Thứ Sáu, 12 tháng 9, 2008

Thời thơ ấu - Duy Đảo



THỜI THƠ ẤU

Đào Duy

Mẹ tôi sinh tôi ở Thanh Hóa, nơi gia đình tản cư trong kháng chiến. khi tôi được bốn năm tháng tuổi thì Hiệp định Gionevơ ký kết. Gia đình từ Thanh Hóa gồng gánh “theo sau” đoàn quân trong đó có đơn vị của ông già về tiếp quản thành phố cảng Hải Phòng.
Suốt thời thơ ấu tôi sống và học ở thành phố này nên Hải Phòng có rất nhiều kỷ niệm gắn bó với tôi.
Có những đêm ngủ chập chờn vì tuổi tác hoặc đôi khi gặp bạn bè cũ vui, quá chén về trằn trọc lúc tỉnh, lúc mơ là khi ấy những hình ảnh của một thời thơ cũ như vệt nắng chiều nhạt nhòa lại ùa về trong trí não.
Tôi không bao giờ quên hình ảnh những người phu hoa kiều mình trần, bóng nhẫy mồ hôi đẩy xe ba gác chở những cây gỗ lớn (mỗi xe chở tới hai ba cây đường kính 40-50 phân dài 6-7 mét) lên dốc nơi vườn hoa “Con Cóc” ra tập kết tại bãi trước cảng, chờ tàu nước ngoài “ăn hàng”. Họ có những bài hò rất hay khi cần để tập tập trung sức đẩy xe. Tôi lẽo đẽo biết bao lần theo sau để nghe những bài hò ấy: “Ới dô ta, hò dô ta, ới dô, hò dô, ới dô, hò dô....” Chả hiểu sao ở Hải Phòng người Hoa họ chọn rặt những nghề nặng nhọc, lam lũ để mưu sinh?

Có tối xin mẹ mấy xu rủ lũ bạn xem phim đèn chiếu. “Rạp” là một chiếc xe đẩy ba bánh, phía trên là một cái hòm lớn bằng gỗ làm “phòng chiếu”. Mỗi bên hòm có ba bốn cái “lỗ”, khán giả chổng mông lên, cúi xuống đưa mắt nhìn vào trong xem. Khi đã đủ người (lắm lúc chả đủ) ông chủ rạp một tay quay phim, miệng thuyết minh nhiều khi chả ăn nhập gì với hình ảnh. Phim là những trích đoạn trong Tam Quốc hoặc Tây Du. Phim đèn chiếu người, ngựa, xe cộ … “cứng đơ”, chỉ là những hình ảnh chậm chạp, kế tiếp nhau nhưng hình vẽ rất khéo và lời thuyết minh thì ngẫu hứng hấp dẫn vô cùng.
Khi khách không còn nhu cầu, ông chủ “rạp” đẩy xe đi phục vụ nơi khác. Khán giả chủ yếu là bọn trẻ lóc nhóc chúng tôi, nhưng đôi khi có ông, có bà do “nhu cầu” văn hóa nên cũng sát cánh cùng “thưởng thức”.
Nhiều lúc tôi cứ tự hỏi, có “nhẽ” mình là một trong những khán giả cuối cùng của dòng phim và “rạp” kiểu này. Bây giờ tôi kể đây, tôi tin nhiều bạn cùng lứa chả ai còn nhớ. 

Có hôm tôi bỏ học đi theo để xem một đám tang. Hồi ấy người chết ít lắm!!! Chả biết có đúng không? họa hoằn mới được “chiêm ngưỡng” những đám tang nên chúng tôi ít khi bỏ qua. Trong đầu tôi đám tang hồi ấy là một sinh hoạt “văn hóa” rất “hoành tráng” và trang trọng hình thức tổ chức cũng khác bây giờ.
Đi đầu là hai hàng dọc cỡ hơn chục người trong trang phục như lính “khố xanh” ngày xưa, nhưng màu đen, có viền trắng, đầu đội nón giống như nón vẫn bán ở khu Hàng Ngang, Hàng Đào cho khách du lịch. Vành nhỏ, viền sẫm, phía trên chóp có túm vải điều lắc lư, chân quấn xà cạp tới đầu gối. Trên tay mỗi người là một lá cờ hình chữ nhật hoặc đuôi nheo to, nền đen, tua trắng.
Phía sau họ là đội nhạc với các loại kèn, nhị chủ yếu là kèn ta (kèn đám ma) và trống giữ nhịp. Tiếng kèn, tiếng trống, tiếng nhị nghe ai oán, thảm thiết cả một vùng.
Đi sau là cỗ xe song mã rất đẹp như trong cổ tích. Bên trong đặt quan tài người quá cố. Hai chú ngựa to cao, được phủ một lớp áo kim tuyến óng ánh trên nền cùng màu với cỗ xe tang. Bốn góc xe phía trên, gắn bốn cây “bông” giống như chổi lông gà, xù lông màu xám. Quanh thành xe có đăng ten rủ xuống. Bốn bánh xe sơn đen, viền trắng như xe duyệt binh.
Sau xe là gia quyến, người thân với giải băng trắng trên đầu rồi tiếp nữa là bà con chòm xóm quen biết.
Xe tang lững thững, chậm chạp vòng vèo qua nhiều con phố. Có lẽ người nhà muốn cho kẻ quá cố lần cuối cùng đi lại trên những con đường thân thuộc lúc sinh thời, trước khi về cõi âm. Rồi dòng người đưa tiễn theo xe tang về một nghĩa trang nào đó xa vắng phía ngoại ô.

Tôi có may mắn khi học cấp một, được học ở ngôi trường mà kề bên là những địa danh khá nổi tiếng của Hải Phòng.

