm trong quân ngũ, tay súng tay cọ - Phạm Lực đã trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, thiếu tá kiêm họa sĩ của Quân đội Nhân dân Việt Nam, đủ biết rằng anh đã chiến đấu, lao động nghệ thuật như thế nào mới tạo được sự tin tưởng tuyệt đối của thượng cấp (trong thời gian này anh đã đoạt được nhiều giải thưởng về nghệ thuật và văn học của Bộ Quốc phòng). Năm 1977 anh tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật Việt Nam.

Ai cũng phải công nhận sức vẽ của Phạm Lực thật là... kinh khủng! Một mình anh vẽ bằng 5 người khác. Anh căng toan lên khoảng một chục giá vẽ rồi mới bắt đầu vẽ, đang vẽ mà... bí thì nhảy sang khung toan khác. Cứ thế mà vẽ liên tục, đầy ngẫu hứng mà không hề qua giai đoạn vẽ phác thảo. Cởi áo lính vào năm 1993, Phạm Lực về Hà Nội mở xưởng vẽ. Gọi là "xưởng" cho... oai, thật ra đó chỉ là một căn phòng xập xệ, chật hẹp.

Thầy Lực đang vẽ tại nhà
Thày Lực đang vẽ tại nhà

Tuy thế, tranh của Phạm Lực lại có sức hấp dẫn lạ kỳ, nhiều người sành chơi tranh năng lui tới nơi này và giới thiệu với nhiều người khác, kể cả người nước ngoài. Bà Francois Flane (người Pháp) lúc đó là Trưởng đại diện UNICEF (Quỹ nhi đồng Liên Hiệp Quốc) tại Hà Nội cũng rất hay đến xem Phạm Lực vẽ và mỗi khi ra về bà ấy lại "mua" vài bức tranh mang đi mà không hề... trả tiền. Phạm Lực cũng ngại đòi tiền vì... không biết nói tiếng Pháp ! Sau 3 năm như thế, một hôm bà Francoi đến với một người phiên dịch và nói: "Đi! Tao trả tiền tranh cho mày!". Phạm Lực lúng ta, lúng túng leo lên xe taxi. Đến một căn biệt thự ở làng hoa Nghi Tàm bà ấy nói: "Tao trả nợ bằng... căn nhà này đó !", rồi trao chìa khóa cho Phạm Lực. Ít lâu sau bà ấy lại nói: "Mày có nhà rồi, cho tao... ở nhờ với!". Phạm Lực chỉ còn biết... gãi đầu, cười cười dắt bà ấy đi "đăng ký" !

Nhờ bà vợ người Pháp này mà ở Paris (Pháp) có hẳn một Gallery Tranh Phạm Lực rồi tranh Phạm Lực lan tỏa sang các nước châu Âu. Riêng ở trong nước, lần đầu tiên một họa sĩ Việt Nam đương đại có hẳn một CLB Sưu tập tranh Phạm Lực với khoảng 60 thành viên cực kỳ mê tranh Phạm Lực do ông Nguyễn Sĩ Dũng (Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội) làm chủ tịch. CLB này sẵn sàng hỗ trợ về tài chính hoặc các yêu cầu khác của họa sĩ chỉ để họa sĩ yên tâm sáng tác và để tranh Phạm Lực được giữ lại ở Việt Nam vì "rất sợ con cháu muốn xem tranh Phạm Lực lại phải ra nước ngoài mới xem được" (lời ông Nguyễn Sĩ Dũng trong buổi họp báo).

Hà Đình Nguyên (báo Thanh Niên)

Được đăng bởi hameok6 tại 18:20

Đăng lại bài viết của Hà Mèo  (đã đăng tại „Blog Út Trỗi”: Thứ sáu, ngày 28 tháng mười hai năm 2007

Xem:
1. Trang WEB của thầy http://www.phamluc.com/
2. 2. CÂU LẠC BỘ NHỮNG NGƯỜI SƯU TẦM TRANH PHẠM LỤC
3. Triển lãm tranh của thầy Phạm Lực ở Tp HCM - Kiến Quốc.
4. Thầy dạy vẽ - Nguyễn Hoàng Anh – K6.
5. THẦY CÔ TRƯỜNG TRỖI - Nét V - Trần Chí Thọ K3.
6. Giờ học vẽ đầu tiên của thày Phạm Lực - Vinhnq.

