Thứ Hai, 10 tháng 11, 2014

THỰC TẠI & HOANG ĐƯỜNG 20

THỰC TẠI VÀ HOANG ĐƯỜNG (II)



PHẦN II:     Nền tảng

“Chúng ta có thể mường tượng thế giới của thực tại như là một dòng nước ngầm; thế giới hiện tượng thì ở bề mặt; bên dưới nó chúng ta không nhìn thấy được. Các sự kiện ở tận đáy của dòng nước gây ra bọt và những xoáy nước ở bề mặt. Đó là những chuyển động bức xạ và năng lượng của cuộc sống chung của chúng ta, nó tác động tới các giác quan và do đó, kích thích trí óc chúng ta; ở bên dưới, dòng nước ngầm vẫn chảy”

CHƯƠNG VIII: THẮT NÚT

“Nhìn thế giới trong một hạt cát
Và bầu trời trong cánh hoa rơi
Giữ vô thường trong lòng bàn tay
Và vĩnh cửu trong một giờ ngắn ngủi”.
William. Blake


Loài người biết sử dụng công cụ trước hay biết nói trước? Biết sử dụng công cụ trước! Vì sao? Vì cứ quan sát sự phát triển của một em bé từ lúc lọt lòng cho đến khi bi bô nói được thì biết! Dấu vết của giai đoạn đầu tiên, cổ xưa đã lưu lại như thế để mách bảo cho chúng ta chăng? Không phải! Có như thế là nhờ nguyên lý tương tự. Bất cứ một quá trình từ vô thức đến tư duy nào cũng phải xảy ra đại loại như thế. Sự la hét phải có trước hai cái đó? Đúng vậy, nhưng sự la hét, dù là có chủ đích thì cũng tương tự phát âm vài ba chữ cái như A, B, C một cách rời rạc và chúng ta coi như vậy là chưa biết nói.
Tạm chấp nhận vậy! Một câu hỏi khác: khi sống ở trên cây, tay con người đã biết cầm nắm để đu cành rồi, vậy thì có khả năng là loài người đã biết sử dụng công cụ và thậm chí là biết nói ngay từ khoảng thời gian đó rồi? Không thể như thế được! Khi chúng ta nói biết sự dụng công cụ thì nghĩa là phải sử dụng công cụ có tính thường xuyên, phải lưu giữ công cụ và thay đổi cũng như cải tiến công cụ, còn biết nói thì cũng phải là biết nói có tình thường xuyên, lưu nhớ từ ngữ và làm phát sinh từ ngữ mới. Điều kiện và đời sống trên cây không cho phép sử dụng công cụ như thế và cũng không cần thiết phải “thông báo” cho nhau kiểu như thế. Chỉ khi buộc phải chuyển xuống mặt đất sống thường xuyên thì đôi tay được giải phóng mới “rảnh rang” mà sử dụng công cụ và đòi hỏi phải thông tin thường xuyên cho nhau để đáp ứng với lối sống bầy đàn thường xuyên di chuyển và hợp lực kiếm ăn.

THỰC TẠI VÀ HOANG ĐƯỜNG (II)



PHẦN II:     Nền tảng

“Chúng ta có thể mường tượng thế giới của thực tại như là một dòng nước ngầm; thế giới hiện tượng thì ở bề mặt; bên dưới nó chúng ta không nhìn thấy được. Các sự kiện ở tận đáy của dòng nước gây ra bọt và những xoáy nước ở bề mặt. Đó là những chuyển động bức xạ và năng lượng của cuộc sống chung của chúng ta, nó tác động tới các giác quan và do đó, kích thích trí óc chúng ta; ở bên dưới, dòng nước ngầm vẫn chảy”

CHƯƠNG VIII: THẮT NÚT

“Nhìn thế giới trong một hạt cát
Và bầu trời trong cánh hoa rơi
Giữ vô thường trong lòng bàn tay
Và vĩnh cửu trong một giờ ngắn ngủi”.
William. Blake


Loài người biết sử dụng công cụ trước hay biết nói trước? Biết sử dụng công cụ trước! Vì sao? Vì cứ quan sát sự phát triển của một em bé từ lúc lọt lòng cho đến khi bi bô nói được thì biết! Dấu vết của giai đoạn đầu tiên, cổ xưa đã lưu lại như thế để mách bảo cho chúng ta chăng? Không phải! Có như thế là nhờ nguyên lý tương tự. Bất cứ một quá trình từ vô thức đến tư duy nào cũng phải xảy ra đại loại như thế. Sự la hét phải có trước hai cái đó? Đúng vậy, nhưng sự la hét, dù là có chủ đích thì cũng tương tự phát âm vài ba chữ cái như A, B, C một cách rời rạc và chúng ta coi như vậy là chưa biết nói.
Tạm chấp nhận vậy! Một câu hỏi khác: khi sống ở trên cây, tay con người đã biết cầm nắm để đu cành rồi, vậy thì có khả năng là loài người đã biết sử dụng công cụ và thậm chí là biết nói ngay từ khoảng thời gian đó rồi? Không thể như thế được! Khi chúng ta nói biết sự dụng công cụ thì nghĩa là phải sử dụng công cụ có tính thường xuyên, phải lưu giữ công cụ và thay đổi cũng như cải tiến công cụ, còn biết nói thì cũng phải là biết nói có tình thường xuyên, lưu nhớ từ ngữ và làm phát sinh từ ngữ mới. Điều kiện và đời sống trên cây không cho phép sử dụng công cụ như thế và cũng không cần thiết phải “thông báo” cho nhau kiểu như thế. Chỉ khi buộc phải chuyển xuống mặt đất sống thường xuyên thì đôi tay được giải phóng mới “rảnh rang” mà sử dụng công cụ và đòi hỏi phải thông tin thường xuyên cho nhau để đáp ứng với lối sống bầy đàn thường xuyên di chuyển và hợp lực kiếm ăn.

Chủ Nhật, 9 tháng 11, 2014

K6 Trỗi SG giao lưu với Trung đoàn KQ 935 ở Biên Hòa




K6 Trỗi SG giao lưu cùng trung đoàn KQ 935 ở Biên Hòa ngày 5/11/2014


Sáng thứ tư 5/11/2014 có cuộc viếng thăm của các CCB Nguyễn Văn Trỗi tới Trung đoàn KQ tiêm kích Su-30 trên sân bay Biên Hòa. Đại tá phi công Nguyễn Văn Nam k6 - nguyên TMT trung đoàn, sau là Phó TMT sư 370 - có lời mời anh em k6 cùng 1 số bạn Trỗi lên giao lưu với thế hệ lính lái trẻ.

Chuyến đi thăm E935 KQ Biên Hòa thành công tốt đẹp do tổ chức chu đáo, nhờ mối quan hệ chiến hữu thân tình, nhờ tình thầy trò của cựu phi công Nguyễn Văn Nam với anh em cán bộ, sĩ quan thể hệ sau của đơn vị.
Còn 2 bạn nữa - Phan Công k8 và Hiếu k14 (trò của tôi ở Học viện) - từng công tác ở Ban Thông tin F370 - cũng là những trợ thủ đắc lực.
Chúng tôi như được trở về nhà. Chỉ vừa gặp nhau là hòa đồng ngay. Quá sướng!
Kiến Quốc

Ảnh: Kiến Quốc, Phúc Cần, Nhất Trung, Trọng Tình, Toàn Thắng...

Mời xem chi tiết






Gặp gỡ các phi công trẻ tại khu vực tập kết máy bay

Chụp với cháu Trần Thanh Luân và Phó chính ủy vừa bay về. Ảnh của Phúc Cần K5.





K6 Trỗi SG giao lưu cùng trung đoàn KQ 935 ở Biên Hòa ngày 5/11/2014


Sáng thứ tư 5/11/2014 có cuộc viếng thăm của các CCB Nguyễn Văn Trỗi tới Trung đoàn KQ tiêm kích Su-30 trên sân bay Biên Hòa. Đại tá phi công Nguyễn Văn Nam k6 - nguyên TMT trung đoàn, sau là Phó TMT sư 370 - có lời mời anh em k6 cùng 1 số bạn Trỗi lên giao lưu với thế hệ lính lái trẻ.

Chuyến đi thăm E935 KQ Biên Hòa thành công tốt đẹp do tổ chức chu đáo, nhờ mối quan hệ chiến hữu thân tình, nhờ tình thầy trò của cựu phi công Nguyễn Văn Nam với anh em cán bộ, sĩ quan thể hệ sau của đơn vị.
Còn 2 bạn nữa - Phan Công k8 và Hiếu k14 (trò của tôi ở Học viện) - từng công tác ở Ban Thông tin F370 - cũng là những trợ thủ đắc lực.
Chúng tôi như được trở về nhà. Chỉ vừa gặp nhau là hòa đồng ngay. Quá sướng!
Kiến Quốc

Ảnh: Kiến Quốc, Phúc Cần, Nhất Trung, Trọng Tình, Toàn Thắng...

Mời xem chi tiết






Gặp gỡ các phi công trẻ tại khu vực tập kết máy bay

Chụp với cháu Trần Thanh Luân và Phó chính ủy vừa bay về. Ảnh của Phúc Cần K5.


