Thứ Sáu, 13 tháng 3, 2015

Nhớ thầy Văn



Hôm nay đi viếng thầy Văn, tôi mới nhớ đến chuyện xưa.
Hồi ở trường Trỗi, tuy chưa bao giờ trực tiếp học thầy, nhưng tôi rất ngưỡng mộ thầy. Thầy có tướng cao to, đẹp trai, chơi đàn mangdolin, thỉnh thoảng còn hát những bài thời kháng chiến rất tình cảm. Thầy đá bóng hay (ít nhất là tôi nghĩ như vậy) và chắc là giỏi võ (chẳng hiểu sao, lúc bấy giờ tôi cứ nghĩ mấy thầy tập kết từ Nam bộ ra như thầy Văn, thầy Hô, thầy Điền, thầy Phong … thì đương nhiền đều giỏi võ cả!).


Thầy Văn (trái) ở Y Trung


Sau khi trường giải tán, bẵng đi suốt 20 năm cho tới 1991, tôi mới gặp lại thầy trong dịp họp mặt trường phía nam ở KS Quân đội đường Hoàng Văn Thụ. Lúc đó, tôi mới nghe Tâm heo hỏi thăm địa chỉ nhà thầy ở Sai gon ở đâu. Hồi đó thầy vẫn còn ở Phan Kế Bính, trong cái hẻm nhỏ.

Tới ngày 20/11 năm đó, tôi nói với vợ: Hôm nay anh phải đi thăm thầy anh
– Hồi đó đến giờ, chẳng nghe anh nói đến thầy cô gì hết. Sao bữa nay lại đi thăm thầy nào?
- Ừ, lâu lắm rồi mới tìm được địa chỉ thầy hồi trường Trỗi.

Tối đó, theo địa chỉ, tôi lần đến nhà thầy. Hôm đó mất điện, cả xóm tối um, trong nhà thầy có le lói ánh đèn dầu. Tôi đập cửa kêu: Thầy Văn ơi! Thầy Văn ơi! Trong bóng tối có người hé qua khe cửa nói: Hôm nay cô đi dự 20/11 rồi, không còn ai ở nhà đâu
– Dạ không, con đến thăm thầy mà.
– Cậu là ai mà kêu tôi là thầy?
– Dạ, con là học sinh trường Trỗi hồi đó của thầy đây
- Ủa, ủa …
Thầy mở cửa kêu tôi vô. Nhà vắng hoe, không có ai. Thầy nói: lâu lắm mới có người tới kêu tôi là thầy. Thầy thắp cây đèn cầy, rồi 2 thầy trò ra ngồi ngoài hàng hiên cho mát. Thầy trò tâm sự, nhắc lại chuyện xưa. Chuyện trường Trỗi, chuyện sau trường Trỗi, đủ thứ chuyện trên đời. Thì ra sau khi rời trường Trỗi, thầy vẫn tiếp tục dậy tiếng Nga cho bộ đội và sau này có lúc còn làm phiên dịch cho chuyên gia Liên Xô, nhưng chẳng ai tới thăm thầy mà nhất là ngày 20/11 càng không phải ngày của thầy mà chỉ là ngày của cô (cô cũng là giáo viên suốt mấy chục năm). Rồi thầy mang ra chai rượu Votka: Ở nhà không có gì. Thôi còn chút rượu bữa trước uống dở, uống bậy vài ky với tao cho vui mầy (Thầy chuyển qua gọi mày tao thân thiết đúng giọng các Ông già Nam bộ kêu con cháu). Hai thầy trò ngồi tới khuya.


Thầy, cô năm 2009


Sau này, gặp thầy nhiều thấy thầy vui, nhưng sức khỏe ngày theo ngày một xấu đi. Nghe cô nói lại: Thời gian cuối, thầy đã rất yếu, nhưng sáng nào thầy cũng nói cô giúp thầy ăn bận đàng hoàng rồi dìu ra ngồi tại bàn, mở cuốn “Sinh ra trong khói lửa” đặt trước mặt. Thầy mệt, chỉ đọc một tí là ngủ, nhưng nếu cất sách đi là thầy không chịu. Lại mang sách ra ngồi đọc rồi nghĩ, rồi ngủ, rồi đọc…. Với thầy chỉ còn mỗi trường Trỗi mà thôi.

Vậy mà thầy đã ra đi. Một người thầy hào hoa, tình nghĩa. Thầy của trường Trỗi. Cầu mong thầy ra đi thanh thản, phù hộ cho gia đình, con cháu và thầy trò trường mình.

Một nén nhang nhớ thầy!


 ❧ ❀ ❧ 









Xem:
  1. TIN BUỒN: Thầy Văn mất - Trung Liêm, 12/03/2015, Blog K4.
  2. K4 viếng thầy Văn - HữuThành.Nguyễn, 14/03/2015, Blog K4.
  3. Vĩnh biệt thầy Hoàng Văn - TranKienQuoc, 14/03/2015, Blog K5.


Hôm nay đi viếng thầy Văn, tôi mới nhớ đến chuyện xưa.
Hồi ở trường Trỗi, tuy chưa bao giờ trực tiếp học thầy, nhưng tôi rất ngưỡng mộ thầy. Thầy có tướng cao to, đẹp trai, chơi đàn mangdolin, thỉnh thoảng còn hát những bài thời kháng chiến rất tình cảm. Thầy đá bóng hay (ít nhất là tôi nghĩ như vậy) và chắc là giỏi võ (chẳng hiểu sao, lúc bấy giờ tôi cứ nghĩ mấy thầy tập kết từ Nam bộ ra như thầy Văn, thầy Hô, thầy Điền, thầy Phong … thì đương nhiền đều giỏi võ cả!).


Thầy Văn (trái) ở Y Trung


Sau khi trường giải tán, bẵng đi suốt 20 năm cho tới 1991, tôi mới gặp lại thầy trong dịp họp mặt trường phía nam ở KS Quân đội đường Hoàng Văn Thụ. Lúc đó, tôi mới nghe Tâm heo hỏi thăm địa chỉ nhà thầy ở Sai gon ở đâu. Hồi đó thầy vẫn còn ở Phan Kế Bính, trong cái hẻm nhỏ.

Tới ngày 20/11 năm đó, tôi nói với vợ: Hôm nay anh phải đi thăm thầy anh
– Hồi đó đến giờ, chẳng nghe anh nói đến thầy cô gì hết. Sao bữa nay lại đi thăm thầy nào?
- Ừ, lâu lắm rồi mới tìm được địa chỉ thầy hồi trường Trỗi.

Tối đó, theo địa chỉ, tôi lần đến nhà thầy. Hôm đó mất điện, cả xóm tối um, trong nhà thầy có le lói ánh đèn dầu. Tôi đập cửa kêu: Thầy Văn ơi! Thầy Văn ơi! Trong bóng tối có người hé qua khe cửa nói: Hôm nay cô đi dự 20/11 rồi, không còn ai ở nhà đâu
– Dạ không, con đến thăm thầy mà.
– Cậu là ai mà kêu tôi là thầy?
– Dạ, con là học sinh trường Trỗi hồi đó của thầy đây
- Ủa, ủa …
Thầy mở cửa kêu tôi vô. Nhà vắng hoe, không có ai. Thầy nói: lâu lắm mới có người tới kêu tôi là thầy. Thầy thắp cây đèn cầy, rồi 2 thầy trò ra ngồi ngoài hàng hiên cho mát. Thầy trò tâm sự, nhắc lại chuyện xưa. Chuyện trường Trỗi, chuyện sau trường Trỗi, đủ thứ chuyện trên đời. Thì ra sau khi rời trường Trỗi, thầy vẫn tiếp tục dậy tiếng Nga cho bộ đội và sau này có lúc còn làm phiên dịch cho chuyên gia Liên Xô, nhưng chẳng ai tới thăm thầy mà nhất là ngày 20/11 càng không phải ngày của thầy mà chỉ là ngày của cô (cô cũng là giáo viên suốt mấy chục năm). Rồi thầy mang ra chai rượu Votka: Ở nhà không có gì. Thôi còn chút rượu bữa trước uống dở, uống bậy vài ky với tao cho vui mầy (Thầy chuyển qua gọi mày tao thân thiết đúng giọng các Ông già Nam bộ kêu con cháu). Hai thầy trò ngồi tới khuya.