Trường tôi nằm ngay đầu cầu Hạ Lý có con sông Tam Bạc chảy qua. Bạn bè trong lớp phần đông là con cái thuyền chài, lang bạt trên những con thuyền, chiều về nằm chen chúc trên bến sông.
Hai bờ Tam Bạc tiếng búa của những người thợ gõ rỉ chan chát trên thân những con tàu, xà lan nghe nao động cả một vùng sông nước từ mờ sáng tới tối khuya.
Trước cổng trường tôi có một vườn hoa nhỏ, nhưng tôi chả thấy hoa lá gì, chỉ là khoảng đất trống, đôi ba chiếc ghế xi măng nằm hờ hững. Là “bãi đáp” cho mấy tay người tàu, “sơn đông mãi võ” biểu diễn cùng chú khỉ đít đỏ như lửa, bán cao đơn hoàn tán.
Xung quanh vườn hoa rặt loại cây cao, lá to, chúng tôi gọi là “cây ngứa”. Mùa ra quả mấy đứa nghịch trong lớp lấy xuống, hạt của nó có lông, lông này mà bỏ xuống ghế ngồi của bạn gái, của cô, của thầy thì gãi đến rách đít.
Có hôm vào lớp muộn vì mải ngồi xem ông lão bán “tò he” ngay sát cổng trường. Từ Quan Công đến Lỗ Chí Thâm từ Trương Phi tới Tôn Ngộ Không … bàn tay của ông thợ như múa trên những miếng bột đủ màu. Thích gì được nấy, chỉ trong vòng một hai phút Chơi chán, khi bột đã khô chúng tôi thường ngả ra đánh chén. Bột gạo nhàn nhạt chả có mùi vị gì.
Vừa rồi tôi có ông “bạn già” bị chứng ung thư, “quẫn lên” lại đổ riệt cho là tại ngày xưa ăn nhiều “tò he” chứa phẩm màu công nghiệp nên bây giờ mới “phát”
Nghĩ lại, ngày ấy làm quái gì có phẩm màu hóa chất, chỉ toàn màu chế từ hoa, lá tự nhiên. Cũng may! chứ không lại mang tiếng oan, tội cho hương hồn ông già bán “tò he” năm nào.
Phía bên trái trường là chợ “Baty”, chợ đã có từ lâu lắm. Chợ nhỏ nhưng đủ cả, chả thiếu thứ gì, các bà nội trợ khó tính mấy cũng vừa lòng khi xách làn ra khỏi chợ.
Còn với chúng tôi thì khỏi nói: thịt bò khô, ốc mút, khế dầm, táo dầm, đu đủ dầm, kẹo kéo (mua kẹo được xem truyện tranh tam quốc miễn phí) thạch, bánh bò … tùy khẩu vị và túi tiền.
Tôi có người chị học trên mấy lớp, chị tôi có thú “sưu tầm” tiền mới. Mỗi kỳ lĩnh lương của ông bà già, chị tôi thường xin một hai hào rồi ép vào cuốn sổ. Thế quái nào tôi rình mò biết được. Thế là mỗi sáng đi học tôi “nhõn” một tờ. Bao nhiêu thèm khát, bao nhiêu món “ngon” mà tôi đã kể ở trên bán nơi cổng trường, tôi lần lượt xơi hết.
Chiếc kim giấu lâu trong bọc rồi cũng có ngày lòi ra. Một chiều đen đủi, bà chị tôi phát hiện ra tài khoản của mình bị “lõm” gần hết. Thế là bà ấy lăn ra khóc như “mưa rào tháng sáu”, đố ai dỗ được. Sau đó là màn “khai báo” với bố mẹ tôi. Tôi bị trận đòn tưởng “chết”.