Họp mặt K6 phía Nam - Nguyễn Duy Đảo





ừa đi lấy chú heo rừng (đã được làm sẵn đủ cả ruột, gan, lòng, phèo và tiết, loại này mà tiết canh thì cứ gọi là tuyệt, Bố rừng thứ thiệt, mẹ F1) giao cho nhà hàng "ruột" của Tuấn "N". Để làm cơm chiều nay. Với hai lý do: Mời bạn Thanh Chung -cán bộ TW vào công tác. Thứ hai là kỷ niệm 35 năm ngày chiến thắng Điện Biên Phủ trên không.

Chiều hôm trước theo đề nghị của Tuấn "N". Tối qua tôi tức tốc điều thằng em ruột cũng dân Hải Quan lính cũ của Tuấn, lái xe một mạch chạy lên trang trại trên Bình Phước trói nghiến một con, cho thợ làm sẵn và sáng nay 4h30 phóng về, thịt vẫn còn nóng.
Vừa về đến nhà thì thấy tin nhắn của Hà Mèo, Hắn nói mở Blog của k4 và k6 có bài viết của hắn. Dạo này viết lách dữ dội quá chắc đươc mấy "Nhời"động viên của bác HT nên cố gắng chăng, hay là vì thấy anh em k6 ta "Sống nội tâm" quá nên hắn phải cố. Đùa vậy thôi chứ mình khoái bài: "Troicky Kharactrer" cua ong lắm. cố gắng lên nhé. Đọc bài của Bác Chí Quang mà hãi, ngần ấy tuổi mà dám leo lên " Giời " lao xuống đất, thật chỉ có mấy Ông Trỗi mới dám liều thế. Nói thật với các bác chứ em cái khoản nhìn lên thì cao mấy em cũng không sợ nhưng nhìn xuống thì em hãi lắm, lên cao khoảng 3-4 mét nhìn xuống là em đã thấy chóng mặt, tiền đình em yếu, nên số em nó cứ nghèo mãi chẳng bao giờ có nhà lầu mà leo, thật vậy đấy các bác ạ.
Đọc bài trên Blog của mình em thấy vui và bổ ích, nhiều lĩnh vực ra phết, thích nhất là cái hài của dân trương ta. Thật nếu không có bác HT thì buồn chết, nhờ ăn theo công nghệ mới mà anh em mình giao lưu được với nhau nhanh và tiện lợi.

Qua đây cũng muốn báo tin cho các bạn k6 (Trong Nam cũng như ngoài Bắc là anh em phía nam tối 30 sẽ họp mặt tất niên và kỷ niêm 22/12 luôn một thể.
Theo dự kiến của Nam Điện, địa điểm tại nhà hàng "Bia Đức", trên đường Hoàng Văn Thụ, bên cạnh văn phòng quốc hội phía nam.
Mời các bạn đến đông đủ.

 

Đăng lại bài viết của Nguyễn Duy Đảo (đã đăng tại „Blog Bạn Trỗi”: Thứ tư, 26 tháng mười hai, 2007)





ừa đi lấy chú heo rừng (đã được làm sẵn đủ cả ruột, gan, lòng, phèo và tiết, loại này mà tiết canh thì cứ gọi là tuyệt, Bố rừng thứ thiệt, mẹ F1) giao cho nhà hàng "ruột" của Tuấn "N". Để làm cơm chiều nay. Với hai lý do: Mời bạn Thanh Chung -cán bộ TW vào công tác. Thứ hai là kỷ niệm 35 năm ngày chiến thắng Điện Biên Phủ trên không.