Thầy, cô năm 2009


Sau này, gặp thầy nhiều thấy thầy vui, nhưng sức khỏe ngày theo ngày một xấu đi. Nghe cô nói lại: Thời gian cuối, thầy đã rất yếu, nhưng sáng nào thầy cũng nói cô giúp thầy ăn bận đàng hoàng rồi dìu ra ngồi tại bàn, mở cuốn “Sinh ra trong khói lửa” đặt trước mặt. Thầy mệt, chỉ đọc một tí là ngủ, nhưng nếu cất sách đi là thầy không chịu. Lại mang sách ra ngồi đọc rồi nghĩ, rồi ngủ, rồi đọc…. Với thầy chỉ còn mỗi trường Trỗi mà thôi.

Vậy mà thầy đã ra đi. Một người thầy hào hoa, tình nghĩa. Thầy của trường Trỗi. Cầu mong thầy ra đi thanh thản, phù hộ cho gia đình, con cháu và thầy trò trường mình.

Một nén nhang nhớ thầy!


 ❧ ❀ ❧ 









Xem:
  1. TIN BUỒN: Thầy Văn mất - Trung Liêm, 12/03/2015, Blog K4.
  2. K4 viếng thầy Văn - HữuThành.Nguyễn, 14/03/2015, Blog K4.
  3. Vĩnh biệt thầy Hoàng Văn - TranKienQuoc, 14/03/2015, Blog K5.

Thứ Ba, 10 tháng 3, 2015

Nước Mỹ từ Tây sang Đông (2)



Garage sale. Chữ này được hiểu nôm na là “bán đồ cũ”. Trên các cột điện, cột đèn... dọc các con đường chính thường bắt gặp những tờ giấy ghi dòng chữ “garage sale”, “estate sele” hoặc “yard sale”,... và ghi địa chỉ cẩn thận. Tìm hiểu garage sale là một trải nghiệm văn hóa ở xứ này. Và chỉ có cách này mới được tận mắt xem người Mỹ - những người giàu có - sống thế nào.

Tại đây bày bán nhiều đồ dùng gia đình còn khá mới. Người bán có thể chính là chủ nhà hoặc một công ty thay chủ nhà chịu trách nhiệm


Garage sale. Chữ này được hiểu nôm na là “bán đồ cũ”. Trên các cột điện, cột đèn... dọc các con đường chính thường bắt gặp những tờ giấy ghi dòng chữ “garage sale”, “estate sele” hoặc “yard sale”,... và ghi địa chỉ cẩn thận. Tìm hiểu garage sale là một trải nghiệm văn hóa ở xứ này. Và chỉ có cách này mới được tận mắt xem người Mỹ - những người giàu có - sống thế nào.

Tại đây bày bán nhiều đồ dùng gia đình còn khá mới. Người bán có thể chính là chủ nhà hoặc một công ty thay chủ nhà chịu trách nhiệm

Thứ Sáu, 6 tháng 3, 2015

THỰC TẠI VÀ HOANG ĐƯỜNG 42/a



THỰC TẠI VÀ HOANG ĐƯỜNG (V)




PHẦN V:     THỐNG NHẤT

“Chính qua cuộc đấu tranh nhằm thống nhất một cách hợp lý cái đa dạng mà đã đạt được những thành công lớn nhất, dù rằng chính ý đồ đó có thể gây ra những nguy cơ lớn nhất để trở thành con mồi của ảo vọng”.
A. Anhxtanh

“Người nhìn thấy cái đa dạng mà không thấy cái đồng nhất thì cứ trôi lăn trong cõi chết”.
Upanishad

CHƯƠNG II: KINH ĐIỂN

“Cứu cánh của khoa học tư biện là chân lý, trong khi, cứu cánh của khoa học thực tiễn là hành động”.
Thomas Aquinas (dẫn)

Có thể qui ước nghiên cứu có tính chất vật lý học từ thời Keple trở về trước là thời kỳ tiền vật lý. Trong thời kỳ tiền vật lý thì, nghiên cứu thiên văn là mang tính vật lý rõ nét nhất, nổi trội nhất. Đặc điểm của nghiên cứu thiên văn thời tiền vật lý là rút ra các kết quả từ sự quan sát rời rạc, đơn thuần rồi tính toán dựa trên kiến thức hình học Ơclít thuần túy (phi thời gian tính) để xác định vị trí của các thiên thể cũng như hình dạng quĩ đạo của chúng. Nói cách khác, vì chưa biết đến khái niệm khối lượng (một cách rõ ràng, chưa biết chú ý đến tầm quan trọng của thời gian, cho nên vật lý thiên văn thời đó có vẻ như là một bộ phận của hình học, và công trình quang học cũng như thiên văn học của Keple là bước đi hoàn thành của vật lý thiên văn nói riêng cũng như của vật lý học nói chung trong giai đoạn bước đầu của chúng.


THỰC TẠI VÀ HOANG ĐƯỜNG (V)




PHẦN V:     THỐNG NHẤT

“Chính qua cuộc đấu tranh nhằm thống nhất một cách hợp lý cái đa dạng mà đã đạt được những thành công lớn nhất, dù rằng chính ý đồ đó có thể gây ra những nguy cơ lớn nhất để trở thành con mồi của ảo vọng”.
A. Anhxtanh

“Người nhìn thấy cái đa dạng mà không thấy cái đồng nhất thì cứ trôi lăn trong cõi chết”.
Upanishad

CHƯƠNG II: KINH ĐIỂN

“Cứu cánh của khoa học tư biện là chân lý, trong khi, cứu cánh của khoa học thực tiễn là hành động”.
Thomas Aquinas (dẫn)

Có thể qui ước nghiên cứu có tính chất vật lý học từ thời Keple trở về trước là thời kỳ tiền vật lý. Trong thời kỳ tiền vật lý thì, nghiên cứu thiên văn là mang tính vật lý rõ nét nhất, nổi trội nhất. Đặc điểm của nghiên cứu thiên văn thời tiền vật lý là rút ra các kết quả từ sự quan sát rời rạc, đơn thuần rồi tính toán dựa trên kiến thức hình học Ơclít thuần túy (phi thời gian tính) để xác định vị trí của các thiên thể cũng như hình dạng quĩ đạo của chúng. Nói cách khác, vì chưa biết đến khái niệm khối lượng (một cách rõ ràng, chưa biết chú ý đến tầm quan trọng của thời gian, cho nên vật lý thiên văn thời đó có vẻ như là một bộ phận của hình học, và công trình quang học cũng như thiên văn học của Keple là bước đi hoàn thành của vật lý thiên văn nói riêng cũng như của vật lý học nói chung trong giai đoạn bước đầu của chúng.