Thứ Năm, 6 tháng 11, 2014

THỰC TẠI VÀ HOANG ĐƯỜNG 19


PHẦN II:     Nền tảng

“Chúng ta có thể mường tượng thế giới của thực tại như là một dòng nước ngầm; thế giới hiện tượng thì ở bề mặt; bên dưới nó chúng ta không nhìn thấy được. Các sự kiện ở tận đáy của dòng nước gây ra bọt và những xoáy nước ở bề mặt. Đó là những chuyển động bức xạ và năng lượng của cuộc sống chung của chúng ta, nó tác động tới các giác quan và do đó, kích thích trí óc chúng ta; ở bên dưới, dòng nước ngầm vẫn chảy”

CHƯƠNG VII: TIÊN NGHIỆM

“Bản tính của ta chỉ có thể có những trực giác khả giác thôi, nghĩa là theo cách ta bị sự vật tác động vào, còn khả năng suy tưởng những đối tượng của trực giác thì lại là công việc của trí năng. Trong hai đặc tính này của tâm trí ta, không cái nào được coi là trọng hơn cái kia. Không có cảm năng, thì không có một đối tượng nào sẽ được ban cho ta, và không có trí năng thì không một đối tượng nào sẽ được ta suy tưởng. Thiếu nội dung, các ý tưởng sẽ rỗng tuếch và thiếu quan niệm thì các trực giác sẽ mù tịt”.
I. Kant
Immanuel Kant
Immanuel Kant, đọc là Kantơ[1] (sinh ngày 22 tháng 4 năm 1724 tại Königsberg; mất ngày 12 tháng 2 năm 1804 tại Königsberg) được xem là một trong những triết gia quan trọng nhất của nước Đức, hơn nữa là một trong những triết gia lớn nhất của thời kỳ cận đại (Neuzeit), của nền văn hóa tân tiến và của nhiều lĩnh vực nhân văn khác. Sự nghiệp triết học của ông được biết đến qua hai giai đoạn: "tiền phê phán" và sau năm 1770 là "phê phán".[1] Học thuyết "Triết học siêu nghiệm" (Transzendentalphilosophie) của Kant đã đưa triết học Đức bước vào một kỉ nguyên mới. "Danh tiếng của ông đã đẩy lùi những gì đi trước vào bóng tối và toả sáng lên trên những gì đi sau", như nhận xét của triết sử gia J. Hirschberger.
“ Der Charakter eines wahren Philosophen ist der, daß er nichts thut, als die Natürlichen Kräfte und Fähigkeiten zu exercieren, und zwar durch die nachforschende Untersuchung der Kritik.”
—J.Hirschberger

Tạm dịch:
Đặc điểm của một triết gia chân chính là ở chỗ ông ta không làm gì ngoài việc vận dụng sức mạnh và khả năng tự nhiên, cụ thể là qua việc nghiên cứu sự phê phán.



Đó là câu nói mà chúng ta cho là rất hay của Kant. Tuy vậy, nó đúng nhưng chưa đầy đủ. Cảm giác và quan niệm là hai vế được phân biệt tương đối nhưng một cách tuyệt đối thì không thể tách rời nhau được. Ý niệm xuất hiện phải trên cơ sở của cảm giác và cảm giác được là nhờ có ý niệm. Con ngựa bị quất roi vào mông có “cảm thấy” gì không? Có! Nếu không, nó sẽ chẳng phản ứng (lồng lên, phi nhanh hơn…). Thế nó cảm thấy gì, đau đớn khó chịu hay sung sướng? Chắc là không phải sung sướng rồi, vì không thấy nó có vẻ thỏa mãn tý nào! Có lúc hình như nó khó chịu, nhất là khi có người “lạ hoắc” ngồi trên lưng nó mà còn đánh nó, làm nó nổi điên lên, cố hất bằng được kẻ trên lưng nó xuống đất. Có lẽ thông thường thì mọi con người đều cảm thấy “đau” khi bị quất roi. Bị đau nên dẫn đến sợ, tìm cách chạy trốn hoặc phi nhanh hơn cho vừa lòng “chàng kị mã”. Vậy thì con ngựa cũng “biết đau” (khi bị đánh), “biết khó chịu” (khi bị người lạ cưỡi) và “biết khoái” (khi được vuốt ve). Rõ ràng ba cảm giác ấy (và nhiều hơn thế nữa) là phân biệt được và tiềm ẩn trong cùng một con ngựa. Cái gì làm cho các cảm giác “khác kiểu” phân biệt được với nhau. Đó chính là hệ thần kinh với bộ não (ở sinh vật bậc cao) đóng vai trò như trung tâm tổng hợp thông tin, điều khiển và mạng lưới truyền tin với các đầu mối thu phát tín hiệu mà trong quá trình tiến hóa, thích nghi đã phân định thành nhóm (tạo nên những giác quan tương đối khác biệt nhau về cách thức nhưng vẫn trên cơ sở thống nhất là cảm giác và cảm giác được những mức độ khác nhau của sự tác động): Ý niệm là gì nếu không phải là sự phân biệt được của hệ thần kinh trung ương (bộ não) về mức độ, kiểu thức, vị trí của sự tác động bên ngoài nào đó lên cơ thể, để từ đó hình thành nên một cảm giác tương thích? Khi có một tác động đối với một bộ phận hay một vùng nào đó của cơ thể thì ngay lập tức theo đúng luật tự nhiên, phải xuất hiện phản ứng. Phản ứng ấy gọi nôm na là phản ứng “không sống” của chỉ bộ phận ấy, của riêng vùng “xác thịt” ấy, hay tạm gọi là phản ứng sơ cấp. Phản ứng sơ cấp ấy tác động vào các đầu mối thu phát tín hiệu của mạng lưới thần kinh và các thông tin truyền về cho bộ não xử lý. Nhờ vào “kinh nghiệm” đã được tích lũy qua quá trình thích nghi, tiến hóa lâu dài để đảm bảo sinh tồn mà bộ não “đánh giá” được mức độ “lợi hay hại” của tác động để hình thành nên phản ứng thích hợp. Phản ứng ấy là phản ứng của riêng bộ não. Tại đây, phản ứng ấy được phân định thành hai loại tương đối là phản ứng vô thức và phản ứng hữu thức. Phản ứng vô thức là phản ứng ở tầng sự sống vô thức, nghĩa là phản ứng của những đơn vị được định nghĩa là sự sống của những cấu trúc bộ phận được gọi là sống - sống nhưng chẳng bao giờ “tỉnh” mà luôn “ngủ say”; hoặc mê muội. Phản ứng này trở thành những tác động đến các cơ quan chức năng hay cũng có thể là toàn bộ cơ thể, để từ đó mà trong cơ thể có sự chuyển hóa tự nhiên làm xuất hiện những lực lượng nội tại tác động trở lại, một cách có lợi cho bộ phận, vùng cơ thể đã bị bên ngoài tác động (nói cho cùng là hoàn toàn tuân theo nguyên lý tương tác hay tác động-phản ứng của Tự Nhiên!)....

PHẦN II:     Nền tảng

“Chúng ta có thể mường tượng thế giới của thực tại như là một dòng nước ngầm; thế giới hiện tượng thì ở bề mặt; bên dưới nó chúng ta không nhìn thấy được. Các sự kiện ở tận đáy của dòng nước gây ra bọt và những xoáy nước ở bề mặt. Đó là những chuyển động bức xạ và năng lượng của cuộc sống chung của chúng ta, nó tác động tới các giác quan và do đó, kích thích trí óc chúng ta; ở bên dưới, dòng nước ngầm vẫn chảy”

CHƯƠNG VII: TIÊN NGHIỆM

“Bản tính của ta chỉ có thể có những trực giác khả giác thôi, nghĩa là theo cách ta bị sự vật tác động vào, còn khả năng suy tưởng những đối tượng của trực giác thì lại là công việc của trí năng. Trong hai đặc tính này của tâm trí ta, không cái nào được coi là trọng hơn cái kia. Không có cảm năng, thì không có một đối tượng nào sẽ được ban cho ta, và không có trí năng thì không một đối tượng nào sẽ được ta suy tưởng. Thiếu nội dung, các ý tưởng sẽ rỗng tuếch và thiếu quan niệm thì các trực giác sẽ mù tịt”.
I. Kant
Immanuel Kant
Immanuel Kant, đọc là Kantơ[1] (sinh ngày 22 tháng 4 năm 1724 tại Königsberg; mất ngày 12 tháng 2 năm 1804 tại Königsberg) được xem là một trong những triết gia quan trọng nhất của nước Đức, hơn nữa là một trong những triết gia lớn nhất của thời kỳ cận đại (Neuzeit), của nền văn hóa tân tiến và của nhiều lĩnh vực nhân văn khác. Sự nghiệp triết học của ông được biết đến qua hai giai đoạn: "tiền phê phán" và sau năm 1770 là "phê phán".[1] Học thuyết "Triết học siêu nghiệm" (Transzendentalphilosophie) của Kant đã đưa triết học Đức bước vào một kỉ nguyên mới. "Danh tiếng của ông đã đẩy lùi những gì đi trước vào bóng tối và toả sáng lên trên những gì đi sau", như nhận xét của triết sử gia J. Hirschberger.
“ Der Charakter eines wahren Philosophen ist der, daß er nichts thut, als die Natürlichen Kräfte und Fähigkeiten zu exercieren, und zwar durch die nachforschende Untersuchung der Kritik.”
—J.Hirschberger

Tạm dịch:
Đặc điểm của một triết gia chân chính là ở chỗ ông ta không làm gì ngoài việc vận dụng sức mạnh và khả năng tự nhiên, cụ thể là qua việc nghiên cứu sự phê phán.