Chiều hôm trước theo đề nghị của Tuấn "N". Tối qua tôi tức tốc điều thằng em ruột cũng dân Hải Quan lính cũ của Tuấn, lái xe một mạch chạy lên trang trại trên Bình Phước trói nghiến một con, cho thợ làm sẵn và sáng nay 4h30 phóng về, thịt vẫn còn nóng.
Vừa về đến nhà thì thấy tin nhắn của Hà Mèo, Hắn nói mở Blog của k4 và k6 có bài viết của hắn. Dạo này viết lách dữ dội quá chắc đươc mấy "Nhời"động viên của bác HT nên cố gắng chăng, hay là vì thấy anh em k6 ta "Sống nội tâm" quá nên hắn phải cố. Đùa vậy thôi chứ mình khoái bài: "Troicky Kharactrer" cua ong lắm. cố gắng lên nhé. Đọc bài của Bác Chí Quang mà hãi, ngần ấy tuổi mà dám leo lên " Giời " lao xuống đất, thật chỉ có mấy Ông Trỗi mới dám liều thế. Nói thật với các bác chứ em cái khoản nhìn lên thì cao mấy em cũng không sợ nhưng nhìn xuống thì em hãi lắm, lên cao khoảng 3-4 mét nhìn xuống là em đã thấy chóng mặt, tiền đình em yếu, nên số em nó cứ nghèo mãi chẳng bao giờ có nhà lầu mà leo, thật vậy đấy các bác ạ.
Đọc bài trên Blog của mình em thấy vui và bổ ích, nhiều lĩnh vực ra phết, thích nhất là cái hài của dân trương ta. Thật nếu không có bác HT thì buồn chết, nhờ ăn theo công nghệ mới mà anh em mình giao lưu được với nhau nhanh và tiện lợi.

Qua đây cũng muốn báo tin cho các bạn k6 (Trong Nam cũng như ngoài Bắc là anh em phía nam tối 30 sẽ họp mặt tất niên và kỷ niêm 22/12 luôn một thể.
Theo dự kiến của Nam Điện, địa điểm tại nhà hàng "Bia Đức", trên đường Hoàng Văn Thụ, bên cạnh văn phòng quốc hội phía nam.
Mời các bạn đến đông đủ.

 

Đăng lại bài viết của Nguyễn Duy Đảo (đã đăng tại „Blog Bạn Trỗi”: Thứ tư, 26 tháng mười hai, 2007)

Nhân đọc bài" Thượng Hải ký sự" - Nguyễn Duy Đảo




Sáng qua tôi và các bạn khóa 6 đi viếng mẹ Vũ Hưng ở nhà tang lễ bệnh viện Thống nhất. Lúc về còn lại mấy đứa: Tôi, Tô Tâm, Hà Thành, Huỳnh Hồng. Tô Tâm đề nghị: " Sắp trưa rồi mà cũng đã lâu bọn mình chưa có dịp nào ăn với nhau, chỉ toàn uống không à, hôm nay phải ăn với nhau một bữa cho đúng nghĩa". Thế là chúng tôi kéo nhau về "Hà nội quán". Vừa ngồi ấm chỗ thì thấy nhóm của hải quan sân bay cũng vừa đi viếng đám tang mẹ Hưng kéo tới, không hẹn mà gặp thế là chúng tôi tụ lại với nhau. Khoảng hơn chục phút sau thằng nọ gọi thằng kia cuối cùng quân số tăng lên dễ tới hơn hai chục mạng. Thế là ý đồ ăn cơm trưa bị hủy bỏ và trở lại với thực đơn quen thuộc " Uống cho mát ". Ngồi cạnh tôi là Tô Tâm, kế đó là Ba Dũng- phó hải quan cửa khẩu TSN, cạnh Dũng là một thằng cha lúc hắn mới vào tôi thấy quen quen, người nhỏ, trông có vẻ phong trần, trán cao, chắc có lẽ cái khoản kia khỏe quá lên bị vợ đẩy ra nhiều đâm ra tóc bị trụi chứ không hẳn là hói, Tâm giải thích cho tôi như thế. Tôi hỏi Tâm: Mình thấy thằng em này quen quen (vì chơi với Huỳnh Cúc em Huỳnh Hồng) nhưng sao trông hắn có vẻ già trước tuổi. Mải nói chuyện Tâm không nghe thấy thắc mắc của tôi, thành thử tôi cứ lấn cấn. Khi đã uống được một vài cốc tôi mới mạnh dạn hỏi hắn : Xin lỗi tên ông là gì? Hắn trả lời : Tôi tên là Tuấn hiệu là Tuấn On. Trời ạ Huỳnh tuấn con cụ Huỳnh Tấn Phát mà mình nhận không ra, ngày trước hắn học ở Nguyễn Văn Bé quậy một cây. Tôi thắc mắc " Ông sinh năm nào nhỉ? Tôi sinh năm 1952. Chết mẹ rồi tôi nghĩ bụng, hắn hơn mình đến hai tuổi thế mà lúc đầu mình cứ anh em ngọt xớt. Thấy tôi có vẻ băn khoăn, hắn giải thích: " Gia đình tôi thì các ông biết rồi các cụ rất trân trọng cái sự học, nên con cái đúng tuổi đều phải cắp sách đến trường, nhưng con đường học hành của tôi không được suôn sẻ vì mải chơi hơn học nên tôi bị " Nhuận " mất hai năm. Tôi nhẩm tính hai năm "Nhuận" của hắn là đi đứt 4 năm học rồi còn chó gì nữa, chả trách hắn học đồng lứa với khóa 8 trường ta là phải. Lúc hắn nói: " tôi bị nhuận mất mấy năm", tôi cứ bò lăn ra cười, sao hắn dùng từ "đắt" và "văn chương" thế nhỉ. Tôi hỏi lại Tô Tâm thì Tâm nói: " Đấy là câu của tôi nói về nó chứ không phải nó sáng tác ra". Thế mới biết dân trường Trỗi ta anh em nào cũng tiềm ẩn tố chất văn chương và máu hài hước, chỉ có điều chưa phát lộ hoặc chưa được khai quật đúng mức mà thôi. Còn nhiều chuyện về thằng cha Tuấn On này lắm để Hà Thành có dịp kể cho các bạn nghe. Chúng tôi ngồi đến 5 giờ chiều thì giải tán, bắt tay tạm biệt chúc sức khỏe và hẹn ngày tái ngộ.