Con đường nhỏ gần trường nơi tọa lạc nhà thờ lớn. Nhà thờ uy nghi, cổ kính rêu phong. Chiều về trong tiếng chuông ngân nga, nghe buồn buồn như tiếng than của đám tông đồ nghe tin “ngài” bị lũ “Giu đa” đóng đinh trên thánh giá.
Những ánh mắt nhìn như hớp hồn của đám nữ dòng tu, làm lỡ nhịp bao trái tim cánh mày râu. Những tà áo dài thướt tha của các bà,các cô đi lễ làm dịu dàng, mềm mại những con phố vốn toàn thợ thuyền, thô vụng.
Bên kia đường, cạnh nhà thờ ngày xưa là nhà dòng. Sau 1954 nhà nước trưng dụng làm trường học rồi sau là trường học sinh miền nam. Ngôi trường này là cảm hứng của bài thơ “Chú đi tuần” trong sách tập đọc năm nào mà tôi còn nhớ.
“… Chú đi tuần đêm nay
Hải Phòng yên giấc ngủ say
Cây rung theo gió lá bay xuống đường.
Chú đi qua cổng trường,
Các cháu Miền Nam yêu mến …”
Bên hông trường, phía phải là cửa hàng ăn.
Về cái cửa hàng ăn này, ông chú họ của tôi có một kỷ niệm cười ra nước mắt. Tiện đây tôi kể cho các bạn nghe.
Số là thế này: Ông chú tôi ở quê ra chơi, đưa thiệp và mời bố mẹ tôi về quê ăn cỗ cưới và tranh thủ sắm sửa vài thứ chuẩn bị cho hôn lễ.
Một hôm ông chú đi đâu, mất hút từ sáng cho tới chiều, để cả nhà phải chờ cơm. Bữa tối ngồi nhìn cái đầu “đít vịt” bờm lên còn mới toanh của chú, bố tôi chửi toáng lên.
Chú tôi miệng “múm mím”chống chế:
- Đời em cho tới hôm nay, nhờ có anh, có chị, em mới ra được đến tỉnh. Hôm đi thằng bạn trong xóm còn dọa “Ra tỉnh, ông có đi đâu chơi thì đi, dưng phải về sơm sớm, không “cổng tỉnh” nó mà đóng thì chỉ có nước ngủ ngoài đường.”. Em cũng hãi.
- Ngày cưới vợ là thời điểm trang trọng cả đời người, em “trang trí, sửa sang” lại cái đầu tí chút để chụp lấy tấm hình đôi lứa làm kỷ niệm chứ có phải đua đòi tư sản … gì đâu. Anh cứ hay nâng quan điểm, em kinh lắm.
Kể ra em có tí “đoàn”, tí “đảng” thì anh mắng nó lại ra một nhẽ, đằng này ở xã bọn quan chức nó ghét em như “khỉ ghét mắm tôm”.
Anh chị thoát ly, xa quê lâu nên không biết.
Ở quê em có nghề chài lưới, tuy là nghề tay trái nhưng tay lưới của em trong làng ai cũng “kính nể”. Em sát cá, cứ xách lưới, dông thuyền đi là y như rằng khi về hơn chục ký cá cầm chắc. Chỉ cá to em mới bắt. Có hôm vớ được cả “ba ba, thuồng luồng” mỗi con đến vài ký.
Thế mà làng xóm đố có thấy em thì thụt ở nhà mấy tay cán bộ ủy ban để biếu “chúng” lấy một con.
Có lần họp đảng ủy (đã họp là phải đánh chén) xã gợi ý em ủng hộ vài ký cá tươi, em cứ lờ đi, nên nó ghét.
Nói anh chị không hiểu, lại bảo là em đãi bôi. Hôm lên thăm anh chị em ra ủy ban xin cái giấy giới thiệu để đem theo cặp gà thiến, mấy cân nếp cùng con cá Trắm đen năm ký mà em phơi khô ra biếu anh chị.
Tiên sư chúng nó! Trình bày đến khô miệng, rã họng mà chúng nó không cho, lại còn nói là em lợi dụng buôn bán phá rối thị trường.
Nó chỉ cho em đem theo mỗi con cá khô. Tức mình! em cóc thèm nữa, để tới khi anh chị về dự đám cưới, em gửi anh chị đem đi, xem chúng nó có dám bám theo xe hơi ông tá, ông tướng đòi kiểm tra giấy tờ, kiểm tra hàng hóa không?
Nói rồi ông chú tôi gãi gãi đầu, dưng không dám gãi mạnh sợ mất nếp cái đầu “đít vịt” mới làm:
- Anh mắng thì em chịu! Chứ thực ra em cũng chẳng sung sướng gì, khó chịu lắm anh ơi!
Ngồi làm cái đầu dễ hơn tiếng đồng hồ, ê cả đít, mà chả biết nó bôi rồi kẹp cái quái gì vào đầu mà em ngửi như mùi chuột chết. Sau đó tay thợ còn cầm cái ống mạ kền bóng loáng, cắm điện quay vo vo, thổi vào đầu nóng như thui chó…
- Cạch! Lần sau anh có cho không tiền để em làm cái đầu mới, em cũng chịu. Mà tiền nong nào có ít, mất toi cả buổi kéo lưới cật lực của em ở quê.
Thấy chú tôi nói năng không được tự nhiên, miệng cứ chúm cha chúm chím bố tôi tức mình:
- Mày chỉ được cái giỏi cãi, mở to miệng ra ăn nói đàng hoàng cho tao xem nào.
Bất đồ chú há miệng ra. Cả nhà tôi trố mắt kinh ngạc.
Hai chiếc răng cửa của chú trắng là thế đã mất toi từ lúc nào. Thay vào đấy là hai chiếc răng vàng chóe, phản chiếu ánh điện càng thêm “lộng lẫy”. Tôi nhìn chói hết cả mắt. Tôi để ý thấy một chiếc thì vàng hết, một chiếc chỉ viền vàng xung quanh, chừa ở khoảng giữa là hình một trái tim trăng trắng bé xíu, nền của chiếc răng cũ.
Thế là lại một chầu nữa chú bị bố tôi chửi, lần này còn thậm tệ hơn.
Cũng trong thời gian ấy chả hiểu trong nhà có việc gì mà mẹ tôi phải nhờ chú đạp xe đến trường đón tôi.
Còn gần tiếng nữa mới tới giờ tan lớp. Ông chú tôi đứng cạnh cửa hàng ăn sát bên trường để chờ. Trong cửa hàng mùi thịt chó nướng ngào ngạt bay ra. Sẵn tiền túi, lại lâu lắm không được miếng cầy tơ thế là một công đôi việc: vừa đón cháu vừa thưởng thức đặc sản.
Ông chú tôi bước vào cửa hàng gọi một đĩa thịt nướng, thêm chén rượu quốc doanh, thử xem cái anh rượu nhà nước này có khác gì thứ rượu quê không?
Nhạt thếch, chỉ bằng nửa cái anh rượu gạo mua lậu ở quê.
Bù lại, ngon! Chả chó tuyệt thật! Đúng là “sống ở trên đời...” Vừa nhâm nhi, thưởng thức cái món ăn thuộc hạng siêu đẳng của dân sành.
Đang nhai bỗng dưng ông chú tôi vội ngắt “CB” quai hàm lại.
Quái! sao miếng này lại dai thế nhỉ? Ông chú tôi tự hỏi trong đầu.
Lại mở “CB” cho quai hàm “làm việc” tiếp. Vẫn dai! không thể “giải quyết” nổi.
Vốn tính tò mò của con nhà chài lưới, thế là ông chú tôi nhè ngay miếng thịt ra tay, cúi xuống xem nó là giống gì mà dai thế?
Thế có chết không! mình nghĩ cấm sai, đúng là miếng “ấy” của con chó cái, mà lại là chó cái già.
Tiên sư mấy thằng nhà hàng chết tiệt! tận thu đến thế là cùng. Tức mình chú tôi vứt miếng thịt đến “Bẹt” một cái xuống bàn cho bõ ghét và gọi thêm chén rượu nữa.
Cô phục vụ đon đả đem rượu ra tiện thể “thu gom” luôn cái miếng chú tôi vửa nhả ra trên bàn.
Đang nhâm nhi thì một ông khách cỡ trung niên, mắt mũi kèm nhèm đeo cặp kính trắng vào ngồi ngay bàn ông chú tôi.
Ông ta cũng gọi một đĩa giống món chú tôi đã gọi. Chỉ ít phút, đĩa chả nướng thơm phức được bưng ra.
Cả chú tôi và ông khách đều tập trung vào “chuyên môn” chả ai nói với nhau lấy một lời. Đang “ngon chớn” bỗng ông chú tôi thấy ông khách bên cạnh đưa tay lên miệng rồi giương mục kỉnh lên dò xét cái miếng vừa nhè ra trên tay.
Xét đoán một lúc, ông khách càu nhàu mặt “tái đi”rồi cáu kỉnh vứt ra bàn đến “Bẹt” một cái chả khác gì hành động của chú tôi lúc trước.
Chú tôi tò mò “lườm” sang. Quái nhỉ! “thủ giống thủ, xôi giống xôi”!!! Miếng thịt giống y miếng lúc nãy mà mình nhả ra!!!
Chả dám ho he, ông chú tôi vét nốt đĩa thịt vì tiếng trống báo giờ tan lớp bên trường vọng sang.
Trong bữa cơm chiều chú kể với bố tôi, cả nhà cứ phá lên cười, mẹ tôi nói “đúng là nhà quê ra tỉnh”.
- Mà nhà quê gì! Khối anh tỉnh thành sờ sờ ra kia nhai phải những miếng còn “ác liệt” hơn thế. Bố tôi thêm nhời.
Chuyện của ông chú tôi là thế.
Cạnh cửa hàng ăn là phố Hồng Bàng. Bên kia đường là đài liệt sỹ thành phố. Những cây “Dái Ngựa” cao lêu đêu trong nghĩa trang đang mùa ra hoa, cả một vùng không gian “thối hoắc”, tôi chưa từng thấy loài hoa nào lại có mùi ghê gớm thế.
Mùa quả chín chúng tôi dùng súng cao su bắn những quả già rơi xuống. Bên trong quả cơ man nào là hạt, hạt to như trái Gắm vỏ đen bóng và cứng. Chúng tôi dùng dao cắt ra, sau khi lấy hết nhân thưởng thức. Vị bùi bùi, ngầy ngậy nhưng thằng nào đói ăn xơi vào thì say khủng khiếp, sùi cả bọt mép.
Vỏ hạt, chúng tôi làm quay, kiếm một miếng bát vỡ kẹp vào tay rồi dùng lực bóp cho hạt bắn ra, quay tít rất vui
Kề bên đài liệt sỹ là ngân hàng thành phố. Ngân hàng uy nghi đường bệ xây toàn đá xanh, phía trước là con đường dốc dẫn lên mặt tiền tòa nhà. Chúng tôi thường dùng mảnh gỗ rồi lắp mấy cái vòng bi cũ leo lên đỉnh dốc, ngồi lên tấm gỗ cho nó lăn xuống, có thằng ngã sứt cả đầu gối.
…..
Tuổi thơ tôi cứ thế êm đềm trôi qua.
Nhưng chiến tranh! chiến tranh đã làm đảo lộn tất cả.
Những ngày tháng thanh bình của gia đình tôi, cũng như bao gia đình khác trên nửa đất nước hình hài “người nông dân đội nón” lam lũ không còn - 5/8/1964, chiến tranh lan rộng ra cả nước.
Bố đi chiến trường. Sau đúng một thập niên, gia đình tôi lại gồng gánh “tản cư”, lần này bố mẹ tôi không đưa gia đình vào Thanh Hóa nữa vì trong đó giờ đã là “chiến trường”. Chúng tôi “tản cư”về quê.
Năm sau tôi tạm biệt bà, mẹ và đứa em út, “kỷ niệm” của bố mẹ tôi những ngày sau đình chiến ở Hải Phòng, để lên trường Trỗi.
Từ đó, những tháng năm còn lại của tuổi thơ, tôi gắn bó với các bạn Trỗi cho tới một mùa hè.
Chả hiểu sao mùa hè năm ấy ve nhiều thế? tiếng ve réo sôi cả một khoảng trời! Cũng chả hiểu sao năm ấy phượng lại nở nhiều thế? đỏ rực cả cái thị trấn trung du thanh bình, yên ả nằm nép mình bên dòng sông Thao. Có lẽ thị trấn trung du sắp phải chia tay những người bạn, những cô cậu học trò mặc áo lính chúng tôi chăng? Mùa hè 1970 tôi còn nhớ mãi.