Đó là câu nói mà chúng ta cho là rất hay của Kant. Tuy vậy, nó đúng nhưng chưa đầy đủ. Cảm giác và quan niệm là hai vế được phân biệt tương đối nhưng một cách tuyệt đối thì không thể tách rời nhau được. Ý niệm xuất hiện phải trên cơ sở của cảm giác và cảm giác được là nhờ có ý niệm. Con ngựa bị quất roi vào mông có “cảm thấy” gì không? Có! Nếu không, nó sẽ chẳng phản ứng (lồng lên, phi nhanh hơn…). Thế nó cảm thấy gì, đau đớn khó chịu hay sung sướng? Chắc là không phải sung sướng rồi, vì không thấy nó có vẻ thỏa mãn tý nào! Có lúc hình như nó khó chịu, nhất là khi có người “lạ hoắc” ngồi trên lưng nó mà còn đánh nó, làm nó nổi điên lên, cố hất bằng được kẻ trên lưng nó xuống đất. Có lẽ thông thường thì mọi con người đều cảm thấy “đau” khi bị quất roi. Bị đau nên dẫn đến sợ, tìm cách chạy trốn hoặc phi nhanh hơn cho vừa lòng “chàng kị mã”. Vậy thì con ngựa cũng “biết đau” (khi bị đánh), “biết khó chịu” (khi bị người lạ cưỡi) và “biết khoái” (khi được vuốt ve). Rõ ràng ba cảm giác ấy (và nhiều hơn thế nữa) là phân biệt được và tiềm ẩn trong cùng một con ngựa. Cái gì làm cho các cảm giác “khác kiểu” phân biệt được với nhau. Đó chính là hệ thần kinh với bộ não (ở sinh vật bậc cao) đóng vai trò như trung tâm tổng hợp thông tin, điều khiển và mạng lưới truyền tin với các đầu mối thu phát tín hiệu mà trong quá trình tiến hóa, thích nghi đã phân định thành nhóm (tạo nên những giác quan tương đối khác biệt nhau về cách thức nhưng vẫn trên cơ sở thống nhất là cảm giác và cảm giác được những mức độ khác nhau của sự tác động): Ý niệm là gì nếu không phải là sự phân biệt được của hệ thần kinh trung ương (bộ não) về mức độ, kiểu thức, vị trí của sự tác động bên ngoài nào đó lên cơ thể, để từ đó hình thành nên một cảm giác tương thích? Khi có một tác động đối với một bộ phận hay một vùng nào đó của cơ thể thì ngay lập tức theo đúng luật tự nhiên, phải xuất hiện phản ứng. Phản ứng ấy gọi nôm na là phản ứng “không sống” của chỉ bộ phận ấy, của riêng vùng “xác thịt” ấy, hay tạm gọi là phản ứng sơ cấp. Phản ứng sơ cấp ấy tác động vào các đầu mối thu phát tín hiệu của mạng lưới thần kinh và các thông tin truyền về cho bộ não xử lý. Nhờ vào “kinh nghiệm” đã được tích lũy qua quá trình thích nghi, tiến hóa lâu dài để đảm bảo sinh tồn mà bộ não “đánh giá” được mức độ “lợi hay hại” của tác động để hình thành nên phản ứng thích hợp. Phản ứng ấy là phản ứng của riêng bộ não. Tại đây, phản ứng ấy được phân định thành hai loại tương đối là phản ứng vô thức và phản ứng hữu thức. Phản ứng vô thức là phản ứng ở tầng sự sống vô thức, nghĩa là phản ứng của những đơn vị được định nghĩa là sự sống của những cấu trúc bộ phận được gọi là sống - sống nhưng chẳng bao giờ “tỉnh” mà luôn “ngủ say”; hoặc mê muội. Phản ứng này trở thành những tác động đến các cơ quan chức năng hay cũng có thể là toàn bộ cơ thể, để từ đó mà trong cơ thể có sự chuyển hóa tự nhiên làm xuất hiện những lực lượng nội tại tác động trở lại, một cách có lợi cho bộ phận, vùng cơ thể đã bị bên ngoài tác động (nói cho cùng là hoàn toàn tuân theo nguyên lý tương tác hay tác động-phản ứng của Tự Nhiên!)....

Thứ Ba, 4 tháng 11, 2014

Cam Ranh - Kỷ niệm (Duy Đảo)



Những năm 80 thế kỷ trước, lính tráng chúng tôi vẫn còn rất vất vả. Đơn vị chúng tôi đóng quân trong bán đảo, không có dân. Đã thiếu thốn về tinh thần, đời sống vật chất cũng vậy, cực khổ trăm bề. Mang tiếng đóng quân vùng biển mà quanh năm chúng tôi chỉ biết ăn loại cá vụn to hơn đầu ngón chân, xương nhiều hơn thịt, loại cá này người ta mua về chỉ dùng để ủ phân. Thế mà tiếp phẩm đơn vị cũng phải chờ cho tới tan chợ mới dám xông vào mặc cả. Lúc nào cơ thể cũng thiếu chất. Nuôi được con chó mới bằng nắm tay mà ngày nào cũng bị dọa “Các ông thấy thế nào, quyết được chưa?” Con chó “chột” không sao lớn nổi.

Chủ nhật lính tráng bủa đi khắp nơi kiếm ăn để cải thiện đời sống. Nhóm thì ra bờ biển dạng dái cào nghêu. Nhóm thì lùng sục ở những khe đá, lạch nước tìm con cua, con ốc. Nhóm thì chui lủi vào rừng cây trên triền cát bẫy, đào Kỳ Nhông ( Kỳ Nhông giống con Kỳ Đà nhưng nhỏ, mình có hoa sống hoang dã ở vùng cát miền trung, thịt ăn ngon như thịt gà) về làm thức ăn. Có chú lính đi đào Kỳ Nhông mới chín giờ sáng đã chạy về nhà mặt xanh như đít nhái.
-Em suýt chết anh ạ! Thấy hang kỳ Nhông to em dùng xẻng đào, sờ được đuôi nó chưa kịp nắm để kéo ra thì nó đã chui sâu vào trong, giống Kỳ Nhông đào khỏe thật. Miếng ngon trong tầm tay, đang cơn hăng, em chui người vào hang đào việt dã đuổi theo. Khi gần như cả người đã ở trong hang thì bất đồ hang cát ụp xuống. Trời đất tối thui, em vùng vẫy trong tuyệt vọng, trong đầu em đã loáng thoáng- phen này chắc vĩnh biệt Hà Nội. Bản năng gốc bốc lên em dồn hết sức còn lại quậy đạp quả cuối. Thế mà thoát, chui khỏi được cái hang chết tiệt ấy trên người mỗi cái quần đùi bán sống bán chết em chạy một mạch về đơn vị. Chỉ vì miếng ăn mà suýt mất mạng. Quần áo cuốc xẻng và mấy con Kỳ Nhông bắt được cũng chả kịp đem về, em vẫn còn vứt trong rừng.

Sau này tôi phải ra lệnh” Đào Kỳ nhông nhất thiết phải đi hai người” kiên quyết không cho đánh lẻ để đảm bảo an toàn.
Một hôm từ trên trận địa về đã thấy anh em ngồi quây quần bên chậu quân dụng “đạị” đặt giữa nhà, mùi thịt rô ty thơm nức.
- Anh rửa tay đi, chỉ còn chờ anh nữa thôi. Có mấy con thỏ rừng anh em giăng lưới bắt được sáng nay.
Thịt thỏ chắc, béo rô ty đúng bài ngon tuyệt. Sau này mới biết anh em họ lừa. Chậu thịt ấy là chậu thịt chuột cống mà mấy chú lính bắt được trong kho gạo của đơn vị khi tịnh kho cuối tháng, biếu đám sỹ quan chúng tôi. Sợ tôi dân thành phố không dám xơi nên anh em mới nói phét với tôi như thế. Ngon thì ngon thật dưng vẫn sợ, chẳng may bị dịch hạch thì chỉ có nước chết. Nhưng cái đói và cái thiếu nó giúp người ta có nghị lực vượt qua được nghịch cảnh, vượt qua nỗi sợ.
Ngày ấy trang phục quần áo cán bô chiến sỹ trong đơn vị chả khác gì chị Dậu. Quần áo mới mặc hai ba tháng đã tả tơi rơi rụng vì nước nợ và nắng gió vùng biển. Có đợt chả biết lính tráng khuân ở đâu về hàng bao tải quần áo. Rặt loại quần áo quá cỡ, dệt kim màu xanh nhạt, đem về giặt đi sử dụng. Đứa nào lười cứ để mặc lụng thụng như áo dài the. Có đứa sửa đi mặc trông cũng đẹp.

Sau này mới biết quần áo đó là đồ chuyên dụng của bọn thủy thủ tàu ngầm Nga. Tàu ngầm vào tiếp nhiên liệu bảo dưỡng trong cảng, quần áo mặc một lần được tàu ngầm thụt ra biển, sóng gió đánh giạt vào bờ thành nguồn cung cấp quân trang cho đơn vị.

Đơn vị tôi có thiếu úy Linh người Hà Nam còn trẻ chưa vợ. Hôm liên hoan “chào sân” khi mới về nhận công tác. Linh giới thiệu bố là đại tá công tác tại “địa phương”. Tôi nghĩ ở địa phương thì chắc cụ ở bộ tư lệnh quân khu hoặc chí ít cũng cỡ tư lệnh bộ chỉ huy quân sự tỉnh. Tôi gật gù, tay này được đây, sỹ quan trẻ mới ra trường dám lao vào nơi khó khăn để rèn luyện, trong khi có thừa điều kiện. Thế là từ nay tôi có thêm thằng em “cùng gia cảnh” để tâm sự.