cầu treo nổi tiếng Nảnpu Dazhiu (Nam Phố Đại Kiều) dài hơn 8.000m, xây từ năm 1988 đến 1991 thì xong. Chi phí hết 3.000 vạn tệ.Sáng nay tới cơ quan theo thói quen tôi " Lắc chuột", nối mạng, nhấp Favorites vào " Bán Trời " ngay. Đập vào mắt đầu tiên là bài " Ký sự Thượng Hải ký sự ngày cuối năm" của anh Kiến quốc. Quái lạ ông anh mình cứ như ngoại trưởng Mỹ ấy, lúc xuôi nam, khi ngược bắc như con thoi. Không biết ông anh kiếm đâu ra mà lắm sức lực đến thế. Tôi còn nhớ khi tôi học lớp sáu, trong một lần cả trường tập trung về "Gốc đa hiệu bộ" để xem phim. Trước buổi chiếu nhà trường tranh thủ thông báo tình hình học tập của các khóa và tuyên dương những học sinh giỏi trong danh sách nổi bật nhất là tấm gương của học sinh khóa 5 Trần Kiến Quốc. Sau này đọc SRTKL mới biết danh sách đội học sinh giỏi trường ta đi thi học sinh giỏi toàn miền Bắc tôi mới biết tới A.Nguyễn Thiện Nhân.... Chứ còn trước đó ngoại trừ khóa tôi, trong trường tôi chỉ biết có mỗi Trần Kiến Quốc là có thương hiệu HSG toàn trường mà thôi. Sau này khi lớn lên và là học trò của anh tôi còn biết thêm một Kiến Quốc đa tài: Hài hước, âm nhạc, hội họa, thể thao. Như MC, hoạt náo viên, và "ngoại giao nhân dân" thì đúng là "gien" mà bây giờ anh mới có điều kiện "phát lộ". Tôi đã được nghe nhiều lời khen từ các bạn trường học sinh miền nam. Trước tiên là cuốn sách - Sinh ra trong khói lửa. Sau đó là Blog của trường ta và blog của riêng từng khóa. Họ nhận xét dân Trỗi bài bản thật đúng là "sỹ phu bắc kỳ" điều mà họ cũng muốn mà chưa làm được, không phải vì họ không có khả năng làm mà vì điều gì đó. Thiếu một người như KQ chăng? Đọc Thượng Hải ký sự tôi thấy một bài viết rất "Chuyên nghiệp" rất hay và là món ngon và mới. Nhiều lúc tôi cứ trộm nghĩ nếu không có anh thì sao nhỉ? Còn với anh chắc anh chỉ nghĩ " Điều đó bình thường thôi" còn đối với tôi và có lẽ không riêng tôi "Điều đó ... ". Xin gửi tới anh lời cảm phục và biết ơn.