Thân tặng anh, chị Phúc Chiến khi nhớ về Hải Phòng
 


THỜI THƠ ẤU

Đào Duy

Mẹ tôi sinh tôi ở Thanh Hóa, nơi gia đình tản cư trong kháng chiến. khi tôi được bốn năm tháng tuổi thì Hiệp định Gionevơ ký kết. Gia đình từ Thanh Hóa gồng gánh “theo sau” đoàn quân trong đó có đơn vị của ông già về tiếp quản thành phố cảng Hải Phòng.
Suốt thời thơ ấu tôi sống và học ở thành phố này nên Hải Phòng có rất nhiều kỷ niệm gắn bó với tôi.
Có những đêm ngủ chập chờn vì tuổi tác hoặc đôi khi gặp bạn bè cũ vui, quá chén về trằn trọc lúc tỉnh, lúc mơ là khi ấy những hình ảnh của một thời thơ cũ như vệt nắng chiều nhạt nhòa lại ùa về trong trí não.
Tôi không bao giờ quên hình ảnh những người phu hoa kiều mình trần, bóng nhẫy mồ hôi đẩy xe ba gác chở những cây gỗ lớn (mỗi xe chở tới hai ba cây đường kính 40-50 phân dài 6-7 mét) lên dốc nơi vườn hoa “Con Cóc” ra tập kết tại bãi trước cảng, chờ tàu nước ngoài “ăn hàng”. Họ có những bài hò rất hay khi cần để tập tập trung sức đẩy xe. Tôi lẽo đẽo biết bao lần theo sau để nghe những bài hò ấy: “Ới dô ta, hò dô ta, ới dô, hò dô, ới dô, hò dô....” Chả hiểu sao ở Hải Phòng người Hoa họ chọn rặt những nghề nặng nhọc, lam lũ để mưu sinh?

Có tối xin mẹ mấy xu rủ lũ bạn xem phim đèn chiếu. “Rạp” là một chiếc xe đẩy ba bánh, phía trên là một cái hòm lớn bằng gỗ làm “phòng chiếu”. Mỗi bên hòm có ba bốn cái “lỗ”, khán giả chổng mông lên, cúi xuống đưa mắt nhìn vào trong xem. Khi đã đủ người (lắm lúc chả đủ) ông chủ rạp một tay quay phim, miệng thuyết minh nhiều khi chả ăn nhập gì với hình ảnh. Phim là những trích đoạn trong Tam Quốc hoặc Tây Du. Phim đèn chiếu người, ngựa, xe cộ … “cứng đơ”, chỉ là những hình ảnh chậm chạp, kế tiếp nhau nhưng hình vẽ rất khéo và lời thuyết minh thì ngẫu hứng hấp dẫn vô cùng.
Khi khách không còn nhu cầu, ông chủ “rạp” đẩy xe đi phục vụ nơi khác. Khán giả chủ yếu là bọn trẻ lóc nhóc chúng tôi, nhưng đôi khi có ông, có bà do “nhu cầu” văn hóa nên cũng sát cánh cùng “thưởng thức”.
Nhiều lúc tôi cứ tự hỏi, có “nhẽ” mình là một trong những khán giả cuối cùng của dòng phim và “rạp” kiểu này. Bây giờ tôi kể đây, tôi tin nhiều bạn cùng lứa chả ai còn nhớ. 