Rút cục toàn tin vịt. Linh giới thiệu khôi hài bố em là đại tá “điền”, nhưng chữ “điền” nó truội nhẹ đi từ tai này qua tai kia của đám sỹ quan đang ngà ngà say trong bữa cơm rượu đón Linh, nên chỉ còn hai chữ ĐẠI TÁ. Cũng từ đó Linh bị “đóng đinh” con trai viên đại tá. Thực tế nhà Linh hoàn cảnh lắm. Trong một lần về phép thăm gia đình tôi thò tay vào hai túi quần Linh kiểm tra, khoắng một hồi chỉ thấy có mỗi cái ấy vặt vẹo. Chúng tôi bảo nhau tạm ứng tài vụ ít tiền biếu Linh chi phí đi đường và mua quà cho bố mẹ. Linh cảm động lắm.

Sáng Linh ra bến xe về quê tôi không tiễn được vì phải cho đơn vị huấn luyện trên trận địa. Trưa về nhìn lên bảng phân công công tác trong phòng có mấy dòng Linh gửi lại:
Em đi vội không lên trận địa chào anh được. Em có mượn của anh mấy thứ để đi phép:
- Cái áo dài tay anh treo ở cọc màn (Cái áo này chỉ khi nào hội họp hoăc đối ngoại tôi mới dám xỏ tới).
- Đôi dép rọ của Tàu bằng nhựa màu nâu (Đôi dép ông già kỷ niệm, nhưng tôi đi chả được bao nhiêu vì nó như lính liên hiệp quốc được điều động chạy lòng vòng trong đơn vị chỉ để phục vụ các sỹ quan khi có việc).
- Cho em mượn luôn cả cái quần lót còn ướt anh phơi ngoài sân (Tôi có hai cái mặc trao đổi).

Thế là gần hai tháng giời tôi phải cởi truồng đi ngủ. Được cái đơn vị toàn đực rựa hơn nữa bói đỏ con mắt cũng không đào đâu ra mùi chị em trong bán đảo này. Nên cái quần lót ngày mặc, đêm giặt chỉ là chuyện lỗ kim.

Chuyện mượn quần lót để đi phép, câu chuyện thật mà như đùa. Chả hiểu trong toàn quân có còn trường hợp nào như thế nữa không?
….

Trên đây là một vài kỷ niệm thời tôi đóng quân ở Cam Ranh, tôi nhớ lại lượm lặt kể ra đây hầu các bạn.




 ❧ ❀ ❧ 

Lấy từ Facebook của Duy Đảo 02/11/2014








Những năm 80 thế kỷ trước, lính tráng chúng tôi vẫn còn rất vất vả. Đơn vị chúng tôi đóng quân trong bán đảo, không có dân. Đã thiếu thốn về tinh thần, đời sống vật chất cũng vậy, cực khổ trăm bề. Mang tiếng đóng quân vùng biển mà quanh năm chúng tôi chỉ biết ăn loại cá vụn to hơn đầu ngón chân, xương nhiều hơn thịt, loại cá này người ta mua về chỉ dùng để ủ phân. Thế mà tiếp phẩm đơn vị cũng phải chờ cho tới tan chợ mới dám xông vào mặc cả. Lúc nào cơ thể cũng thiếu chất. Nuôi được con chó mới bằng nắm tay mà ngày nào cũng bị dọa “Các ông thấy thế nào, quyết được chưa?” Con chó “chột” không sao lớn nổi.

Chủ nhật lính tráng bủa đi khắp nơi kiếm ăn để cải thiện đời sống. Nhóm thì ra bờ biển dạng dái cào nghêu. Nhóm thì lùng sục ở những khe đá, lạch nước tìm con cua, con ốc. Nhóm thì chui lủi vào rừng cây trên triền cát bẫy, đào Kỳ Nhông ( Kỳ Nhông giống con Kỳ Đà nhưng nhỏ, mình có hoa sống hoang dã ở vùng cát miền trung, thịt ăn ngon như thịt gà) về làm thức ăn. Có chú lính đi đào Kỳ Nhông mới chín giờ sáng đã chạy về nhà mặt xanh như đít nhái.
-Em suýt chết anh ạ! Thấy hang kỳ Nhông to em dùng xẻng đào, sờ được đuôi nó chưa kịp nắm để kéo ra thì nó đã chui sâu vào trong, giống Kỳ Nhông đào khỏe thật. Miếng ngon trong tầm tay, đang cơn hăng, em chui người vào hang đào việt dã đuổi theo. Khi gần như cả người đã ở trong hang thì bất đồ hang cát ụp xuống. Trời đất tối thui, em vùng vẫy trong tuyệt vọng, trong đầu em đã loáng thoáng- phen này chắc vĩnh biệt Hà Nội. Bản năng gốc bốc lên em dồn hết sức còn lại quậy đạp quả cuối. Thế mà thoát, chui khỏi được cái hang chết tiệt ấy trên người mỗi cái quần đùi bán sống bán chết em chạy một mạch về đơn vị. Chỉ vì miếng ăn mà suýt mất mạng. Quần áo cuốc xẻng và mấy con Kỳ Nhông bắt được cũng chả kịp đem về, em vẫn còn vứt trong rừng.

Sau này tôi phải ra lệnh” Đào Kỳ nhông nhất thiết phải đi hai người” kiên quyết không cho đánh lẻ để đảm bảo an toàn.
Một hôm từ trên trận địa về đã thấy anh em ngồi quây quần bên chậu quân dụng “đạị” đặt giữa nhà, mùi thịt rô ty thơm nức.
- Anh rửa tay đi, chỉ còn chờ anh nữa thôi. Có mấy con thỏ rừng anh em giăng lưới bắt được sáng nay.
Thịt thỏ chắc, béo rô ty đúng bài ngon tuyệt. Sau này mới biết anh em họ lừa. Chậu thịt ấy là chậu thịt chuột cống mà mấy chú lính bắt được trong kho gạo của đơn vị khi tịnh kho cuối tháng, biếu đám sỹ quan chúng tôi. Sợ tôi dân thành phố không dám xơi nên anh em mới nói phét với tôi như thế. Ngon thì ngon thật dưng vẫn sợ, chẳng may bị dịch hạch thì chỉ có nước chết. Nhưng cái đói và cái thiếu nó giúp người ta có nghị lực vượt qua được nghịch cảnh, vượt qua nỗi sợ.
Ngày ấy trang phục quần áo cán bô chiến sỹ trong đơn vị chả khác gì chị Dậu. Quần áo mới mặc hai ba tháng đã tả tơi rơi rụng vì nước nợ và nắng gió vùng biển. Có đợt chả biết lính tráng khuân ở đâu về hàng bao tải quần áo. Rặt loại quần áo quá cỡ, dệt kim màu xanh nhạt, đem về giặt đi sử dụng. Đứa nào lười cứ để mặc lụng thụng như áo dài the. Có đứa sửa đi mặc trông cũng đẹp.

Sau này mới biết quần áo đó là đồ chuyên dụng của bọn thủy thủ tàu ngầm Nga. Tàu ngầm vào tiếp nhiên liệu bảo dưỡng trong cảng, quần áo mặc một lần được tàu ngầm thụt ra biển, sóng gió đánh giạt vào bờ thành nguồn cung cấp quân trang cho đơn vị.

Đơn vị tôi có thiếu úy Linh người Hà Nam còn trẻ chưa vợ. Hôm liên hoan “chào sân” khi mới về nhận công tác. Linh giới thiệu bố là đại tá công tác tại “địa phương”. Tôi nghĩ ở địa phương thì chắc cụ ở bộ tư lệnh quân khu hoặc chí ít cũng cỡ tư lệnh bộ chỉ huy quân sự tỉnh. Tôi gật gù, tay này được đây, sỹ quan trẻ mới ra trường dám lao vào nơi khó khăn để rèn luyện, trong khi có thừa điều kiện. Thế là từ nay tôi có thêm thằng em “cùng gia cảnh” để tâm sự.

Rút cục toàn tin vịt. Linh giới thiệu khôi hài bố em là đại tá “điền”, nhưng chữ “điền” nó truội nhẹ đi từ tai này qua tai kia của đám sỹ quan đang ngà ngà say trong bữa cơm rượu đón Linh, nên chỉ còn hai chữ ĐẠI TÁ. Cũng từ đó Linh bị “đóng đinh” con trai viên đại tá. Thực tế nhà Linh hoàn cảnh lắm. Trong một lần về phép thăm gia đình tôi thò tay vào hai túi quần Linh kiểm tra, khoắng một hồi chỉ thấy có mỗi cái ấy vặt vẹo. Chúng tôi bảo nhau tạm ứng tài vụ ít tiền biếu Linh chi phí đi đường và mua quà cho bố mẹ. Linh cảm động lắm.

Sáng Linh ra bến xe về quê tôi không tiễn được vì phải cho đơn vị huấn luyện trên trận địa. Trưa về nhìn lên bảng phân công công tác trong phòng có mấy dòng Linh gửi lại:
Em đi vội không lên trận địa chào anh được. Em có mượn của anh mấy thứ để đi phép:
- Cái áo dài tay anh treo ở cọc màn (Cái áo này chỉ khi nào hội họp hoăc đối ngoại tôi mới dám xỏ tới).
- Đôi dép rọ của Tàu bằng nhựa màu nâu (Đôi dép ông già kỷ niệm, nhưng tôi đi chả được bao nhiêu vì nó như lính liên hiệp quốc được điều động chạy lòng vòng trong đơn vị chỉ để phục vụ các sỹ quan khi có việc).
- Cho em mượn luôn cả cái quần lót còn ướt anh phơi ngoài sân (Tôi có hai cái mặc trao đổi).