Trồng cây lưu niệm tại Trại Cờ

Kỷ niệm 50 năm Trường Nguyễn Văn Trỗi (15/10/1965 - 15/10/2015)


Trồng cây lưu niệm tại Trại Cờ

Xem tại đây

Kỷ niệm 50 năm Trường Nguyễn Văn Trỗi (15/10/1965 - 15/10/2015)


Trồng cây lưu niệm tại Trại Cờ

Xem tại đây

Thứ Năm, 5 tháng 3, 2015

Cuộc hội ngộ giữa cựu tù Hỏa Lò với thế hệ con em


Cuộc hội ngộ giữa cựu tù Hỏa Lò với thế hệ con em




KTNT - Khi bắt tay làm phóng sự “Sự kiện Phú Riềng Đỏ cách đây 85 năm”, Đại tá - Đạo diễn Đoàn Hoài Trung (Kênh truyền hình QPVN) đã nhạy cảm nắm bắt được chân dung cụ Trần Tử Bình (Bí thư chi bộ làm nên sự kiện này) gắn liền với nhiều sự kiện trọng đại của lịch sử.

Đặc biệt, đúng tháng 3 năm nay, kỷ niệm 70 năm Cuộc vượt ngục Hỏa Lò mà cụ là “Trưởng Ban sinh hoạt” tù chính trị và tham gia tổ chức, giúp hơn 100 tù chính trị trở về với phong trào, trở thành những cán bộ chủ chốt trong Tổng khởi nghĩa 19/8/1945 ở Hà Nội và 10 tỉnh đồng bằng Bắc Bộ.

Vậy là ý tưởng cùng gia đình làm tiếp phóng sự “Cuộc đại vượt ngục Hỏa Lò” trong các đêm từ 11/3 đến 16/3/1945, được hình thành.
>> Bài 1: Vượt ngục Hỏa Lò: Chuyện bây giờ mới kể

Cuộc hội ngộ giữa cựu tù Hỏa Lò với thế hệ con em




KTNT - Khi bắt tay làm phóng sự “Sự kiện Phú Riềng Đỏ cách đây 85 năm”, Đại tá - Đạo diễn Đoàn Hoài Trung (Kênh truyền hình QPVN) đã nhạy cảm nắm bắt được chân dung cụ Trần Tử Bình (Bí thư chi bộ làm nên sự kiện này) gắn liền với nhiều sự kiện trọng đại của lịch sử.

Đặc biệt, đúng tháng 3 năm nay, kỷ niệm 70 năm Cuộc vượt ngục Hỏa Lò mà cụ là “Trưởng Ban sinh hoạt” tù chính trị và tham gia tổ chức, giúp hơn 100 tù chính trị trở về với phong trào, trở thành những cán bộ chủ chốt trong Tổng khởi nghĩa 19/8/1945 ở Hà Nội và 10 tỉnh đồng bằng Bắc Bộ.

Vậy là ý tưởng cùng gia đình làm tiếp phóng sự “Cuộc đại vượt ngục Hỏa Lò” trong các đêm từ 11/3 đến 16/3/1945, được hình thành.
>> Bài 1: Vượt ngục Hỏa Lò: Chuyện bây giờ mới kể

Tài... trốn học








Tài... trốn học

Thời kỳ Khoa Chế tạo máy sơ tán ở Cẩm Xuyên, chúng tôi được xếp ở trong nhà một ông bà nông dân. Hai ông bà có lẽ chừng ngoài 50 tuổi nhưng già đẫy, có một đàn con lít nhít.

Cả nhà đi vắng suốt ngày, thi thoảng ông hoặc bà mới tạt về nhà một lúc, xong lại đi ngay. Chỉ có cậu con út của ông bà là thường xuyên ở nhà hơn. Cu này răng sún, thỉnh thoảng trò chuyện chơi với chúng tôi. Có lần nó đi chơi về chạy tọt vào trong buồng chái, sau chạy ra miệng nhai tóp tép và lại chạy biến đi. Chúng tôi liền vào chái nhà thám thính thì thấy có cái nồi hông treo trên xà nhà vẫn còn lắc lư. Đây rồi, thọc tay vào khua khoắng thì ra trong đống bột mịn có mấy cái kẹo lạc. Thế là chia nhau mỗi thằng một cái. Ăn thế thôi, chứ chén hết thì lộ.


Làng Cẩm Xuyên nay


Chúng tôi cũng thỉnh thoảng “ngứa ngáy”… mồm nên cũng tí toáy của ông bà chủ nhà: khi thì củ khoai, khi thì nắm lạc. Chả là các thứ này họ thường xuyên để dưới gậm gường chúng tôi ngủ. Khoai thì mang ra bếp ăn tập thể của Khoa để nướng, lạc thì đút túi mang về Hà Nội… “làm quà” rồi liên hoan với nhau. Đêm đêm, chuột chạy rinh rích, chén khoai, chén lạc, chén thóc, … rồi thậm chí có hôm còn gặm cả ngón chân chúng tôi. Tuy vậy, chúng tôi cũng không để ông bà chủ thiệt thòi. Lê Ninh “lùn” có mang một lọ dưa chuột muối, loại xuất khẩu đóng lọ thủy tinh, có nhãn toàn tiếng Tây. Đến bữa tối mang ra để ăn tươi. Cả bọn nhá được một miếng thì bỏ vì chua loét mà lại có vị ung ủng. Sau này nghe nói là Tây nó thích ăn thế chứ không phải là dưa chuột hỏng. Không ăn được, bạn Phạm Phúc Trí lễ phép mang sang mâm ông bà chủ… kính biếu. Sáng sau, như thường lệ, các bạn Phạm Phúc Trí và Lê Ninh ghé qua bể nước của chủ nhà soi bóng để vuốt tóc, chải đầu làm dáng trước khi lên lớp thì thấy trong cái vại nước gạo cho lợn nổi lều phều mấy quả dưa chuột. Bà con nông dân chê, thậm chí cả lợn cũng chê chứ chả phải mấy anh học trò Hà Nội khảnh ăn.

Thời gian này, chúng tôi còn phải đào hầm trong nhà dân: lên Khoa vác mấy cây tre về lợp mái chữ A và đắp đất lên. Những hôm mới có hầm, hễ nghe tiếng máy bay là chúng tôi chạy ra hầm, nhưng hôm thì chạy ra chạy vào cũng ngại, nhất là đang ngon giấc, hôm thì chủ nhà đã chiếm hết chỗ. Thế là về sau nghe tiếng máy bay cũng mặc kệ, không ra hầm nữa. Có hôm nghe tiếng bom ì ùm, ông chủ nhà lăn từ trên gường xuống chui vào gậm gường miệng hô vợ con ra hầm mà chúng tôi vẫn nằm yên trên giường, không buồn động cựa.

Rồi vào năm học, chúng tôi lại tổ chức lớp học tập. Nhưng “chứng nào tật nấy”, “ngựa quen đường cũ”: tôi lại tìm cách… trốn học. Do “từng trải” và có nhiều kinh nghiệm hơn nên tuyệt đối không lộ được. Thời gian này tôi có chiếc xe đạp Sterling của cha tôi để lại khi đi B. Chiếc xe này, anh cả tôi cũng dùng một thời gian đi về từ Lạng Sơn – nơi sơ tán – về Hà Nội. Có lần khi đổ đèo Sài Hồ, cái vỏ yên bằng da cứng đã rơi đâu mất, anh cả phải độn nguyên cái quần dài bộ đội mà ngồi, mới về được đến Hà Nội. Khi anh đi B thì đương nhiên tôi là người "thừa kế hàng thứ nhất" rồi. Nó là phương tiện cùng tôi đi lại Hà Nội và Cẩm Xuyên.