Gửi bởi Duy Dao lúc 8:43 SA

Đăng lại bài viết của Nguyễn Duy Đảo (đã đăng tại „Blog Bạn Trỗi”: Thứ năm, 20 tháng mười hai, 2007)




Sáng qua tôi và các bạn khóa 6 đi viếng mẹ Vũ Hưng ở nhà tang lễ bệnh viện Thống nhất. Lúc về còn lại mấy đứa: Tôi, Tô Tâm, Hà Thành, Huỳnh Hồng. Tô Tâm đề nghị: " Sắp trưa rồi mà cũng đã lâu bọn mình chưa có dịp nào ăn với nhau, chỉ toàn uống không à, hôm nay phải ăn với nhau một bữa cho đúng nghĩa". Thế là chúng tôi kéo nhau về "Hà nội quán". Vừa ngồi ấm chỗ thì thấy nhóm của hải quan sân bay cũng vừa đi viếng đám tang mẹ Hưng kéo tới, không hẹn mà gặp thế là chúng tôi tụ lại với nhau. Khoảng hơn chục phút sau thằng nọ gọi thằng kia cuối cùng quân số tăng lên dễ tới hơn hai chục mạng. Thế là ý đồ ăn cơm trưa bị hủy bỏ và trở lại với thực đơn quen thuộc " Uống cho mát ". Ngồi cạnh tôi là Tô Tâm, kế đó là Ba Dũng- phó hải quan cửa khẩu TSN, cạnh Dũng là một thằng cha lúc hắn mới vào tôi thấy quen quen, người nhỏ, trông có vẻ phong trần, trán cao, chắc có lẽ cái khoản kia khỏe quá lên bị vợ đẩy ra nhiều đâm ra tóc bị trụi chứ không hẳn là hói, Tâm giải thích cho tôi như thế. Tôi hỏi Tâm: Mình thấy thằng em này quen quen (vì chơi với Huỳnh Cúc em Huỳnh Hồng) nhưng sao trông hắn có vẻ già trước tuổi. Mải nói chuyện Tâm không nghe thấy thắc mắc của tôi, thành thử tôi cứ lấn cấn. Khi đã uống được một vài cốc tôi mới mạnh dạn hỏi hắn : Xin lỗi tên ông là gì? Hắn trả lời : Tôi tên là Tuấn hiệu là Tuấn On. Trời ạ Huỳnh tuấn con cụ Huỳnh Tấn Phát mà mình nhận không ra, ngày trước hắn học ở Nguyễn Văn Bé quậy một cây. Tôi thắc mắc " Ông sinh năm nào nhỉ? Tôi sinh năm 1952. Chết mẹ rồi tôi nghĩ bụng, hắn hơn mình đến hai tuổi thế mà lúc đầu mình cứ anh em ngọt xớt. Thấy tôi có vẻ băn khoăn, hắn giải thích: " Gia đình tôi thì các ông biết rồi các cụ rất trân trọng cái sự học, nên con cái đúng tuổi đều phải cắp sách đến trường, nhưng con đường học hành của tôi không được suôn sẻ vì mải chơi hơn học nên tôi bị " Nhuận " mất hai năm. Tôi nhẩm tính hai năm "Nhuận" của hắn là đi đứt 4 năm học rồi còn chó gì nữa, chả trách hắn học đồng lứa với khóa 8 trường ta là phải. Lúc hắn nói: " tôi bị nhuận mất mấy năm", tôi cứ bò lăn ra cười, sao hắn dùng từ "đắt" và "văn chương" thế nhỉ. Tôi hỏi lại Tô Tâm thì Tâm nói: " Đấy là câu của tôi nói về nó chứ không phải nó sáng tác ra". Thế mới biết dân trường Trỗi ta anh em nào cũng tiềm ẩn tố chất văn chương và máu hài hước, chỉ có điều chưa phát lộ hoặc chưa được khai quật đúng mức mà thôi. Còn nhiều chuyện về thằng cha Tuấn On này lắm để Hà Thành có dịp kể cho các bạn nghe. Chúng tôi ngồi đến 5 giờ chiều thì giải tán, bắt tay tạm biệt chúc sức khỏe và hẹn ngày tái ngộ.