Thế là gần hai tháng giời tôi phải cởi truồng đi ngủ. Được cái đơn vị toàn đực rựa hơn nữa bói đỏ con mắt cũng không đào đâu ra mùi chị em trong bán đảo này. Nên cái quần lót ngày mặc, đêm giặt chỉ là chuyện lỗ kim.

Chuyện mượn quần lót để đi phép, câu chuyện thật mà như đùa. Chả hiểu trong toàn quân có còn trường hợp nào như thế nữa không?
….

Trên đây là một vài kỷ niệm thời tôi đóng quân ở Cam Ranh, tôi nhớ lại lượm lặt kể ra đây hầu các bạn.




 ❧ ❀ ❧ 

Lấy từ Facebook của Duy Đảo 02/11/2014






Thứ Hai, 3 tháng 11, 2014

Thư riêng - Tư liệu chung (5) - Hoàng Anh

Thứ 6 ngày 26 tháng 5 năm 1967.

Má kính mến!
Kỳ trước Bác Hai hỏi thăm sức khỏe và nhờ con mua 2 bút máy nữ để bác tặng bạn bác ấy nhưng trường chưa phát tiền.

Hôm vừa rồi trường phát mỗi người 4đ31 nhân dân tệ con định dành mua bút cho má và tặng bác hai.

Trong tháng 5 con được vào nhóm tu dưỡng để phấn đấu vào đoàn còn gần một tháng nữa thì kết thúc năm học. Nhà trường tổ chức 2 đợt thi đua “Về thăm Quê Bác” và “Thăm quê Anh Bé” con đều không bị trừ cây số nào cả má ạ.

Hàng ngày bọn con: Sáng tập thể dục, gấp chăn màn, ăn sáng chuẩn bị sách vở lên lớp. 12h trưa tập hợp đi đều hát đến bếp ăn cơm trưa. Chiều học 2 tiết, sau đó lao động và đi tắm sông.

Thỉnh thoảng trường tổ chức thao diễn thể dục thể thao gồm duyệt binh, nhảy cao nhẩy xa, đá bóng, đánh xe tăngNguyễn Anh nói... Mình nhớ có bạn Nhân Chột làm mũi tank của mình, còn xe cuối của khóa K 5 là do Nguyễn Thiện Nhân chỉ huy...vui thật.
2 Tháng 11 lúc 08:29
Thắng Tô nói... May còn thư của Nguyễn Anh chứ kô chắc chẳng ai nhớ những trò chơi này nhỉ. Mà cái trò đấu Xe tăng này chơi thế nào?
2 Tháng 11 lúc 16:22
Thắng Tô nói... Hồi An Mỹ mình nhớ có trò Trận giả, có các anh khóa trên xuống giúp chỉ huy, làm trọng tài... , đại đội chia 2 phe quân xanh, quân đỏ, có cờ chỉ huy được giấu nơi kín đáo, và phải bảo vệ vì nếu vào tay đối phương là thua. Mỗi thằng đeo 1 số ghi chữ to vào tờ giấy dán sau lưng, nếu bị đối phương đọc đúng số hay bị dật mất thì coi như bị loại khỏi vòng chiến, rồi cũng lập các đội trinh sát, tấn công, bảo vệ... vui phết.
2 Tháng 11 lúc 16:34
Nguyễn Anh nói... Trò xe tăng hồi đó chơi ngay chỗ đánh bóng rổ sát ngay núi đá lớn của trường y Trung, mỗi lớp có 8 xe, mỗi xe có khoảng 5 người 4 người đầu đều bịt mắt ôm lưng nhau chỉ có chỉ huy xe đứng cuối không bịt mắt , người đứng đầu thì nắm 2 tay dương thẳng như súng theo lệnh xe sang trái phải lùi tiến của chỉ huy, mục tiêu là tránh mũi mà đâm vào hông xe đich cho tan ( ngã rời).
2 Tháng 11 lúc 18:07
Duy Đảo nói... Nhờ những lá thư HA viết cho má gần 50 năm trước mà chúng ta nhớ được cụ thể phần nào cuộc sống của mình những năm ấy . Bởi vì hầu hết chúng ta đều không còn nhớ, hoặc nhớ thì bập bõm bởi thời gian. Thật quý vô cùng.
2 Tháng 11 lúc 19:06
Nguyễn Anh nói... Gần 50 năm rồi đến mình cũng chẳng nhớ nổi hồi ấy nếu không có gì ghi lại ...
2 Tháng 11 lúc 20:40
, chơi công đồn, lần vừa rồi con được xung vào đội Xe tăng đấu với các lớp cấp 2(K5). Hôm ấy xe con làm trưởng xe, đánh rất hăng tiêu diệt gọn 8 xe còn chiếc cuối, khi tiêu diệt nốt thì xe con cũng bị vỡ nhưng cũng giành chiến thắng cuối cùng và lớp con cũng giành nhiều giải nhất như bóng đá, đánh xe tăng, hát… nên nhà trường thưởng cho đại đội con một tượng anh Nguyễn văn Trỗi với nhiều đồ lưu niệm khác nữa…

Con nghe nói ở bên nước bây giờ lương thực khan hiếm lắm, nhà trường đang phát động ăn uống tiết kiệm để giành chống Mỹ cứu nước (nghĩa là không phí phạm đổ vãi).

Dạo này máy bay Mỹ nó bắn phá dữ dội hơn trước, nên con có phần hơi lo lo thế nào ấy. Chỗ má có làm sao không? Vì mới rồi lớp con vừa có bạn có mẹ bị máy bay Mỹ bắn bị thương nặng.     Thôi con tạm dừng bút ở đây. Con chúc má mạnh khỏe.                                    Con Hoàng Anh.






Thứ 6 ngày 26 tháng 5 năm 1967.

Má kính mến!
Kỳ trước Bác Hai hỏi thăm sức khỏe và nhờ con mua 2 bút máy nữ để bác tặng bạn bác ấy nhưng trường chưa phát tiền.

Hôm vừa rồi trường phát mỗi người 4đ31 nhân dân tệ con định dành mua bút cho má và tặng bác hai.

Trong tháng 5 con được vào nhóm tu dưỡng để phấn đấu vào đoàn còn gần một tháng nữa thì kết thúc năm học. Nhà trường tổ chức 2 đợt thi đua “Về thăm Quê Bác” và “Thăm quê Anh Bé” con đều không bị trừ cây số nào cả má ạ.

Hàng ngày bọn con: Sáng tập thể dục, gấp chăn màn, ăn sáng chuẩn bị sách vở lên lớp. 12h trưa tập hợp đi đều hát đến bếp ăn cơm trưa. Chiều học 2 tiết, sau đó lao động và đi tắm sông.

Thỉnh thoảng trường tổ chức thao diễn thể dục thể thao gồm duyệt binh, nhảy cao nhẩy xa, đá bóng, đánh xe tăngNguyễn Anh nói... Mình nhớ có bạn Nhân Chột làm mũi tank của mình, còn xe cuối của khóa K 5 là do Nguyễn Thiện Nhân chỉ huy...vui thật.
2 Tháng 11 lúc 08:29
Thắng Tô nói... May còn thư của Nguyễn Anh chứ kô chắc chẳng ai nhớ những trò chơi này nhỉ. Mà cái trò đấu Xe tăng này chơi thế nào?
2 Tháng 11 lúc 16:22
Thắng Tô nói... Hồi An Mỹ mình nhớ có trò Trận giả, có các anh khóa trên xuống giúp chỉ huy, làm trọng tài... , đại đội chia 2 phe quân xanh, quân đỏ, có cờ chỉ huy được giấu nơi kín đáo, và phải bảo vệ vì nếu vào tay đối phương là thua. Mỗi thằng đeo 1 số ghi chữ to vào tờ giấy dán sau lưng, nếu bị đối phương đọc đúng số hay bị dật mất thì coi như bị loại khỏi vòng chiến, rồi cũng lập các đội trinh sát, tấn công, bảo vệ... vui phết.
2 Tháng 11 lúc 16:34
Nguyễn Anh nói... Trò xe tăng hồi đó chơi ngay chỗ đánh bóng rổ sát ngay núi đá lớn của trường y Trung, mỗi lớp có 8 xe, mỗi xe có khoảng 5 người 4 người đầu đều bịt mắt ôm lưng nhau chỉ có chỉ huy xe đứng cuối không bịt mắt , người đứng đầu thì nắm 2 tay dương thẳng như súng theo lệnh xe sang trái phải lùi tiến của chỉ huy, mục tiêu là tránh mũi mà đâm vào hông xe đich cho tan ( ngã rời).
2 Tháng 11 lúc 18:07
Duy Đảo nói... Nhờ những lá thư HA viết cho má gần 50 năm trước mà chúng ta nhớ được cụ thể phần nào cuộc sống của mình những năm ấy . Bởi vì hầu hết chúng ta đều không còn nhớ, hoặc nhớ thì bập bõm bởi thời gian. Thật quý vô cùng.
2 Tháng 11 lúc 19:06
Nguyễn Anh nói... Gần 50 năm rồi đến mình cũng chẳng nhớ nổi hồi ấy nếu không có gì ghi lại ...
2 Tháng 11 lúc 20:40
, chơi công đồn, lần vừa rồi con được xung vào đội Xe tăng đấu với các lớp cấp 2(K5). Hôm ấy xe con làm trưởng xe, đánh rất hăng tiêu diệt gọn 8 xe còn chiếc cuối, khi tiêu diệt nốt thì xe con cũng bị vỡ nhưng cũng giành chiến thắng cuối cùng và lớp con cũng giành nhiều giải nhất như bóng đá, đánh xe tăng, hát… nên nhà trường thưởng cho đại đội con một tượng anh Nguyễn văn Trỗi với nhiều đồ lưu niệm khác nữa…

Con nghe nói ở bên nước bây giờ lương thực khan hiếm lắm, nhà trường đang phát động ăn uống tiết kiệm để giành chống Mỹ cứu nước (nghĩa là không phí phạm đổ vãi).