Hàng tuần chúng tôi học buổi sáng, chiều tự học. Một tuần học từ thứ Hai đến thứ Bẩy, riêng thứ Năm không có tiết. Vì vậy, lịch trình của tôi là: sáng thứ Hai lên học bình thường cho đến sáng thứ Tư cũng bình thường lên lớp… nhưng chỉ sau một tiết ra chơi, cố gắng lượn lờ, nói chuyện với các bạn trong lớp, đặc biệt là thế nào cũng hỏi cán bộ lớp một câu. Khi các bạn vào học tiết thứ hai, ấy là lúc tôi chuồn. Thời gian đó, lớp học tập trung ở đình làng Cẩm Xuyên, ngồi trong lớp trông thẳng lên bờ đê, nên tôi phải đi dưới bờ ruộng qua làng mới vọt lên đê. Sáng thứ Sáu lại lên lớp bình thường và chiều thứ Bẩy mới ngoan ngoãn xin phép về Hà Nội. Tôi cũng không hiểu lúc đó hay về Hà Nội để làm gì, chơi với ai. Mẹ tôi đi làm, các em đi sơ tán, bạn bè đi học, … nhưng thích là về, có thể cái máu “bất kham” tuổi con ngựa của tôi, cái cảm giác tự do làm cho tâm hồn, đầu óc tôi khoan khoái khi đạp xe trên bờ đê sông Cầu, qua bến đò Ngọt, rồi chợ Chờ, Từ Sơn, … qua cầu Long Biên, ngắm dòng sông Hồng đỏ quạch màu bùn.

Ngay khi đợt B52 đánh Hà Nội, do nắm được thông tin – tôi có một cái radio bán dẫn nghe tin trong, ngoài nước – nên sáng sớm ngày 25/12 là ngày lễ Nô En chuồn về Hà Nội. Thằng bạn ruột – Cường “tẩm” – bám ngay theo. Hai thằng đi từ 4 giờ sáng, khi mà trời đất vẫn còn tối tăm mù mịt. Mọi hôm giờ này là giờ mà B52 ném bom ác liệt nhất. Lần mò mãi cũng ra được đường Quốc lộ 1. Đi qua ga Yên Viên, còn khét lẹt khói lửa, bom đạn, hàng hóa vung vãi trên bờ tường, trên cây và trên đường. Qua cầu Đuống, lúc này nhịp giữa cầu đã sập chỉ con trơ trọi hai thanh ray xe lửa. Thế mà hai thằng cũng đi qua được, thế mới tài chứ. Lóp ngóp về Hà Nội lúc 10 giờ sáng. May quá tôi về nhà thì mẹ tôi vừa mới từ cơ quan về lấy ít đồ đạc. Bà đuổi tôi quầy quậy và không quên tiếp tế cho tôi đồ ăn. Mấy hôm Mỹ ném bom, bà ở hẳn trong cơ quan mà thực chất là trong hầm ở cơ quan, chỉ thỉnh thoảng qua nhà thu dọn và sắp xếp ít đồ dùng mang đến cơ quan. Đến nhà Cường thì cũng vậy. Mẹ Cường giục chúng tôi đi mau, không ở nhà được đâu. Dạo quanh những nơi quen thuộc ở Hà Nội một lúc thấy quang cảnh không suy suyển mấy như Bờ Hồ, công viên Thống Nhất, trường Bách Khoa, … chúng tôi quay lại khu sơ tán. Đến nơi bọn bạn, đặc biệt là bọn ở Hà Nội há hốc miệng nghe chúng tôi tường thuật chuyến đi. Hãnh diện lắm. Những ngày ấy mà chúng tôi vẫn ở Hà Nội. Đến bây giờ mỗi khi kể lại, Cường “tẩm” vẫn còn cao giọng.


Trở lại nơi sơ tán năm 1972


Ở Cẩm Xuyên một thời gian khá dài, sinh hoạt cá nhân cũng thu xếp ổn thỏa, vệ sinh buổi sáng nhờ nước gánh từ sông của chủ nhà, tắm thì ra sông Cầu. Mùa đông có ngại tắm hơn vì nước lạnh, bãi sông rộng và trống trải. Tết Nguyên đán năm Quý Sửu (1973), chúng tôi lại tập trung lên Cẩm Xuyên sau khi kỳ nghỉ. Sáng hôm sau, nghe mọi người báo có sinh viên chết đuối ở ngoài bờ sông Cầu. Thì ra đêm hôm trước có anh sinh viên gọi đò đêm không được đã bơi qua sông. Chắc vì lạnh quá, kiệt sức hoặc bị chuột rút nên đã chết đuối. Sáng sớm những người đi gánh nước, tưới rau ngoài bãi thấy đồ đạc, ba lô dạt vào bờ thì mở ra xem và phát hiện ra đó là sinh viên. Buổi trưa, dân thuyền chài câu lưới được xác anh ta và kéo vào để trên bãi cát bên bờ sông. Anh ta tên là Bồi, nguyên là công nhân cơ khí đi học, vào khóa 15. Đêm hôm đó, chúng tôi phải luân phiên thay nhau ra gác bên thi hài của anh. Một cái chăn chiên (loại chăn dạ mỏng) được trùm lên thi hài co quắp của anh trông xa một đống lù lù làm những người yếu bóng vía đứng tim. Tôi cũng được phân công ngồi trông chừng 1 tiếng đồng hồ… Sau đó, chúng tôi trở về Hà Nội tiếp tục lên các giảng đường học hành đàng hoàng cho đến ngày tốt nghiệp.





Kỳ sau: Quen biết nhờ... móc cống










Tài... trốn học

Thời kỳ Khoa Chế tạo máy sơ tán ở Cẩm Xuyên, chúng tôi được xếp ở trong nhà một ông bà nông dân. Hai ông bà có lẽ chừng ngoài 50 tuổi nhưng già đẫy, có một đàn con lít nhít.

Cả nhà đi vắng suốt ngày, thi thoảng ông hoặc bà mới tạt về nhà một lúc, xong lại đi ngay. Chỉ có cậu con út của ông bà là thường xuyên ở nhà hơn. Cu này răng sún, thỉnh thoảng trò chuyện chơi với chúng tôi. Có lần nó đi chơi về chạy tọt vào trong buồng chái, sau chạy ra miệng nhai tóp tép và lại chạy biến đi. Chúng tôi liền vào chái nhà thám thính thì thấy có cái nồi hông treo trên xà nhà vẫn còn lắc lư. Đây rồi, thọc tay vào khua khoắng thì ra trong đống bột mịn có mấy cái kẹo lạc. Thế là chia nhau mỗi thằng một cái. Ăn thế thôi, chứ chén hết thì lộ.


Làng Cẩm Xuyên nay


Chúng tôi cũng thỉnh thoảng “ngứa ngáy”… mồm nên cũng tí toáy của ông bà chủ nhà: khi thì củ khoai, khi thì nắm lạc. Chả là các thứ này họ thường xuyên để dưới gậm gường chúng tôi ngủ. Khoai thì mang ra bếp ăn tập thể của Khoa để nướng, lạc thì đút túi mang về Hà Nội… “làm quà” rồi liên hoan với nhau. Đêm đêm, chuột chạy rinh rích, chén khoai, chén lạc, chén thóc, … rồi thậm chí có hôm còn gặm cả ngón chân chúng tôi. Tuy vậy, chúng tôi cũng không để ông bà chủ thiệt thòi. Lê Ninh “lùn” có mang một lọ dưa chuột muối, loại xuất khẩu đóng lọ thủy tinh, có nhãn toàn tiếng Tây. Đến bữa tối mang ra để ăn tươi. Cả bọn nhá được một miếng thì bỏ vì chua loét mà lại có vị ung ủng. Sau này nghe nói là Tây nó thích ăn thế chứ không phải là dưa chuột hỏng. Không ăn được, bạn Phạm Phúc Trí lễ phép mang sang mâm ông bà chủ… kính biếu. Sáng sau, như thường lệ, các bạn Phạm Phúc Trí và Lê Ninh ghé qua bể nước của chủ nhà soi bóng để vuốt tóc, chải đầu làm dáng trước khi lên lớp thì thấy trong cái vại nước gạo cho lợn nổi lều phều mấy quả dưa chuột. Bà con nông dân chê, thậm chí cả lợn cũng chê chứ chả phải mấy anh học trò Hà Nội khảnh ăn.