cầu treo nổi tiếng Nảnpu Dazhiu (Nam Phố Đại Kiều) dài hơn 8.000m, xây từ năm 1988 đến 1991 thì xong. Chi phí hết 3.000 vạn tệ.Sáng nay tới cơ quan theo thói quen tôi " Lắc chuột", nối mạng, nhấp Favorites vào " Bán Trời " ngay. Đập vào mắt đầu tiên là bài " Ký sự Thượng Hải ký sự ngày cuối năm" của anh Kiến quốc. Quái lạ ông anh mình cứ như ngoại trưởng Mỹ ấy, lúc xuôi nam, khi ngược bắc như con thoi. Không biết ông anh kiếm đâu ra mà lắm sức lực đến thế. Tôi còn nhớ khi tôi học lớp sáu, trong một lần cả trường tập trung về "Gốc đa hiệu bộ" để xem phim. Trước buổi chiếu nhà trường tranh thủ thông báo tình hình học tập của các khóa và tuyên dương những học sinh giỏi trong danh sách nổi bật nhất là tấm gương của học sinh khóa 5 Trần Kiến Quốc. Sau này đọc SRTKL mới biết danh sách đội học sinh giỏi trường ta đi thi học sinh giỏi toàn miền Bắc tôi mới biết tới A.Nguyễn Thiện Nhân.... Chứ còn trước đó ngoại trừ khóa tôi, trong trường tôi chỉ biết có mỗi Trần Kiến Quốc là có thương hiệu HSG toàn trường mà thôi. Sau này khi lớn lên và là học trò của anh tôi còn biết thêm một Kiến Quốc đa tài: Hài hước, âm nhạc, hội họa, thể thao. Như MC, hoạt náo viên, và "ngoại giao nhân dân" thì đúng là "gien" mà bây giờ anh mới có điều kiện "phát lộ". Tôi đã được nghe nhiều lời khen từ các bạn trường học sinh miền nam. Trước tiên là cuốn sách - Sinh ra trong khói lửa. Sau đó là Blog của trường ta và blog của riêng từng khóa. Họ nhận xét dân Trỗi bài bản thật đúng là "sỹ phu bắc kỳ" điều mà họ cũng muốn mà chưa làm được, không phải vì họ không có khả năng làm mà vì điều gì đó. Thiếu một người như KQ chăng? Đọc Thượng Hải ký sự tôi thấy một bài viết rất "Chuyên nghiệp" rất hay và là món ngon và mới. Nhiều lúc tôi cứ trộm nghĩ nếu không có anh thì sao nhỉ? Còn với anh chắc anh chỉ nghĩ " Điều đó bình thường thôi" còn đối với tôi và có lẽ không riêng tôi "Điều đó ... ". Xin gửi tới anh lời cảm phục và biết ơn.


Gửi bởi Duy Dao lúc 8:43 SA

Đăng lại bài viết của Nguyễn Duy Đảo (đã đăng tại „Blog Bạn Trỗi”: Thứ năm, 20 tháng mười hai, 2007)

Hình ảnh bên lề - hameok6




HMK6 Xin gửi tới anh em một vài hình ảnh “bên lề” chuyến đi Quế Lâm tháng 10 vừa rồi. Đây là những hình ảnh thể hiện rõ ràng lính Trỗi dù đã O 50 (over = trên) nhưng vẫn không quên mình đã từng là học trò.


Chuyến xe vui vẻ - người nói, kẻ cười, thậm chí còn huýt sáo
(không biết phản đối hay hoan nghênh).

QL8-7P1040036-1a
Vỉa hè luôn luôn là nơi yêu thích hơn phòng họp.


Đây mới là chỗ của chúng ta, chứ đâu có muốn làm “thượng khách”.


Tham gia làm hàng rào danh dự đón khách.


Vì chụp hình thì không thể theo hàng lối được chớ không phải là muốn mất trật tư.