Dạo này máy bay Mỹ nó bắn phá dữ dội hơn trước, nên con có phần hơi lo lo thế nào ấy. Chỗ má có làm sao không? Vì mới rồi lớp con vừa có bạn có mẹ bị máy bay Mỹ bắn bị thương nặng.     Thôi con tạm dừng bút ở đây. Con chúc má mạnh khỏe.                                    Con Hoàng Anh.






THỰC TẠI VÀ HOANG ĐƯỜNG 18

THỰC TẠI VÀ HOANG ĐƯỜNG (II)



PHẦN II:     Nền tảng

“Chúng ta có thể mường tượng thế giới của thực tại như là một dòng nước ngầm; thế giới hiện tượng thì ở bề mặt; bên dưới nó chúng ta không nhìn thấy được. Các sự kiện ở tận đáy của dòng nước gây ra bọt và những xoáy nước ở bề mặt. Đó là những chuyển động bức xạ và năng lượng của cuộc sống chung của chúng ta, nó tác động tới các giác quan và do đó, kích thích trí óc chúng ta; ở bên dưới, dòng nước ngầm vẫn chảy”




Nghe lời NTT, chúng ta đã quay lại, đi theo ông ta, ngược hướng trên con đường cũ và quan sát lại toàn bộ cảnh vật mà chúng ta đã từng quan sát biết bao nhiêu lần. Nhờ có NTT mà nhiệt huyết của chúng ta lại hừng hực tâm can và đôi mắt của chúng ta lại long lanh nhìn vạn vật - hiện tượng như chưa từng được nhìn, lại đắm đuối mê si như chưa từng chán nản.
Thường, khi quan tâm đến vấn đề nào đó, người ta thấy rất nhanh, thậm chí là ngay lập tức những sự vật - hiện tượng có liên quan, xảy ra trước mắt (được cho là những hiện hữu có tính trội) trong khi lại đui mù trước nhiều sự vật hiện thực khác, không liên quan gì đến điều người ta đang quan tâm, tuy chúng vẫn hiện hữu ngời ngời trước mũi họ.
Nhờ có sự nhắc nhở của NTT mà lần quan sát này, không bao lâu, chúng ta đã phát hiện được hai cái mà những lần quan sát trước chúng ta đã “ngó” tới hàng trăm lần nhưng không thấy chúng. Hai cái đó chính là Hà Đồ và Lạc Thư. Theo như đánh giá sau này của chúng ta thì chúng là hai báu vật của nền văn minh cổ đại Trung Hoa (rất có thể sự xuất hiện đầu tiên của chúng là ở miền đất phía nam Trung Quốc hay Việt Nam).

THỰC TẠI VÀ HOANG ĐƯỜNG (II)



PHẦN II:     Nền tảng

“Chúng ta có thể mường tượng thế giới của thực tại như là một dòng nước ngầm; thế giới hiện tượng thì ở bề mặt; bên dưới nó chúng ta không nhìn thấy được. Các sự kiện ở tận đáy của dòng nước gây ra bọt và những xoáy nước ở bề mặt. Đó là những chuyển động bức xạ và năng lượng của cuộc sống chung của chúng ta, nó tác động tới các giác quan và do đó, kích thích trí óc chúng ta; ở bên dưới, dòng nước ngầm vẫn chảy”




Nghe lời NTT, chúng ta đã quay lại, đi theo ông ta, ngược hướng trên con đường cũ và quan sát lại toàn bộ cảnh vật mà chúng ta đã từng quan sát biết bao nhiêu lần. Nhờ có NTT mà nhiệt huyết của chúng ta lại hừng hực tâm can và đôi mắt của chúng ta lại long lanh nhìn vạn vật - hiện tượng như chưa từng được nhìn, lại đắm đuối mê si như chưa từng chán nản.
Thường, khi quan tâm đến vấn đề nào đó, người ta thấy rất nhanh, thậm chí là ngay lập tức những sự vật - hiện tượng có liên quan, xảy ra trước mắt (được cho là những hiện hữu có tính trội) trong khi lại đui mù trước nhiều sự vật hiện thực khác, không liên quan gì đến điều người ta đang quan tâm, tuy chúng vẫn hiện hữu ngời ngời trước mũi họ.
Nhờ có sự nhắc nhở của NTT mà lần quan sát này, không bao lâu, chúng ta đã phát hiện được hai cái mà những lần quan sát trước chúng ta đã “ngó” tới hàng trăm lần nhưng không thấy chúng. Hai cái đó chính là Hà Đồ và Lạc Thư. Theo như đánh giá sau này của chúng ta thì chúng là hai báu vật của nền văn minh cổ đại Trung Hoa (rất có thể sự xuất hiện đầu tiên của chúng là ở miền đất phía nam Trung Quốc hay Việt Nam).

Chủ Nhật, 2 tháng 11, 2014

Thư riêng - Tư liệu chung (4) - Hoàng Anh

Thứ 7 ngày 18 tháng 2 năm 1967.


Má kính mến!
Thấm thoắt đã hơn 1 tháng rồi, hôm thứ 3 (là 14/2) con bị sốt, đau họng và nhức đầu phải nằm bệnh xá, từ đó đến nay hay bị nhức choáng đầu, hôm nay thì hơi đỡ, má ăn tết có vui không? Con ở đây ăn tết cũng khá vui tuy trời rét, mưa nhưng vẫn vui chơi trong nhà, tối 30 xem xi nê, về liên hoan đón giao thừa đến 1h sáng, ngủ đến 9h mới dậy, chào cờ và đi chúc tết các thầy cô. Sau đó con về vui chơi với các bạn ở nhà, Trưa ăn liên hoan. Chiều nói chuyện tình hình và tết trong nước. Tối liên hoan văn nghệ, chiều mùng 2 vui chơi toàn trường. Sáng mùng 3 đi học. Má ạ, chúng con tuy ăn tết hòa bình, nhưng đều nhớ đến bố mẹ, anh chị, cô bác đang chiến đấu với giặc Mỹ, cho nên chúng con ăn tết Đinh Mùi vui tươi, phấn khởi, an toàn, tiết kiệm hướng về tổ quốc đang sôi lửa đạn mà học tập.

Qua mấy ngày học tập, lớp con có khí thế thi đua rất sôi nổi má ạ, trong tuần này con được tiểu đội bầu là cá nhân xuất sắc vì có thành tích học tốt và giúp đỡ bạn.

À tháng này con lên 40,6 cân và cao 1m49 má ạ. Ở đây mỗi sáng ăn bánh bao, trưa ăn cơm con ăn được 1 bát lớn (bát 17cm) má ạ. Dạo này má có khỏe không? Em L ăn tết có vui không? Ba có viết thư ra không hả má? Má viết thư cho con nhé! Thôi con tạm dừng bút ở đây, mong má khỏe đạt nhiều thành tích trong công tác, con cũng cố giữ gìn sức khỏe để học tập tốt để má vui lòng.

Thương má nhiều con của má.
               Hoàng Anh.

Xuân Đinh Mùi nhà ta đi tứ phương.
Hòm thư 2212 (B6) Quế Lâm Trung Quốc .







Thứ 7 ngày 18 tháng 2 năm 1967.


Má kính mến!
Thấm thoắt đã hơn 1 tháng rồi, hôm thứ 3 (là 14/2) con bị sốt, đau họng và nhức đầu phải nằm bệnh xá, từ đó đến nay hay bị nhức choáng đầu, hôm nay thì hơi đỡ, má ăn tết có vui không? Con ở đây ăn tết cũng khá vui tuy trời rét, mưa nhưng vẫn vui chơi trong nhà, tối 30 xem xi nê, về liên hoan đón giao thừa đến 1h sáng, ngủ đến 9h mới dậy, chào cờ và đi chúc tết các thầy cô. Sau đó con về vui chơi với các bạn ở nhà, Trưa ăn liên hoan. Chiều nói chuyện tình hình và tết trong nước. Tối liên hoan văn nghệ, chiều mùng 2 vui chơi toàn trường. Sáng mùng 3 đi học. Má ạ, chúng con tuy ăn tết hòa bình, nhưng đều nhớ đến bố mẹ, anh chị, cô bác đang chiến đấu với giặc Mỹ, cho nên chúng con ăn tết Đinh Mùi vui tươi, phấn khởi, an toàn, tiết kiệm hướng về tổ quốc đang sôi lửa đạn mà học tập.

Qua mấy ngày học tập, lớp con có khí thế thi đua rất sôi nổi má ạ, trong tuần này con được tiểu đội bầu là cá nhân xuất sắc vì có thành tích học tốt và giúp đỡ bạn.