Thời gian này, chúng tôi còn phải đào hầm trong nhà dân: lên Khoa vác mấy cây tre về lợp mái chữ A và đắp đất lên. Những hôm mới có hầm, hễ nghe tiếng máy bay là chúng tôi chạy ra hầm, nhưng hôm thì chạy ra chạy vào cũng ngại, nhất là đang ngon giấc, hôm thì chủ nhà đã chiếm hết chỗ. Thế là về sau nghe tiếng máy bay cũng mặc kệ, không ra hầm nữa. Có hôm nghe tiếng bom ì ùm, ông chủ nhà lăn từ trên gường xuống chui vào gậm gường miệng hô vợ con ra hầm mà chúng tôi vẫn nằm yên trên giường, không buồn động cựa.

Rồi vào năm học, chúng tôi lại tổ chức lớp học tập. Nhưng “chứng nào tật nấy”, “ngựa quen đường cũ”: tôi lại tìm cách… trốn học. Do “từng trải” và có nhiều kinh nghiệm hơn nên tuyệt đối không lộ được. Thời gian này tôi có chiếc xe đạp Sterling của cha tôi để lại khi đi B. Chiếc xe này, anh cả tôi cũng dùng một thời gian đi về từ Lạng Sơn – nơi sơ tán – về Hà Nội. Có lần khi đổ đèo Sài Hồ, cái vỏ yên bằng da cứng đã rơi đâu mất, anh cả phải độn nguyên cái quần dài bộ đội mà ngồi, mới về được đến Hà Nội. Khi anh đi B thì đương nhiên tôi là người "thừa kế hàng thứ nhất" rồi. Nó là phương tiện cùng tôi đi lại Hà Nội và Cẩm Xuyên.





Hàng tuần chúng tôi học buổi sáng, chiều tự học. Một tuần học từ thứ Hai đến thứ Bẩy, riêng thứ Năm không có tiết. Vì vậy, lịch trình của tôi là: sáng thứ Hai lên học bình thường cho đến sáng thứ Tư cũng bình thường lên lớp… nhưng chỉ sau một tiết ra chơi, cố gắng lượn lờ, nói chuyện với các bạn trong lớp, đặc biệt là thế nào cũng hỏi cán bộ lớp một câu. Khi các bạn vào học tiết thứ hai, ấy là lúc tôi chuồn. Thời gian đó, lớp học tập trung ở đình làng Cẩm Xuyên, ngồi trong lớp trông thẳng lên bờ đê, nên tôi phải đi dưới bờ ruộng qua làng mới vọt lên đê. Sáng thứ Sáu lại lên lớp bình thường và chiều thứ Bẩy mới ngoan ngoãn xin phép về Hà Nội. Tôi cũng không hiểu lúc đó hay về Hà Nội để làm gì, chơi với ai. Mẹ tôi đi làm, các em đi sơ tán, bạn bè đi học, … nhưng thích là về, có thể cái máu “bất kham” tuổi con ngựa của tôi, cái cảm giác tự do làm cho tâm hồn, đầu óc tôi khoan khoái khi đạp xe trên bờ đê sông Cầu, qua bến đò Ngọt, rồi chợ Chờ, Từ Sơn, … qua cầu Long Biên, ngắm dòng sông Hồng đỏ quạch màu bùn.

Ngay khi đợt B52 đánh Hà Nội, do nắm được thông tin – tôi có một cái radio bán dẫn nghe tin trong, ngoài nước – nên sáng sớm ngày 25/12 là ngày lễ Nô En chuồn về Hà Nội. Thằng bạn ruột – Cường “tẩm” – bám ngay theo. Hai thằng đi từ 4 giờ sáng, khi mà trời đất vẫn còn tối tăm mù mịt. Mọi hôm giờ này là giờ mà B52 ném bom ác liệt nhất. Lần mò mãi cũng ra được đường Quốc lộ 1. Đi qua ga Yên Viên, còn khét lẹt khói lửa, bom đạn, hàng hóa vung vãi trên bờ tường, trên cây và trên đường. Qua cầu Đuống, lúc này nhịp giữa cầu đã sập chỉ con trơ trọi hai thanh ray xe lửa. Thế mà hai thằng cũng đi qua được, thế mới tài chứ. Lóp ngóp về Hà Nội lúc 10 giờ sáng. May quá tôi về nhà thì mẹ tôi vừa mới từ cơ quan về lấy ít đồ đạc. Bà đuổi tôi quầy quậy và không quên tiếp tế cho tôi đồ ăn. Mấy hôm Mỹ ném bom, bà ở hẳn trong cơ quan mà thực chất là trong hầm ở cơ quan, chỉ thỉnh thoảng qua nhà thu dọn và sắp xếp ít đồ dùng mang đến cơ quan. Đến nhà Cường thì cũng vậy. Mẹ Cường giục chúng tôi đi mau, không ở nhà được đâu. Dạo quanh những nơi quen thuộc ở Hà Nội một lúc thấy quang cảnh không suy suyển mấy như Bờ Hồ, công viên Thống Nhất, trường Bách Khoa, … chúng tôi quay lại khu sơ tán. Đến nơi bọn bạn, đặc biệt là bọn ở Hà Nội há hốc miệng nghe chúng tôi tường thuật chuyến đi. Hãnh diện lắm. Những ngày ấy mà chúng tôi vẫn ở Hà Nội. Đến bây giờ mỗi khi kể lại, Cường “tẩm” vẫn còn cao giọng.


Trở lại nơi sơ tán năm 1972


Ở Cẩm Xuyên một thời gian khá dài, sinh hoạt cá nhân cũng thu xếp ổn thỏa, vệ sinh buổi sáng nhờ nước gánh từ sông của chủ nhà, tắm thì ra sông Cầu. Mùa đông có ngại tắm hơn vì nước lạnh, bãi sông rộng và trống trải. Tết Nguyên đán năm Quý Sửu (1973), chúng tôi lại tập trung lên Cẩm Xuyên sau khi kỳ nghỉ. Sáng hôm sau, nghe mọi người báo có sinh viên chết đuối ở ngoài bờ sông Cầu. Thì ra đêm hôm trước có anh sinh viên gọi đò đêm không được đã bơi qua sông. Chắc vì lạnh quá, kiệt sức hoặc bị chuột rút nên đã chết đuối. Sáng sớm những người đi gánh nước, tưới rau ngoài bãi thấy đồ đạc, ba lô dạt vào bờ thì mở ra xem và phát hiện ra đó là sinh viên. Buổi trưa, dân thuyền chài câu lưới được xác anh ta và kéo vào để trên bãi cát bên bờ sông. Anh ta tên là Bồi, nguyên là công nhân cơ khí đi học, vào khóa 15. Đêm hôm đó, chúng tôi phải luân phiên thay nhau ra gác bên thi hài của anh. Một cái chăn chiên (loại chăn dạ mỏng) được trùm lên thi hài co quắp của anh trông xa một đống lù lù làm những người yếu bóng vía đứng tim. Tôi cũng được phân công ngồi trông chừng 1 tiếng đồng hồ… Sau đó, chúng tôi trở về Hà Nội tiếp tục lên các giảng đường học hành đàng hoàng cho đến ngày tốt nghiệp.