“Truyền thống” trốn họp - Tấm hình được chụp khi các Lãnh đạo đang trang trọng phát biểu trong lễ Kỷ niệm 70 năm thành lập trường Y Trung.

QL8-2DSCN1495-1+copy
Thấy lấy được là lấy - Mỗi người hái 1 cành hoa quế, thì cây nào mà sống nổi.


Về chốn cũ ôn lại chuyện xưa chứ không làm gì bậy đâu –
Hình chụp khi đi thăm Y Trung.

  


Gửi bởi hameok6 lúc 16:44

Đăng lại bài viết của Hà Mèo (đã đăng tại „Blog Bạn Trỗi”: Thứ ba, ngày 25 tháng mười hai năm 2007)




HMK6 Xin gửi tới anh em một vài hình ảnh “bên lề” chuyến đi Quế Lâm tháng 10 vừa rồi. Đây là những hình ảnh thể hiện rõ ràng lính Trỗi dù đã O 50 (over = trên) nhưng vẫn không quên mình đã từng là học trò.


Chuyến xe vui vẻ - người nói, kẻ cười, thậm chí còn huýt sáo
(không biết phản đối hay hoan nghênh).

QL8-7P1040036-1a
Vỉa hè luôn luôn là nơi yêu thích hơn phòng họp.


Đây mới là chỗ của chúng ta, chứ đâu có muốn làm “thượng khách”.


Tham gia làm hàng rào danh dự đón khách.


Vì chụp hình thì không thể theo hàng lối được chớ không phải là muốn mất trật tư.


“Truyền thống” trốn họp - Tấm hình được chụp khi các Lãnh đạo đang trang trọng phát biểu trong lễ Kỷ niệm 70 năm thành lập trường Y Trung.

QL8-2DSCN1495-1+copy
Thấy lấy được là lấy - Mỗi người hái 1 cành hoa quế, thì cây nào mà sống nổi.


Về chốn cũ ôn lại chuyện xưa chứ không làm gì bậy đâu –
Hình chụp khi đi thăm Y Trung.

  


Gửi bởi hameok6 lúc 16:44

Đăng lại bài viết của Hà Mèo (đã đăng tại „Blog Bạn Trỗi”: Thứ ba, ngày 25 tháng mười hai năm 2007)

Một số hình ảnh nơi xưa - hameok6




Rất nhiều hình Quế Lâm đã được anh em đưa lên blog, song tôi vẫn xin đưa lên đây một số hình ảnh theo tôi là đặc trưng để các anh em không đi chuyến vừa rồi có thể tưởng tượng ra Quế Lâm ngày nay.

1/Ga Quế Lâm - nơi chúng ta đã được lực lượng Hồng Vệ binh đón tiếp - ngày nay đã khang trang và lớn hơn nhiều

QL1-P1040042b


2/ Bách hóa Đại lầu đã được xây dựng lại huy hoàng hơn, nhưng không phải là lớn nhất Quế Lâm ngày nay.

QL2-PA250042a


3/ Con đường ngày nay từ ga dẫn đến Đại lầu – nơi mà ngày xưa một số anh em đã từng trốn trường đi xem Hồng Vệ binh ngồi trên xe Giải Phóng cầm AK chạy dọc con đường này.

QL3-P1040107a


4/ Núi Tầu chiến đã bị “tách” đầu ra, trông giống con lạc đà nhiều hơn. Phía trước là nơi từng có ruộng dưa leo, bí đỏ… mà chúng ta vẫn thường “thăm viếng”.

Hình Y Trung, Quế Lâm 10/2007 - P1040060


5/ Bãi cỏ này là sân bóng đá ở Y Trung trước kia.

QL5-P1040051a


6/ Phía sau sân bóng Y Trung, trước kia là đồi thông cho “bồ Tây” và “bồ Ta” luyện tập thì nay là các dãy phố hiện đại.

QL6-DSCF4742a


7/ Sân bóng rổ vẫn còn nguyên, nhưng khu tập xà và thể dục dụng cụ không còn nữa.

QL7-DSCN1484a


8/ Bàn bóng bàn xi-măng cho lính Trỗi luyện tập vẫn còn đó (nhưng đặt ở vị trí khác rồi).