À tháng này con lên 40,6 cân và cao 1m49 má ạ. Ở đây mỗi sáng ăn bánh bao, trưa ăn cơm con ăn được 1 bát lớn (bát 17cm) má ạ. Dạo này má có khỏe không? Em L ăn tết có vui không? Ba có viết thư ra không hả má? Má viết thư cho con nhé! Thôi con tạm dừng bút ở đây, mong má khỏe đạt nhiều thành tích trong công tác, con cũng cố giữ gìn sức khỏe để học tập tốt để má vui lòng.

Thương má nhiều con của má.
               Hoàng Anh.

Xuân Đinh Mùi nhà ta đi tứ phương.
Hòm thư 2212 (B6) Quế Lâm Trung Quốc .







Thứ Năm, 30 tháng 10, 2014

Blog Liệt sĩ Trường Trỗi


Blog K6 có bài Tưởng nhớ các Anh hùng Liệt sĩ  để lưu các thông tin về liệt sĩ của Trường và AHLS Nguyễn Văn Trỗi: ảnh, thông tin liệt sĩ, các bài viết liên quan lấy từ các Blog Bạn Trỗi các khóa cũng như trên mạng dưới dạng đường dẫn (link). Tuy nhiên đường dẫn của các bài sưu tầm hay bị "chết" theo thời gian nên từ lâu tôi đã có ý định đăng lại toàn bài chứ không chỉ đường dẫn.
Vừa qua, nhân dịp kỉ niệm 50 năm ngày Anh Trỗi hi sinh, và cũng hướng tới kỉ niệm 50 năm Trường Trỗi 1965-2015, tôi đã chuyển thành Blog Tưởng nhớ các Anh Hùng Liệt Sỹ để ACE, nhất là những người lên mạng muộn tiện theo dõi. Vì cũng hơi vội nên giao diện và bố cục mới là tạm thời, còn phải sửa và hoàn thiện dần.
Rất mong các thầy cô và ACE, nhất là các "tổng quản" Blog các khóa tham gia, góp ý, sửa lỗi, cập nhật thông tin liệt sĩ...
Xin cảm ơn trước!






Blog K6 có bài Tưởng nhớ các Anh hùng Liệt sĩ  để lưu các thông tin về liệt sĩ của Trường và AHLS Nguyễn Văn Trỗi: ảnh, thông tin liệt sĩ, các bài viết liên quan lấy từ các Blog Bạn Trỗi các khóa cũng như trên mạng dưới dạng đường dẫn (link). Tuy nhiên đường dẫn của các bài sưu tầm hay bị "chết" theo thời gian nên từ lâu tôi đã có ý định đăng lại toàn bài chứ không chỉ đường dẫn.
Vừa qua, nhân dịp kỉ niệm 50 năm ngày Anh Trỗi hi sinh, và cũng hướng tới kỉ niệm 50 năm Trường Trỗi 1965-2015, tôi đã chuyển thành Blog Tưởng nhớ các Anh Hùng Liệt Sỹ để ACE, nhất là những người lên mạng muộn tiện theo dõi. Vì cũng hơi vội nên giao diện và bố cục mới là tạm thời, còn phải sửa và hoàn thiện dần.
Rất mong các thầy cô và ACE, nhất là các "tổng quản" Blog các khóa tham gia, góp ý, sửa lỗi, cập nhật thông tin liệt sĩ...
Xin cảm ơn trước!





Thứ Tư, 29 tháng 10, 2014

THỰC TẠI & HOANG ĐƯỜNG 17


PHẦN II:     Nền tảng

“Chúng ta có thể mường tượng thế giới của thực tại như là một dòng nước ngầm; thế giới hiện tượng thì ở bề mặt; bên dưới nó chúng ta không nhìn thấy được. Các sự kiện ở tận đáy của dòng nước gây ra bọt và những xoáy nước ở bề mặt. Đó là những chuyển động bức xạ và năng lượng của cuộc sống chung của chúng ta, nó tác động tới các giác quan và do đó, kích thích trí óc chúng ta; ở bên dưới, dòng nước ngầm vẫn chảy”

CHƯƠNG V: TƯƠNG ĐỒNG

“Các qui luật thường xuyên và bất biến, tác động tới tất cả mọi vận động, tất cả mọi biến đổi của các vật thể. Chính tự nhiên đặt ra một trật tự và một sự hài hòa bất di bất dịch trong vũ trụ, và vũ trụ thì tuy luôn luôn biến đổi trong những bộ phận của nó, nhưng bao giờ cũng là như thế trong toàn bộ của nó ”
Lamarck




Từ trước đến nay, đã có biết bao nhiêu nghiên cứu, bao nhiêu sách nói về Âm Dương, Bát Quái cũng như Kinh Dịch. Nhiều học giả thấy ở đó nhiều điều kỳ lạ, huyền bí. Ngay cả các nhà khoa học danh tiếng cũng trầm trồ thán phục nhiều sự trùng hợp của Kinh Dịch với những vấn đề toán học, vật lý học, y học…
Nhờ có NTT mà chúng ta thấy rằng có được sự trùng hợp kỳ lạ đó vì Âm Dương, Bát Quái nói riêng và Kinh Dịch nói chung xuất hiện là có nguyên nhân trực tiếp, đầu tiên từ yêu cầu nhận thức thực tại khách quan của con người. Qua một quá trình nhận thức và nhận thức lại dài lâu mà khái niệm Âm Dương xuất hiện. Trên cơ sở quan niệm Âm - Dương  về tự nhiên phải nói là dù thô sơ nhưng chính xác ấy mà cả một Vũ Trụ quan Kinh Dịch ra đời, giải thích khá “rành mạch” những hiện tượng biến đổi, xoay vần, xu thế tất yếu của những chu trình của tự nhiên cũng như của xã hội. Nó được nghiệm chứng vì trong nội dung của nó hàm chứa những nguyên lý phổ quát của Tự Nhiên Tồn Tại. Chính vì lẽ đó mà có sự trùng hợp nhất định giữa Kinh Dịch và một số vấn đề của khoa học tự nhiên.
Bây giờ chúng ta không còn ngạc nhiên về Kinh Dịch nữa nhưng sự khâm phục của chúng ta đối với thuyết âm dương - ngũ hành của Phương Đông cổ đại thì vẫn còn đó, thậm chí là càng khâm phục hơn!

PHẦN II:     Nền tảng

“Chúng ta có thể mường tượng thế giới của thực tại như là một dòng nước ngầm; thế giới hiện tượng thì ở bề mặt; bên dưới nó chúng ta không nhìn thấy được. Các sự kiện ở tận đáy của dòng nước gây ra bọt và những xoáy nước ở bề mặt. Đó là những chuyển động bức xạ và năng lượng của cuộc sống chung của chúng ta, nó tác động tới các giác quan và do đó, kích thích trí óc chúng ta; ở bên dưới, dòng nước ngầm vẫn chảy”

CHƯƠNG V: TƯƠNG ĐỒNG

“Các qui luật thường xuyên và bất biến, tác động tới tất cả mọi vận động, tất cả mọi biến đổi của các vật thể. Chính tự nhiên đặt ra một trật tự và một sự hài hòa bất di bất dịch trong vũ trụ, và vũ trụ thì tuy luôn luôn biến đổi trong những bộ phận của nó, nhưng bao giờ cũng là như thế trong toàn bộ của nó ”
Lamarck




Từ trước đến nay, đã có biết bao nhiêu nghiên cứu, bao nhiêu sách nói về Âm Dương, Bát Quái cũng như Kinh Dịch. Nhiều học giả thấy ở đó nhiều điều kỳ lạ, huyền bí. Ngay cả các nhà khoa học danh tiếng cũng trầm trồ thán phục nhiều sự trùng hợp của Kinh Dịch với những vấn đề toán học, vật lý học, y học…
Nhờ có NTT mà chúng ta thấy rằng có được sự trùng hợp kỳ lạ đó vì Âm Dương, Bát Quái nói riêng và Kinh Dịch nói chung xuất hiện là có nguyên nhân trực tiếp, đầu tiên từ yêu cầu nhận thức thực tại khách quan của con người. Qua một quá trình nhận thức và nhận thức lại dài lâu mà khái niệm Âm Dương xuất hiện. Trên cơ sở quan niệm Âm - Dương  về tự nhiên phải nói là dù thô sơ nhưng chính xác ấy mà cả một Vũ Trụ quan Kinh Dịch ra đời, giải thích khá “rành mạch” những hiện tượng biến đổi, xoay vần, xu thế tất yếu của những chu trình của tự nhiên cũng như của xã hội. Nó được nghiệm chứng vì trong nội dung của nó hàm chứa những nguyên lý phổ quát của Tự Nhiên Tồn Tại. Chính vì lẽ đó mà có sự trùng hợp nhất định giữa Kinh Dịch và một số vấn đề của khoa học tự nhiên.
Bây giờ chúng ta không còn ngạc nhiên về Kinh Dịch nữa nhưng sự khâm phục của chúng ta đối với thuyết âm dương - ngũ hành của Phương Đông cổ đại thì vẫn còn đó, thậm chí là càng khâm phục hơn!