Có hôm tôi bỏ học đi theo để xem một đám tang. Hồi ấy người chết ít lắm!!! Chả biết có đúng không? họa hoằn mới được “chiêm ngưỡng” những đám tang nên chúng tôi ít khi bỏ qua. Trong đầu tôi đám tang hồi ấy là một sinh hoạt “văn hóa” rất “hoành tráng” và trang trọng hình thức tổ chức cũng khác bây giờ.
Đi đầu là hai hàng dọc cỡ hơn chục người trong trang phục như lính “khố xanh” ngày xưa, nhưng màu đen, có viền trắng, đầu đội nón giống như nón vẫn bán ở khu Hàng Ngang, Hàng Đào cho khách du lịch. Vành nhỏ, viền sẫm, phía trên chóp có túm vải điều lắc lư, chân quấn xà cạp tới đầu gối. Trên tay mỗi người là một lá cờ hình chữ nhật hoặc đuôi nheo to, nền đen, tua trắng.
Phía sau họ là đội nhạc với các loại kèn, nhị chủ yếu là kèn ta (kèn đám ma) và trống giữ nhịp. Tiếng kèn, tiếng trống, tiếng nhị nghe ai oán, thảm thiết cả một vùng.
Đi sau là cỗ xe song mã rất đẹp như trong cổ tích. Bên trong đặt quan tài người quá cố. Hai chú ngựa to cao, được phủ một lớp áo kim tuyến óng ánh trên nền cùng màu với cỗ xe tang. Bốn góc xe phía trên, gắn bốn cây “bông” giống như chổi lông gà, xù lông màu xám. Quanh thành xe có đăng ten rủ xuống. Bốn bánh xe sơn đen, viền trắng như xe duyệt binh.
Sau xe là gia quyến, người thân với giải băng trắng trên đầu rồi tiếp nữa là bà con chòm xóm quen biết.
Xe tang lững thững, chậm chạp vòng vèo qua nhiều con phố. Có lẽ người nhà muốn cho kẻ quá cố lần cuối cùng đi lại trên những con đường thân thuộc lúc sinh thời, trước khi về cõi âm. Rồi dòng người đưa tiễn theo xe tang về một nghĩa trang nào đó xa vắng phía ngoại ô.

Tôi có may mắn khi học cấp một, được học ở ngôi trường mà kề bên là những địa danh khá nổi tiếng của Hải Phòng.

Trường tôi nằm ngay đầu cầu Hạ Lý có con sông Tam Bạc chảy qua. Bạn bè trong lớp phần đông là con cái thuyền chài, lang bạt trên những con thuyền, chiều về nằm chen chúc trên bến sông.
Hai bờ Tam Bạc tiếng búa của những người thợ gõ rỉ chan chát trên thân những con tàu, xà lan nghe nao động cả một vùng sông nước từ mờ sáng tới tối khuya.
Trước cổng trường tôi có một vườn hoa nhỏ, nhưng tôi chả thấy hoa lá gì, chỉ là khoảng đất trống, đôi ba chiếc ghế xi măng nằm hờ hững. Là “bãi đáp” cho mấy tay người tàu, “sơn đông mãi võ” biểu diễn cùng chú khỉ đít đỏ như lửa, bán cao đơn hoàn tán.
Xung quanh vườn hoa rặt loại cây cao, lá to, chúng tôi gọi là “cây ngứa”. Mùa ra quả mấy đứa nghịch trong lớp lấy xuống, hạt của nó có lông, lông này mà bỏ xuống ghế ngồi của bạn gái, của cô, của thầy thì gãi đến rách đít.
Có hôm vào lớp muộn vì mải ngồi xem ông lão bán “tò he” ngay sát cổng trường. Từ Quan Công đến Lỗ Chí Thâm từ Trương Phi tới Tôn Ngộ Không … bàn tay của ông thợ như múa trên những miếng bột đủ màu. Thích gì được nấy, chỉ trong vòng một hai phút Chơi chán, khi bột đã khô chúng tôi thường ngả ra đánh chén. Bột gạo nhàn nhạt chả có mùi vị gì.
Vừa rồi tôi có ông “bạn già” bị chứng ung thư, “quẫn lên” lại đổ riệt cho là tại ngày xưa ăn nhiều “tò he” chứa phẩm màu công nghiệp nên bây giờ mới “phát”
Nghĩ lại, ngày ấy làm quái gì có phẩm màu hóa chất, chỉ toàn màu chế từ hoa, lá tự nhiên. Cũng may! chứ không lại mang tiếng oan, tội cho hương hồn ông già bán “tò he” năm nào.
Phía bên trái trường là chợ “Baty”, chợ đã có từ lâu lắm. Chợ nhỏ nhưng đủ cả, chả thiếu thứ gì, các bà nội trợ khó tính mấy cũng vừa lòng khi xách làn ra khỏi chợ.
Còn với chúng tôi thì khỏi nói: thịt bò khô, ốc mút, khế dầm, táo dầm, đu đủ dầm, kẹo kéo (mua kẹo được xem truyện tranh tam quốc miễn phí) thạch, bánh bò … tùy khẩu vị và túi tiền.
Tôi có người chị học trên mấy lớp, chị tôi có thú “sưu tầm” tiền mới. Mỗi kỳ lĩnh lương của ông bà già, chị tôi thường xin một hai hào rồi ép vào cuốn sổ. Thế quái nào tôi rình mò biết được. Thế là mỗi sáng đi học tôi “nhõn” một tờ. Bao nhiêu thèm khát, bao nhiêu món “ngon” mà tôi đã kể ở trên bán nơi cổng trường, tôi lần lượt xơi hết.
Chiếc kim giấu lâu trong bọc rồi cũng có ngày lòi ra. Một chiều đen đủi, bà chị tôi phát hiện ra tài khoản của mình bị “lõm” gần hết. Thế là bà ấy lăn ra khóc như “mưa rào tháng sáu”, đố ai dỗ được. Sau đó là màn “khai báo” với bố mẹ tôi. Tôi bị trận đòn tưởng “chết”.