Hình Y Trung, Quế Lâm 10/2007 - P1040055


9/ Bến sông Ly sau trường Y Trung (gần nhà ăn) – nơi chúng ta vẫn tắm nay là như vậy. Cây cầu này được xây cách bến tắm trường ta khoảng 30 m, đúng chỗ các Công xã viên vẫn thường gánh phân lội qua theo hàng, vừa đi vừa hát, lâu lâu nhúng đáy thùng xuống cho sạch. Các anh em còn nhớ chứ.

Bến sông Ly sau trường Y Trung (gần nhà ăn) – nơi chúng ta vẫn tắm nay là như vậy. Cây cầu này được xây cách bến tắm trường ta khoảng 30 m, đúng chỗ các Công xã viên vẫn thường gánh phân lội qua theo hàng, vừa đi vừa hát, lâu lâu nhúng đáy thùng xuống cho sạch. Các anh em còn nhớ chứ.


Gửi bởi hameok6 lúc 5:49 CH

Đăng lại bài viết của Hà Mèo (đã đăng tại „Blog Bạn Trỗi”: Thứ ba, 25 tháng mười hai, 2007)




Rất nhiều hình Quế Lâm đã được anh em đưa lên blog, song tôi vẫn xin đưa lên đây một số hình ảnh theo tôi là đặc trưng để các anh em không đi chuyến vừa rồi có thể tưởng tượng ra Quế Lâm ngày nay.

1/Ga Quế Lâm - nơi chúng ta đã được lực lượng Hồng Vệ binh đón tiếp - ngày nay đã khang trang và lớn hơn nhiều

QL1-P1040042b


2/ Bách hóa Đại lầu đã được xây dựng lại huy hoàng hơn, nhưng không phải là lớn nhất Quế Lâm ngày nay.

QL2-PA250042a


3/ Con đường ngày nay từ ga dẫn đến Đại lầu – nơi mà ngày xưa một số anh em đã từng trốn trường đi xem Hồng Vệ binh ngồi trên xe Giải Phóng cầm AK chạy dọc con đường này.

QL3-P1040107a


4/ Núi Tầu chiến đã bị “tách” đầu ra, trông giống con lạc đà nhiều hơn. Phía trước là nơi từng có ruộng dưa leo, bí đỏ… mà chúng ta vẫn thường “thăm viếng”.

Hình Y Trung, Quế Lâm 10/2007 - P1040060


5/ Bãi cỏ này là sân bóng đá ở Y Trung trước kia.

QL5-P1040051a


6/ Phía sau sân bóng Y Trung, trước kia là đồi thông cho “bồ Tây” và “bồ Ta” luyện tập thì nay là các dãy phố hiện đại.

QL6-DSCF4742a


7/ Sân bóng rổ vẫn còn nguyên, nhưng khu tập xà và thể dục dụng cụ không còn nữa.

QL7-DSCN1484a


8/ Bàn bóng bàn xi-măng cho lính Trỗi luyện tập vẫn còn đó (nhưng đặt ở vị trí khác rồi).

Hình Y Trung, Quế Lâm 10/2007 - P1040055


9/ Bến sông Ly sau trường Y Trung (gần nhà ăn) – nơi chúng ta vẫn tắm nay là như vậy. Cây cầu này được xây cách bến tắm trường ta khoảng 30 m, đúng chỗ các Công xã viên vẫn thường gánh phân lội qua theo hàng, vừa đi vừa hát, lâu lâu nhúng đáy thùng xuống cho sạch. Các anh em còn nhớ chứ.

Bến sông Ly sau trường Y Trung (gần nhà ăn) – nơi chúng ta vẫn tắm nay là như vậy. Cây cầu này được xây cách bến tắm trường ta khoảng 30 m, đúng chỗ các Công xã viên vẫn thường gánh phân lội qua theo hàng, vừa đi vừa hát, lâu lâu nhúng đáy thùng xuống cho sạch. Các anh em còn nhớ chứ.


Gửi bởi hameok6 lúc 5:49 CH

Đăng lại bài viết của Hà Mèo (đã đăng tại „Blog Bạn Trỗi”: Thứ ba, 25 tháng mười hai, 2007)