Chủ Nhật, 26 tháng 10, 2014

Tiếp "Bắc Thái và những kỉ niệm" - Nguyễn Văn Nam







Bắc Thái và những kỉ niệm

(Tiếp theo bài viết của Hoàng Anh)


Cám ơn H.A.! Đọc những gì bạn kể, trong đầu Nam lại trỗi dậy những hình ảnh đã nằm ngủ im cách đây gần nửa thế kỷ. Nhà ở của lớp của bọn mình (lớp Trung văn) nằm dưới chân đồi, trước nhà là một khoảng sân rông, xa một chút nữa là sân bóng đá, phía bên tay phải (từ nhà nhìn ra) là lớp học, đi tiếp xuống dưới là trung đội khác (học Nga văn), xuống một chút nữa là nhà của một bác thợ rèn người địa phương (Nam đã nhờ rèn một con dao găm rất đẹp nhưng không dám cho ai biết vì sợ bị tịch thu). Sâu xuống dưới nữa là một con suối nhỏ cắt ngang con đường mòn dẫn vào rừng. Đến giờ cơm (theo hiệu lệnh kẻng - một hồi dài) trung đội "rồng rắn" hành quân ngược dốc qua nhà Thầy Trường (đại đội trưởng) lên nhà ăn trên đỉnh dốc. Khu vực nhà ăn gồm ba bốn cái lán bố cục hình chữ "U" nhìn ra một lũng nhỏ, dưới là một con lạch chạy ngang (nơi rửa bát và xoong chậu). Nhìn chếch lên phía bên trái có một cây dọc chua rất đẹp (như H. Anh kể), phía dưới đó không xa là cái cối dã gạo bằng sức nước của đồng bào. Lần đầu tiên trong đời nhìn thấy "vật lạ", mình cố xuống tận nơi xem cho bằng được. Vốc một nắm nhỏ đưa lên mũi - mùi gạo nương thơm phức!. Bỗng một ý nghĩ vụt thoáng qua "cứ để thế này không ai trông thì chim ăn hoặc mất trộm thì sao nhỉ?". Nhưng đâu có phải vây, người dưới xuôi thì sợ, còn đồng bào dân tộc họ chẳng lấy cắp của nhau bao giờ.




Nhớ có lần - cơm chiều xong, trời đổ mưa lớn. Không có áo mưa, cả bọn túm tụm ngay đầu hồi gõ bát và kể chuyện tào lao ... chờ thế này thì đến bao giờ? Bỗng một thằng (hình như là Chỉnh thọt, hay Tuấn hăm) đưa ra sáng kiến: vo quần áo lại, lấy bát ụp lên (che cho có vì...). Thế là cả bọn khoảng chục đứa, nhanh chóng trút bỏ "xiêm y" tông ngông phi thẳng về nhà. Đi dưới trời mưa trong trạng thái "Thổ dân" thích thật! Cứ thử một lần khắc biết - giữa núi rừng mù mịt mưa gió, ta như bị tan ra, trôi... trôi theo giọt mưa thấm vào trong đất.

Còn nhớ: Thầy Trường hồi đó đeo quân hàm pháo binh. Thầy rất thính tai. Cứ mỗi lần nghe thầy hô: "Có máy bay đấy - xuống hầm..." và ngay sau đó là hồi kẻng ba tiếng một keng, keng, keng dừng một tí, keng, keng, keng ... là cả lớp lục tục ra hầm. Hầm trú ẩn nằm ngay đầu nhà, nối với nó là một con hào dài chạy xung quanh nhà ở và lớp học. Nhưng bọn mình rất ít khi xuống hầm (vì sợ có rắn), cả bọn thường chui ra vạt sắn ngay cạnh dõi theo hướng Thái Nguyên - nơi mà từng đàn F4, F105 thay nhau kéo vào đánh phá khu gang thép. Vì ở xa nên cả bọn thi thoảng mới nghe thấy tiếng bom, tiếng lụp bụp của đạn cao xạ (của một trận địa gần) nổ trên không và những cụm khói đen giăng kín một khoảng trời. Và có một hình ảnh tớ không bao giờ quên: lần đầu tiên trong đời thấy máy bay Mỹ rơi. Một chiếc F4 trúng đạn cao xạ, kéo khói đen, cắm đầu xuống bên kia đồi hướng Trại Cau. Lơ lửng trong không trung thấp thoáng trong làn khói đen là hai cái dù (nửa trắng, nửa cam) cũng khuất theo hướng đó... Thôi! lan man cũng nhiều rồi, nếu cứ nhớ và chia sẻ thì còn dài lắm lắm...! Cám ơn Hoàng Anh! (nhớ: Đỗ nhĩ, Đinh Quân, Hoàng Anh là những trò cưng của thầy Trường mà). Giờ THẦY ở đâu? Nào ai có biết!!

 ❧ ❀ ❧ 

Nguồn: FB Van Nam Nguyen
Xem thêm: Bắc Thái và những kỉ niệm - Hoang Anh, 24/10/2014, Blog K6.


 







Bắc Thái và những kỉ niệm

(Tiếp theo bài viết của Hoàng Anh)


Cám ơn H.A.! Đọc những gì bạn kể, trong đầu Nam lại trỗi dậy những hình ảnh đã nằm ngủ im cách đây gần nửa thế kỷ. Nhà ở của lớp của bọn mình (lớp Trung văn) nằm dưới chân đồi, trước nhà là một khoảng sân rông, xa một chút nữa là sân bóng đá, phía bên tay phải (từ nhà nhìn ra) là lớp học, đi tiếp xuống dưới là trung đội khác (học Nga văn), xuống một chút nữa là nhà của một bác thợ rèn người địa phương (Nam đã nhờ rèn một con dao găm rất đẹp nhưng không dám cho ai biết vì sợ bị tịch thu). Sâu xuống dưới nữa là một con suối nhỏ cắt ngang con đường mòn dẫn vào rừng. Đến giờ cơm (theo hiệu lệnh kẻng - một hồi dài) trung đội "rồng rắn" hành quân ngược dốc qua nhà Thầy Trường (đại đội trưởng) lên nhà ăn trên đỉnh dốc. Khu vực nhà ăn gồm ba bốn cái lán bố cục hình chữ "U" nhìn ra một lũng nhỏ, dưới là một con lạch chạy ngang (nơi rửa bát và xoong chậu). Nhìn chếch lên phía bên trái có một cây dọc chua rất đẹp (như H. Anh kể), phía dưới đó không xa là cái cối dã gạo bằng sức nước của đồng bào. Lần đầu tiên trong đời nhìn thấy "vật lạ", mình cố xuống tận nơi xem cho bằng được. Vốc một nắm nhỏ đưa lên mũi - mùi gạo nương thơm phức!. Bỗng một ý nghĩ vụt thoáng qua "cứ để thế này không ai trông thì chim ăn hoặc mất trộm thì sao nhỉ?". Nhưng đâu có phải vây, người dưới xuôi thì sợ, còn đồng bào dân tộc họ chẳng lấy cắp của nhau bao giờ.




Nhớ có lần - cơm chiều xong, trời đổ mưa lớn. Không có áo mưa, cả bọn túm tụm ngay đầu hồi gõ bát và kể chuyện tào lao ... chờ thế này thì đến bao giờ? Bỗng một thằng (hình như là Chỉnh thọt, hay Tuấn hăm) đưa ra sáng kiến: vo quần áo lại, lấy bát ụp lên (che cho có vì...). Thế là cả bọn khoảng chục đứa, nhanh chóng trút bỏ "xiêm y" tông ngông phi thẳng về nhà. Đi dưới trời mưa trong trạng thái "Thổ dân" thích thật! Cứ thử một lần khắc biết - giữa núi rừng mù mịt mưa gió, ta như bị tan ra, trôi... trôi theo giọt mưa thấm vào trong đất.

Còn nhớ: Thầy Trường hồi đó đeo quân hàm pháo binh. Thầy rất thính tai. Cứ mỗi lần nghe thầy hô: "Có máy bay đấy - xuống hầm..." và ngay sau đó là hồi kẻng ba tiếng một keng, keng, keng dừng một tí, keng, keng, keng ... là cả lớp lục tục ra hầm. Hầm trú ẩn nằm ngay đầu nhà, nối với nó là một con hào dài chạy xung quanh nhà ở và lớp học. Nhưng bọn mình rất ít khi xuống hầm (vì sợ có rắn), cả bọn thường chui ra vạt sắn ngay cạnh dõi theo hướng Thái Nguyên - nơi mà từng đàn F4, F105 thay nhau kéo vào đánh phá khu gang thép. Vì ở xa nên cả bọn thi thoảng mới nghe thấy tiếng bom, tiếng lụp bụp của đạn cao xạ (của một trận địa gần) nổ trên không và những cụm khói đen giăng kín một khoảng trời. Và có một hình ảnh tớ không bao giờ quên: lần đầu tiên trong đời thấy máy bay Mỹ rơi. Một chiếc F4 trúng đạn cao xạ, kéo khói đen, cắm đầu xuống bên kia đồi hướng Trại Cau. Lơ lửng trong không trung thấp thoáng trong làn khói đen là hai cái dù (nửa trắng, nửa cam) cũng khuất theo hướng đó... Thôi! lan man cũng nhiều rồi, nếu cứ nhớ và chia sẻ thì còn dài lắm lắm...! Cám ơn Hoàng Anh! (nhớ: Đỗ nhĩ, Đinh Quân, Hoàng Anh là những trò cưng của thầy Trường mà). Giờ THẦY ở đâu? Nào ai có biết!!

 ❧ ❀ ❧ 

Nguồn: FB Van Nam Nguyen
Xem thêm: Bắc Thái và những kỉ niệm - Hoang Anh, 24/10/2014, Blog K6.