Con đường nhỏ gần trường nơi tọa lạc nhà thờ lớn. Nhà thờ uy nghi, cổ kính rêu phong. Chiều về trong tiếng chuông ngân nga, nghe buồn buồn như tiếng than của đám tông đồ nghe tin “ngài” bị lũ “Giu đa” đóng đinh trên thánh giá.
Những ánh mắt nhìn như hớp hồn của đám nữ dòng tu, làm lỡ nhịp bao trái tim cánh mày râu. Những tà áo dài thướt tha của các bà,các cô đi lễ làm dịu dàng, mềm mại những con phố vốn toàn thợ thuyền, thô vụng.
Bên kia đường, cạnh nhà thờ ngày xưa là nhà dòng. Sau 1954 nhà nước trưng dụng làm trường học rồi sau là trường học sinh miền nam. Ngôi trường này là cảm hứng của bài thơ “Chú đi tuần” trong sách tập đọc năm nào mà tôi còn nhớ.
“… Chú đi tuần đêm nay
Hải Phòng yên giấc ngủ say
Cây rung theo gió lá bay xuống đường.
Chú đi qua cổng trường,
Các cháu Miền Nam yêu mến …”
Bên hông trường, phía phải là cửa hàng ăn.
Về cái cửa hàng ăn này, ông chú họ của tôi có một kỷ niệm cười ra nước mắt. Tiện đây tôi kể cho các bạn nghe.
Số là thế này: Ông chú tôi ở quê ra chơi, đưa thiệp và mời bố mẹ tôi về quê ăn cỗ cưới và tranh thủ sắm sửa vài thứ chuẩn bị cho hôn lễ.
Một hôm ông chú đi đâu, mất hút từ sáng cho tới chiều, để cả nhà phải chờ cơm. Bữa tối ngồi nhìn cái đầu “đít vịt” bờm lên còn mới toanh của chú, bố tôi chửi toáng lên.
Chú tôi miệng “múm mím”chống chế:
- Đời em cho tới hôm nay, nhờ có anh, có chị, em mới ra được đến tỉnh. Hôm đi thằng bạn trong xóm còn dọa “Ra tỉnh, ông có đi đâu chơi thì đi, dưng phải về sơm sớm, không “cổng tỉnh” nó mà đóng thì chỉ có nước ngủ ngoài đường.”. Em cũng hãi.
- Ngày cưới vợ là thời điểm trang trọng cả đời người, em “trang trí, sửa sang” lại cái đầu tí chút để chụp lấy tấm hình đôi lứa làm kỷ niệm chứ có phải đua đòi tư sản … gì đâu. Anh cứ hay nâng quan điểm, em kinh lắm.
Kể ra em có tí “đoàn”, tí “đảng” thì anh mắng nó lại ra một nhẽ, đằng này ở xã bọn quan chức nó ghét em như “khỉ ghét mắm tôm”.
Anh chị thoát ly, xa quê lâu nên không biết.
Ở quê em có nghề chài lưới, tuy là nghề tay trái nhưng tay lưới của em trong làng ai cũng “kính nể”. Em sát cá, cứ xách lưới, dông thuyền đi là y như rằng khi về hơn chục ký cá cầm chắc. Chỉ cá to em mới bắt. Có hôm vớ được cả “ba ba, thuồng luồng” mỗi con đến vài ký.
Thế mà làng xóm đố có thấy em thì thụt ở nhà mấy tay cán bộ ủy ban để biếu “chúng” lấy một con.
Có lần họp đảng ủy (đã họp là phải đánh chén) xã gợi ý em ủng hộ vài ký cá tươi, em cứ lờ đi, nên nó ghét.
Nói anh chị không hiểu, lại bảo là em đãi bôi. Hôm lên thăm anh chị em ra ủy ban xin cái giấy giới thiệu để đem theo cặp gà thiến, mấy cân nếp cùng con cá Trắm đen năm ký mà em phơi khô ra biếu anh chị.
Tiên sư chúng nó! Trình bày đến khô miệng, rã họng mà chúng nó không cho, lại còn nói là em lợi dụng buôn bán phá rối thị trường.
Nó chỉ cho em đem theo mỗi con cá khô. Tức mình! em cóc thèm nữa, để tới khi anh chị về dự đám cưới, em gửi anh chị đem đi, xem chúng nó có dám bám theo xe hơi ông tá, ông tướng đòi kiểm tra giấy tờ, kiểm tra hàng hóa không?
Nói rồi ông chú tôi gãi gãi đầu, dưng không dám gãi mạnh sợ mất nếp cái đầu “đít vịt” mới làm:
- Anh mắng thì em chịu! Chứ thực ra em cũng chẳng sung sướng gì, khó chịu lắm anh ơi!
Ngồi làm cái đầu dễ hơn tiếng đồng hồ, ê cả đít, mà chả biết nó bôi rồi kẹp cái quái gì vào đầu mà em ngửi như mùi chuột chết. Sau đó tay thợ còn cầm cái ống mạ kền bóng loáng, cắm điện quay vo vo, thổi vào đầu nóng như thui chó…
- Cạch! Lần sau anh có cho không tiền để em làm cái đầu mới, em cũng chịu. Mà tiền nong nào có ít, mất toi cả buổi kéo lưới cật lực của em ở quê.
Thấy chú tôi nói năng không được tự nhiên, miệng cứ chúm cha chúm chím bố tôi tức mình:
- Mày chỉ được cái giỏi cãi, mở to miệng ra ăn nói đàng hoàng cho tao xem nào.
Bất đồ chú há miệng ra. Cả nhà tôi trố mắt kinh ngạc.
Hai chiếc răng cửa của chú trắng là thế đã mất toi từ lúc nào. Thay vào đấy là hai chiếc răng vàng chóe, phản chiếu ánh điện càng thêm “lộng lẫy”. Tôi nhìn chói hết cả mắt. Tôi để ý thấy một chiếc thì vàng hết, một chiếc chỉ viền vàng xung quanh, chừa ở khoảng giữa là hình một trái tim trăng trắng bé xíu, nền của chiếc răng cũ.
Thế là lại một chầu nữa chú bị bố tôi chửi, lần này còn thậm tệ hơn.
Cũng trong thời gian ấy chả hiểu trong nhà có việc gì mà mẹ tôi phải nhờ chú đạp xe đến trường đón tôi.