Kỳ sau: Quen biết nhờ... móc cống



Thứ Ba, 3 tháng 3, 2015

Chương trình trồng cây lưu niệm tại Trại Cờ

Kỷ niệm 50 năm Trường Nguyễn Văn Trỗi



Trồng cây lưu niệm tại Trại Cờ




BLL Trường VHQĐ - TSQ Nguyễn Văn Trỗi tổ chức trồng cây lưu niệm nhân kỷ niệm 50 năm Trường Nguyễn Văn Trỗi tại Trại Cờ (Nơi Trường đã từng đóng quân thời kỳ đầu tiên: Tháng 3 - 8/1965) và tham dự Lễ Hội thôn Trại Hòe. Chương trình như sau:
  1. Thành phần: Đại diện các Thầy, Cô, bạn Trỗi các Khóa và có sự tham dự của lãnh đạo địa phương, Trường xe PKKQ.

  2. Kế hoạch: Đi trong ngày 04/03/2015 (Tức ngày 14 tháng Giêng năm Ất Mùi). Cụ thể:
    • Tập trung: Lúc 6h00 (Thứ Tư, ngày 04/03/2015), tại Bảo tàng Quân đội, số 28A Điện Biên Phủ, quận Ba Đình, Hà Nội.
    • Xuất phát: Đúng 6h15 (Phương tiện ôtô).
    • 08h15 có mặt tại Trại Hòe để dự Khai mạc Lễ Hội và Dâng Lễ.
    • 09h30 trồng cây lưu niệm tại Trại Cờ (Trường xe Quân chủng PKKQ hiện đang đóng quân).
    • 10h45 quay về thôn Trại Hòe tiếp tục dự Lễ Hội và ăn trưa.
    • Dự kiến trở về Hà Nội trước 16h30.

  3. Kinh phí: Các Khóa hoặc cá nhân đóng góp - Cụ thể sẽ liên hệ và nộp cho BTC/Ngô Thế Vinh K5.

  4. Đề nghị Trưởng BLL các Khóa: Phổ biến nội dung trên tới các bạn Trỗi trong Khóa, tổng hợp và thông báo quân số tham dự cho BTC (Ngô Thế Vinh K5 / ĐT: 0904278744) trước thứ Ba, ngày 03/03/2015, để BTC chuẩn bị xe đầy đủ.

  5. Lưu ý:
    Các anh chị em bố trí đi bằng phương tiện riêng có thể tham gia xuất phát cùng Đoàn hoặc chủ động thời gian đến Trại Hòe sớm: Trước 08h15 thứ Tư ngày 04/03/2015.

Ban Tổ Chức

Kỷ niệm 50 năm Trường Nguyễn Văn Trỗi



Trồng cây lưu niệm tại Trại Cờ




BLL Trường VHQĐ - TSQ Nguyễn Văn Trỗi tổ chức trồng cây lưu niệm nhân kỷ niệm 50 năm Trường Nguyễn Văn Trỗi tại Trại Cờ (Nơi Trường đã từng đóng quân thời kỳ đầu tiên: Tháng 3 - 8/1965) và tham dự Lễ Hội thôn Trại Hòe. Chương trình như sau:
  1. Thành phần: Đại diện các Thầy, Cô, bạn Trỗi các Khóa và có sự tham dự của lãnh đạo địa phương, Trường xe PKKQ.

  2. Kế hoạch: Đi trong ngày 04/03/2015 (Tức ngày 14 tháng Giêng năm Ất Mùi). Cụ thể:
    • Tập trung: Lúc 6h00 (Thứ Tư, ngày 04/03/2015), tại Bảo tàng Quân đội, số 28A Điện Biên Phủ, quận Ba Đình, Hà Nội.
    • Xuất phát: Đúng 6h15 (Phương tiện ôtô).
    • 08h15 có mặt tại Trại Hòe để dự Khai mạc Lễ Hội và Dâng Lễ.
    • 09h30 trồng cây lưu niệm tại Trại Cờ (Trường xe Quân chủng PKKQ hiện đang đóng quân).
    • 10h45 quay về thôn Trại Hòe tiếp tục dự Lễ Hội và ăn trưa.
    • Dự kiến trở về Hà Nội trước 16h30.

  3. Kinh phí: Các Khóa hoặc cá nhân đóng góp - Cụ thể sẽ liên hệ và nộp cho BTC/Ngô Thế Vinh K5.

  4. Đề nghị Trưởng BLL các Khóa: Phổ biến nội dung trên tới các bạn Trỗi trong Khóa, tổng hợp và thông báo quân số tham dự cho BTC (Ngô Thế Vinh K5 / ĐT: 0904278744) trước thứ Ba, ngày 03/03/2015, để BTC chuẩn bị xe đầy đủ.

  5. Lưu ý:
    Các anh chị em bố trí đi bằng phương tiện riêng có thể tham gia xuất phát cùng Đoàn hoặc chủ động thời gian đến Trại Hòe sớm: Trước 08h15 thứ Tư ngày 04/03/2015.

Ban Tổ Chức

Thứ Bảy, 28 tháng 2, 2015

Nước Mỹ từ Tây sang Đông (1)


Được bạn rủ đi chơi, tôi đồng ý ngay. Lúc đầu dự tính chơi khoảng một tuần cho biết đây biết đó. Bạn bảo nếu vậy thì thà ngồi nhà xem TV khỏi đi, tốn tiền. Bạn còn khuyên đã đi chơi là phải thực tế sống như dân bản địa thì mới đáng “đồng tiền bát gạo”. Thế là lên chương trình chơi bời cho 6 tuần lễ.

Để vào Mỹ, nhiều người lo lắng mục xin thị thực, vì thực tế có đến hơn 30% bị từ chối. Chả biết sao, với tôi thủ tục cũng đơn giản.

Mỹ hỏi: “Vào Mỹ làm gì?”

- Đi chơi! – Thấy cộc lốc quá, thêm câu – Du lịch!

- Đang làm gì?

- Nghỉ hưu!

Đòi xem cái sổ tiết kiệm – Trúng kế rồi! Cái sổ này do mới vay được mớ gửi đối phó từ cách đó 3 tháng trước.

Hết câu hỏi, Mỹ giữ lại hộ chiếu và chỉ tay ra quầy chuyển phát nhanh. Đúng 2 phút, kể cả ầm à ầm ừ…


Sang đến Mỹ, bạn đưa về nhà ở cách sân bay San Francisco hơn tiếng xe chạy. Mấy ngày đầu, tập tọng chuyển sang sinh hoạt kiểu Mỹ: sáng ra công viên đi bộ, hít thở không khí trong lành. Từ nhà ra công viên hơn 3 km, phải đi xe hơi. Trời khá lạnh.


Được bạn rủ đi chơi, tôi đồng ý ngay. Lúc đầu dự tính chơi khoảng một tuần cho biết đây biết đó. Bạn bảo nếu vậy thì thà ngồi nhà xem TV khỏi đi, tốn tiền. Bạn còn khuyên đã đi chơi là phải thực tế sống như dân bản địa thì mới đáng “đồng tiền bát gạo”. Thế là lên chương trình chơi bời cho 6 tuần lễ.

Để vào Mỹ, nhiều người lo lắng mục xin thị thực, vì thực tế có đến hơn 30% bị từ chối. Chả biết sao, với tôi thủ tục cũng đơn giản.

Mỹ hỏi: “Vào Mỹ làm gì?”

- Đi chơi! – Thấy cộc lốc quá, thêm câu – Du lịch!

- Đang làm gì?

- Nghỉ hưu!

Đòi xem cái sổ tiết kiệm – Trúng kế rồi! Cái sổ này do mới vay được mớ gửi đối phó từ cách đó 3 tháng trước.