Còn gần tiếng nữa mới tới giờ tan lớp. Ông chú tôi đứng cạnh cửa hàng ăn sát bên trường để chờ. Trong cửa hàng mùi thịt chó nướng ngào ngạt bay ra. Sẵn tiền túi, lại lâu lắm không được miếng cầy tơ thế là một công đôi việc: vừa đón cháu vừa thưởng thức đặc sản.
Ông chú tôi bước vào cửa hàng gọi một đĩa thịt nướng, thêm chén rượu quốc doanh, thử xem cái anh rượu nhà nước này có khác gì thứ rượu quê không?
Nhạt thếch, chỉ bằng nửa cái anh rượu gạo mua lậu ở quê.
Bù lại, ngon! Chả chó tuyệt thật! Đúng là “sống ở trên đời...” Vừa nhâm nhi, thưởng thức cái món ăn thuộc hạng siêu đẳng của dân sành.
Đang nhai bỗng dưng ông chú tôi vội ngắt “CB” quai hàm lại.
Quái! sao miếng này lại dai thế nhỉ? Ông chú tôi tự hỏi trong đầu.
Lại mở “CB” cho quai hàm “làm việc” tiếp. Vẫn dai! không thể “giải quyết” nổi.
Vốn tính tò mò của con nhà chài lưới, thế là ông chú tôi nhè ngay miếng thịt ra tay, cúi xuống xem nó là giống gì mà dai thế?
Thế có chết không! mình nghĩ cấm sai, đúng là miếng “ấy” của con chó cái, mà lại là chó cái già.
Tiên sư mấy thằng nhà hàng chết tiệt! tận thu đến thế là cùng. Tức mình chú tôi vứt miếng thịt đến “Bẹt” một cái xuống bàn cho bõ ghét và gọi thêm chén rượu nữa.
Cô phục vụ đon đả đem rượu ra tiện thể “thu gom” luôn cái miếng chú tôi vửa nhả ra trên bàn.
Đang nhâm nhi thì một ông khách cỡ trung niên, mắt mũi kèm nhèm đeo cặp kính trắng vào ngồi ngay bàn ông chú tôi.
Ông ta cũng gọi một đĩa giống món chú tôi đã gọi. Chỉ ít phút, đĩa chả nướng thơm phức được bưng ra.
Cả chú tôi và ông khách đều tập trung vào “chuyên môn” chả ai nói với nhau lấy một lời. Đang “ngon chớn” bỗng ông chú tôi thấy ông khách bên cạnh đưa tay lên miệng rồi giương mục kỉnh lên dò xét cái miếng vừa nhè ra trên tay.
Xét đoán một lúc, ông khách càu nhàu mặt “tái đi”rồi cáu kỉnh vứt ra bàn đến “Bẹt” một cái chả khác gì hành động của chú tôi lúc trước.
Chú tôi tò mò “lườm” sang. Quái nhỉ! “thủ giống thủ, xôi giống xôi”!!! Miếng thịt giống y miếng lúc nãy mà mình nhả ra!!!
Chả dám ho he, ông chú tôi vét nốt đĩa thịt vì tiếng trống báo giờ tan lớp bên trường vọng sang.
Trong bữa cơm chiều chú kể với bố tôi, cả nhà cứ phá lên cười, mẹ tôi nói “đúng là nhà quê ra tỉnh”.
- Mà nhà quê gì! Khối anh tỉnh thành sờ sờ ra kia nhai phải những miếng còn “ác liệt” hơn thế. Bố tôi thêm nhời.
Chuyện của ông chú tôi là thế.
Cạnh cửa hàng ăn là phố Hồng Bàng. Bên kia đường là đài liệt sỹ thành phố. Những cây “Dái Ngựa” cao lêu đêu trong nghĩa trang đang mùa ra hoa, cả một vùng không gian “thối hoắc”, tôi chưa từng thấy loài hoa nào lại có mùi ghê gớm thế.
Mùa quả chín chúng tôi dùng súng cao su bắn những quả già rơi xuống. Bên trong quả cơ man nào là hạt, hạt to như trái Gắm vỏ đen bóng và cứng. Chúng tôi dùng dao cắt ra, sau khi lấy hết nhân thưởng thức. Vị bùi bùi, ngầy ngậy nhưng thằng nào đói ăn xơi vào thì say khủng khiếp, sùi cả bọt mép.
Vỏ hạt, chúng tôi làm quay, kiếm một miếng bát vỡ kẹp vào tay rồi dùng lực bóp cho hạt bắn ra, quay tít rất vui
Kề bên đài liệt sỹ là ngân hàng thành phố. Ngân hàng uy nghi đường bệ xây toàn đá xanh, phía trước là con đường dốc dẫn lên mặt tiền tòa nhà. Chúng tôi thường dùng mảnh gỗ rồi lắp mấy cái vòng bi cũ leo lên đỉnh dốc, ngồi lên tấm gỗ cho nó lăn xuống, có thằng ngã sứt cả đầu gối.
…..
Tuổi thơ tôi cứ thế êm đềm trôi qua.
Nhưng chiến tranh! chiến tranh đã làm đảo lộn tất cả.
Những ngày tháng thanh bình của gia đình tôi, cũng như bao gia đình khác trên nửa đất nước hình hài “người nông dân đội nón” lam lũ không còn - 5/8/1964, chiến tranh lan rộng ra cả nước.
Bố đi chiến trường. Sau đúng một thập niên, gia đình tôi lại gồng gánh “tản cư”, lần này bố mẹ tôi không đưa gia đình vào Thanh Hóa nữa vì trong đó giờ đã là “chiến trường”. Chúng tôi “tản cư”về quê.
Năm sau tôi tạm biệt bà, mẹ và đứa em út, “kỷ niệm” của bố mẹ tôi những ngày sau đình chiến ở Hải Phòng, để lên trường Trỗi.
Từ đó, những tháng năm còn lại của tuổi thơ, tôi gắn bó với các bạn Trỗi cho tới một mùa hè.
Chả hiểu sao mùa hè năm ấy ve nhiều thế? tiếng ve réo sôi cả một khoảng trời! Cũng chả hiểu sao năm ấy phượng lại nở nhiều thế? đỏ rực cả cái thị trấn trung du thanh bình, yên ả nằm nép mình bên dòng sông Thao. Có lẽ thị trấn trung du sắp phải chia tay những người bạn, những cô cậu học trò mặc áo lính chúng tôi chăng? Mùa hè 1970 tôi còn nhớ mãi.