Hết câu hỏi, Mỹ giữ lại hộ chiếu và chỉ tay ra quầy chuyển phát nhanh. Đúng 2 phút, kể cả ầm à ầm ừ…


Sang đến Mỹ, bạn đưa về nhà ở cách sân bay San Francisco hơn tiếng xe chạy. Mấy ngày đầu, tập tọng chuyển sang sinh hoạt kiểu Mỹ: sáng ra công viên đi bộ, hít thở không khí trong lành. Từ nhà ra công viên hơn 3 km, phải đi xe hơi. Trời khá lạnh.

Thứ Sáu, 27 tháng 2, 2015

THỰC TẠI VÀ HOANG ĐƯỜNG 41/b



THỰC TẠI VÀ HOANG ĐƯỜNG (V)



PHẦN V:     THỐNG NHẤT

“Chính qua cuộc đấu tranh nhằm thống nhất một cách hợp lý cái đa dạng mà đã đạt được những thành công lớn nhất, dù rằng chính ý đồ đó có thể gây ra những nguy cơ lớn nhất để trở thành con mồi của ảo vọng”.
A. Anhxtanh

“Người nhìn thấy cái đa dạng mà không thấy cái đồng nhất thì cứ trôi lăn trong cõi chết”.
Upanishad

CHƯƠNG I: BUỔI ĐẦU

“Không có cái gì phát sinh ra được từ cái không có gì, và cái gì đã có thì không thể bị hủy diệt”.
Empédocle


(tiếp theo)

Trước thời Hi Lạp cổ đại rất lâu, loài người, nhất là các dân tộc cổ đại phương Đông đã quan sát, và chiêm nghiệm Vũ Trụ. Quá trình đó kéo dài suốt hàng ngàn năm đã giúp nhân loại đúc kết được không ít những hiểu biết đúng đắn, dù sơ khai về “hoạt động” và mối quan hệ của những sự vật - hiện tượng hiện hữu trên bầu trời như Mặt Trời, Mặt Trăng, một số hành tinh và các vì tinh tú.


THỰC TẠI VÀ HOANG ĐƯỜNG (V)



PHẦN V:     THỐNG NHẤT

“Chính qua cuộc đấu tranh nhằm thống nhất một cách hợp lý cái đa dạng mà đã đạt được những thành công lớn nhất, dù rằng chính ý đồ đó có thể gây ra những nguy cơ lớn nhất để trở thành con mồi của ảo vọng”.
A. Anhxtanh

“Người nhìn thấy cái đa dạng mà không thấy cái đồng nhất thì cứ trôi lăn trong cõi chết”.
Upanishad

CHƯƠNG I: BUỔI ĐẦU

“Không có cái gì phát sinh ra được từ cái không có gì, và cái gì đã có thì không thể bị hủy diệt”.
Empédocle


(tiếp theo)

Trước thời Hi Lạp cổ đại rất lâu, loài người, nhất là các dân tộc cổ đại phương Đông đã quan sát, và chiêm nghiệm Vũ Trụ. Quá trình đó kéo dài suốt hàng ngàn năm đã giúp nhân loại đúc kết được không ít những hiểu biết đúng đắn, dù sơ khai về “hoạt động” và mối quan hệ của những sự vật - hiện tượng hiện hữu trên bầu trời như Mặt Trời, Mặt Trăng, một số hành tinh và các vì tinh tú.

Thứ Tư, 25 tháng 2, 2015

Đi nhờ xe






Đi nhờ xe

Kết thúc đợt lao động phục vụ chiến đấu, chúng tôi được đơn vị bộ đội đưa trở lại Cẩm Xuyên. Được nghỉ học một vài ngày, chúng tôi đã có kế hoạch trở về nhà, về Hà Nội… xả hơi sau những ngày tháng sống trong rừng âm u và lao động hết mình. Chắc các bạn đều cảm nhận cái tâm trạng náo nức thế nào của tuổi thanh niên ngày ấy.

Thời gian này, chiến tranh ở miền Bắc đã ngừng nên chúng tôi được đi ban ngày. Buổi trưa về đến Cẩm Xuyên, cơm nước nháo nhào, chúng tôi vội vàng cất bước chuồn. Không biết tại sao, chỉ có tôi và bạn Duy Cường đi cùng nhau. Tất nhiên là cuốc bộ thôi. Nhiều bạn tính toán đi bộ ra ga Trung Giã và quốc lộ 3. Từ đây đi phương tiện nào cũng tiện về trung tâm Hà Nội. Tôi và Duy Cường tính chắc ăn, cứ đi theo lối cũ: đi dọc trên đê sông Cầu, qua đò Ngọt, qua chợ Chờ theo Tỉnh lộ 295 ra thị trấn Từ Sơn, rồi vào Quốc lộ 1, bon thẳng về Hà Nội.

Hai thằng cứ cắm cúi đi bộ. Không hiểu sao khỏe thế, cứ là đi băng băng. Hơn một tiếng sau đã đến bến đò Ngọt, rồi qua chợ Chờ lúc nào không biết. Có vẻ đã thấm mệt, vừa qua cầu Chùa Chanh, hai thằng dự định đến Từ Sơn nghỉ một lúc rồi vẫy xe đi nhờ về Hà Nội thì có tiếng động cơ ầm ì phía sau. Quay lại thấy một cái ô tô kiểu Gát của bộ đội. Do đường xấu, cái xe ô tô chỉ đi nhanh hơn người đi bộ một chút. Tôi và Duy Cường đứng bên đường vẫy để đi nhờ, nhưng người lái xe không có ý dừng lại. Lúc xe chạy ngang chỗ chúng tôi đứng, Cường hét lên: “Anh ơi, cho bọn em đi nhờ về Hà Nội nhé!”. Không chờ nghe trả lời, tôi và Duy Cường bám lấy cửa hậu thùng xe và nhảy phốc lên. Thùng xe trống không, chỉ có một đống vải bạt ở góc. Hai thằng ngồi phệt luôn xuống sàn thùng xe, quăng cái ba lô có buộc cả cái thùng sắt “Kinh tang” xuống, cảm giác đã gần Hà Nội lắm rồi. May cho hai thằng, cái ô tô ra đến Từ Sơn thì rẽ phải theo Quốc lộ 1 về Hà Nội.






Lúc này, trời đã về chiều, không còn nắng nhưng những tia mặt trời hình rẻ quạt vẽ lên bầu trời xanh ngắt vẫn rực như ánh hào quang. Trên trời vẫn có tiếng ì ầm của máy bay, nhưng chắc là máy bay ta vì trên đường nhộn nhịp, xe cộ nườm nượp. Tâm trạng hai thằng thật hào hứng. Vừa khen nhau vừa chế giễu “mấy thằng không đi theo bọn mình”. Bỗng cái ô tô đi chậm lại rồi dừng hẳn. Tôi nhìn thấy phía trước có một đoàn xe dài đang xếp hàng. Chắc là tắc đường. Nhìn xung quanh, hóa ra mới đến dốc Lã, nơi có cửa hàng ăn uống mậu dịch quốc doanh mà qua đây chúng tôi hay ghé lại nghỉ ngơi. Cánh cửa ca bin mở ra, một, hai anh bộ đội nhảy xuống. Một anh vòng ra phía sau, bám vào cánh cửa hậu, nói to: “Các cậu hỏi chưa mà đã lên xe, hả?”. Tôi và Duy Cường vội trả lời: “Rồi ạ, bọn em đã xin anh lái xe…”. Chúng tôi đang lo lắng thì anh bộ đội kia, dáng chỉ huy, sau khi đi quanh chiếc xe một vòng nói vọng lên:
- Hai cậu ấy có hỏi nhưng chưa trả lời thì đã nhảy lên rồi!

Ngừng một lát, như để chúng tôi phải ân hận thì anh mới nói tiếp khi quay ra nhìn chúng tôi, mỉm cười:
- Thời chiến phải như thế mới được việc, đúng không, các cậu…

Ôi sướng quá. Hai thằng thở phào nhẹ nhõm. Sao mà có những anh bộ đội tốt thế, tâm lý thế. Tôi chắc cái anh bộ đội này cũng có thiện cảm với chúng tôi vì nhìn chúng tôi quá đẹp giai, không có vẻ gì là… gián điệp. Hơn nữa, cái thùng “Kinh tang” sơn màu bộ đội ghi cả phiên hiệu đơn vị K680 kia đeo trên ba lô của hai thằng có khi cũng làm anh ta vì nể nữa là đằng khác. Kể ra bị đuổi xuống ở đoạn này thì cũng không lo lắm, làm gì mà không đi nhờ được. Nhưng dù sao yên vị trên cái thùng xe này vẫn tốt chán…

Lúc này đoàn xe đã từ từ tiến về phía trước. Xe qua cầu Đuống, vào thị trấn Gia Lâm. Thời gian này, cầu Long Biên đã bị máy bay Mỹ đánh bom hỏng nên xe ô tô đi ra phía cầu phao Chương Dương. Gặp đường đê, xe ô tô rẽ trái rồi dừng lại. Hai thằng chào ran từ biệt, cảm ơn rối rít rồi nhảy xuống lóc cóc đi bộ về Hà Nội. Phía trước, thành phố đã lên đèn. Chúng tôi đang cùng một tâm trạng: tưởng tượng lại giây phút gặp lại Người Mẹ sau bao ngày xa cách, đi qua những ngôi nhà, con phố thân quen một thời…





Kỳ sau: Tài... trốn học







Đi nhờ xe

Kết thúc đợt lao động phục vụ chiến đấu, chúng tôi được đơn vị bộ đội đưa trở lại Cẩm Xuyên. Được nghỉ học một vài ngày, chúng tôi đã có kế hoạch trở về nhà, về Hà Nội… xả hơi sau những ngày tháng sống trong rừng âm u và lao động hết mình. Chắc các bạn đều cảm nhận cái tâm trạng náo nức thế nào của tuổi thanh niên ngày ấy.

Thời gian này, chiến tranh ở miền Bắc đã ngừng nên chúng tôi được đi ban ngày. Buổi trưa về đến Cẩm Xuyên, cơm nước nháo nhào, chúng tôi vội vàng cất bước chuồn. Không biết tại sao, chỉ có tôi và bạn Duy Cường đi cùng nhau. Tất nhiên là cuốc bộ thôi. Nhiều bạn tính toán đi bộ ra ga Trung Giã và quốc lộ 3. Từ đây đi phương tiện nào cũng tiện về trung tâm Hà Nội. Tôi và Duy Cường tính chắc ăn, cứ đi theo lối cũ: đi dọc trên đê sông Cầu, qua đò Ngọt, qua chợ Chờ theo Tỉnh lộ 295 ra thị trấn Từ Sơn, rồi vào Quốc lộ 1, bon thẳng về Hà Nội.

Hai thằng cứ cắm cúi đi bộ. Không hiểu sao khỏe thế, cứ là đi băng băng. Hơn một tiếng sau đã đến bến đò Ngọt, rồi qua chợ Chờ lúc nào không biết. Có vẻ đã thấm mệt, vừa qua cầu Chùa Chanh, hai thằng dự định đến Từ Sơn nghỉ một lúc rồi vẫy xe đi nhờ về Hà Nội thì có tiếng động cơ ầm ì phía sau. Quay lại thấy một cái ô tô kiểu Gát của bộ đội. Do đường xấu, cái xe ô tô chỉ đi nhanh hơn người đi bộ một chút. Tôi và Duy Cường đứng bên đường vẫy để đi nhờ, nhưng người lái xe không có ý dừng lại. Lúc xe chạy ngang chỗ chúng tôi đứng, Cường hét lên: “Anh ơi, cho bọn em đi nhờ về Hà Nội nhé!”. Không chờ nghe trả lời, tôi và Duy Cường bám lấy cửa hậu thùng xe và nhảy phốc lên. Thùng xe trống không, chỉ có một đống vải bạt ở góc. Hai thằng ngồi phệt luôn xuống sàn thùng xe, quăng cái ba lô có buộc cả cái thùng sắt “Kinh tang” xuống, cảm giác đã gần Hà Nội lắm rồi. May cho hai thằng, cái ô tô ra đến Từ Sơn thì rẽ phải theo Quốc lộ 1 về Hà Nội.






Lúc này, trời đã về chiều, không còn nắng nhưng những tia mặt trời hình rẻ quạt vẽ lên bầu trời xanh ngắt vẫn rực như ánh hào quang. Trên trời vẫn có tiếng ì ầm của máy bay, nhưng chắc là máy bay ta vì trên đường nhộn nhịp, xe cộ nườm nượp. Tâm trạng hai thằng thật hào hứng. Vừa khen nhau vừa chế giễu “mấy thằng không đi theo bọn mình”. Bỗng cái ô tô đi chậm lại rồi dừng hẳn. Tôi nhìn thấy phía trước có một đoàn xe dài đang xếp hàng. Chắc là tắc đường. Nhìn xung quanh, hóa ra mới đến dốc Lã, nơi có cửa hàng ăn uống mậu dịch quốc doanh mà qua đây chúng tôi hay ghé lại nghỉ ngơi. Cánh cửa ca bin mở ra, một, hai anh bộ đội nhảy xuống. Một anh vòng ra phía sau, bám vào cánh cửa hậu, nói to: “Các cậu hỏi chưa mà đã lên xe, hả?”. Tôi và Duy Cường vội trả lời: “Rồi ạ, bọn em đã xin anh lái xe…”. Chúng tôi đang lo lắng thì anh bộ đội kia, dáng chỉ huy, sau khi đi quanh chiếc xe một vòng nói vọng lên:
- Hai cậu ấy có hỏi nhưng chưa trả lời thì đã nhảy lên rồi!

Ngừng một lát, như để chúng tôi phải ân hận thì anh mới nói tiếp khi quay ra nhìn chúng tôi, mỉm cười:
- Thời chiến phải như thế mới được việc, đúng không, các cậu…

Ôi sướng quá. Hai thằng thở phào nhẹ nhõm. Sao mà có những anh bộ đội tốt thế, tâm lý thế. Tôi chắc cái anh bộ đội này cũng có thiện cảm với chúng tôi vì nhìn chúng tôi quá đẹp giai, không có vẻ gì là… gián điệp. Hơn nữa, cái thùng “Kinh tang” sơn màu bộ đội ghi cả phiên hiệu đơn vị K680 kia đeo trên ba lô của hai thằng có khi cũng làm anh ta vì nể nữa là đằng khác. Kể ra bị đuổi xuống ở đoạn này thì cũng không lo lắm, làm gì mà không đi nhờ được. Nhưng dù sao yên vị trên cái thùng xe này vẫn tốt chán…

Lúc này đoàn xe đã từ từ tiến về phía trước. Xe qua cầu Đuống, vào thị trấn Gia Lâm. Thời gian này, cầu Long Biên đã bị máy bay Mỹ đánh bom hỏng nên xe ô tô đi ra phía cầu phao Chương Dương. Gặp đường đê, xe ô tô rẽ trái rồi dừng lại. Hai thằng chào ran từ biệt, cảm ơn rối rít rồi nhảy xuống lóc cóc đi bộ về Hà Nội. Phía trước, thành phố đã lên đèn. Chúng tôi đang cùng một tâm trạng: tưởng tượng lại giây phút gặp lại Người Mẹ sau bao ngày xa cách, đi qua những ngôi nhà, con phố thân quen một thời…





Kỳ sau: Tài... trốn học