Thân tặng anh, chị Phúc Chiến khi nhớ về Hải Phòng
 

Thứ Năm, 11 tháng 9, 2008

Vua nước Anh - HaMeoK6



Vua nước Anh

Trị vì nước Anh (England) luôn luôn là Nữ hoàng ? Thật ra không phải vậy. Chẳng qua Nữ hoàng hiện nay - Elisabeth II – trị vì lâu quá (suốt từ 1952 tới giờ) nên nghe riết tưởng là vậy. Mà cũng không hiểu sao, các “kỷ lục” Vua Anh đều là các Nữ hoàng. Theo “quy định”, vua Anh được Hội đồng Quý tộc “bầu” lên trong số các Hoàng thân quốc thích, bất kể là nam hay nữ và không nhất thiết phải là con của vua tiền nhiệm. Miễn là “trúng cử”.

Nước Anh bắt đầu có từ năm 878 đến nay và có 53 vua - không kể 11 năm nhà nước Cộng hòa Cromwell từ 1649 đến1660.

Bao gồm 9 nữ hoàng là :
Nữ hoàng Edward VI (1537-1553) trị vì từ 1547 đến ngày 6.7.1553
Nữ hoàng Matilda (1120-1153) cùng trị vì với anh trai từ 1135 đến 1153
Nữ hoàng Jane (1536-1554) trị vì từ ngày 6. đến ngày 19.7.1553
Nữ hoàng Mary I (1516-1558) trị vì từ 1553 đến 1558
Nữ hoàng Elizabeth I (1533-1603) trị vì từ 1559 đến 1603
Nữ hoàng Mary II (1662-1694) cùng trị vì với chồng từ 1689 đến 1694
Nữ hoàng Anne (1665-1714) trị vì từ 1702 đến 1714
Nữ hoàng Victoria (1819-1901) trị vì từ 1837 đến 1901
Nữ hoàng Elisabeth II (1926- ) trị vì từ1952- đến nay

10 trường hợp anh / chị em trực tiếp nối ngôi nhau :
- Con của Edward the Elder :
Aelfweard - con riêng - giữ ngôi từ 17.7. đến 02.8.924
Edwin - con - giữ ngôi từ 8.924 đến 9.925
Athelstan - con lớn - giữ ngôi từ 925 đến 939
Edmund I - con thứ 4. - giữ ngôi từ 939 đến 946
Edred - con út - giữ ngôi từ 946 đến 955
- Con của Edmund :
Edwig con lớn - giữ ngôi từ 955 đến 959
Edgar I - con - giữ ngôi từ 959 đến 975
- Con của Edgar I
Eadweard II - con của vợ trước - giữ ngôi từ 975 đến 978
Ethelred II - con của vợ sau - giữ ngôi từ 978 đến 1013
- Con của Canute the Great :
Harold Harefoot - con của vợ đầu - giữ ngôi từ 1035 đến 1040
Harthacanuthe - con của vợ 2 - giữ ngôi từ 1040 đến 1042
- Con của Công tước W.the Conqueror xứ Normandie :
William II Rufus – con - giữ ngôi từ 1087 đến 1100
Henry I - con út - giữ ngôi từ 1100 đến 1135
- Con của Henry II :
Richard I the Lionheart - con thứ 2. - giữ ngôi từ 1189 đến 1199
John - con út giữ ngôi từ 1199 đến 1216
- Con của Henry VIII :
Nữ hoàng Mary I - con thứ 5. - giữ ngôi từ 1553 đến 1558
Nữ hoàng Elizabeth I - con của vợ 2 - giữ ngôi từ 1559 đến 1603
- Con của Charles I :
Charles II - con lớn - giữ ngôi từ 1660 đến 1685
James II - con thứ 2 - giữ ngôi từ 1685 đến 1688
- Con của Georg III :
Georg IV August Friedrich - con lớn - giữ ngôi từ 1820 đến 1830
William IV Henry - con thứ 3. - giữ ngôi từ 1830 đến 1837
- Con của Georg V :
Edward VIII - con lớn - giữ ngôi từ 01. đến 12.1936
Georg VI - con thứ 2. - giữ ngôi từ 12.1936 đến 1952

14 vua không phải con / cháu trực tiếp của vua Anh :
#Sweyn I Forkbeard (960-1014) con Harold I - vua Đan Mạch và Na Uy
#Canute the Great (?-1035) con thứ 2. của Sven Gabelbart - vua Đan Mạch
#Harold Godwilson (1022-1066) con Bá tước Wessex Godwil
#William I the Conqueror (1028-1087 ) con Công tước Normandie Robert I
#William II Rufus (1056-1100) con Công tước W.the Conqueror xứ Normandie (thuộc Pháp ngày nay)
#Henry I (1068-1135) con út Công tước W.the Conqueror xứ Normandie
#Stephen (1096-1154) con Bá tước Blois (thuộc Pháp ngày nay)
#Edward IV (1442-1483) con lớn Công tước R.Plantagenet xứ York (thuộc Anh ngày nay)
#Richard III (1452-1485 ) con thứ 8. (út) của Công tước R.Plantagenet xứ York (thuộc Anh ngày nay)
#Henry VII (1457-1509) con của em họ của Henry VI
#Nữ hoàng Jane (1536-1554) con lớn Công tước Henry Gray
#James I (1566-1625 ) con nữ hoàng Scotland + chồng sau
#Georg I Ludwig (1660-1727) con lớn vua Braunschweig (thuộc Đức ngày nay)
#Nữ hoàng Victoria (1819-1901) con Công tước Edward August

Vua Anh đương nhiên là vua : Wales từ 1201 - Scotland từ 1707 - Ireland từ 1801. Và do vậy, từ 1801 vua nước Anh (England) đương nhiên là vua Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland (United Kingdom of Great Britain and Northern Ireland - viết tắt là UK). Ngoài ra, tùy theo từng thời kỳ còn là vua các nước/vùng khác nhau trong Khối Thịnh vượng chung Anh (The Commonwealth of Nations)

Các vua tại ngôi lâu nhất là :
Nữ hoàng Victoria (1819-1901) : 64 năm từ 1837 đến 1901
Vua Georg III Wilhelm Friedrich (1738-1820) : 60 năm từ 1760 đến 1820
Vua Henry III (1207-1272) : 52 năm từ 1216 đến 1272

Các vua tại ngôi ngắn nhất là :
Nữ hoàng Jane (1536-1554) : 13 ngày, từ ngày 6. đến ngày 19.7.1553
Aelfweard (904-924) : 16 ngày, từ ngày 17.7. đến ngày 02.8.924

Đặc biệt có :
Vua Richard I the Lionheart - Risa Sư tử tâm (1157-1199) trị vì từ 1189 đến 1199 là Hiệp sĩ Thánh chiến - 1 nhân vật trong tiểu thuyết nổi tiếng “Aivanho” (Ivanhoe) của Walter Scott

Hiện nay :
Nữ hoàng Elisabeth II , sinh năm 1926, lên ngôi năm1952


Hình (từ trái qua phải) : Nữ hoàng Victoria, trị vì lâu nhất - Nữ hoàng hiện nay - Risa, Sư tử tâm

Đăng lại bài viết của Hà Mèo (đã đăng tại „Blog Bạn Trỗi”: Thứ năm, tháng chín 11, 2008)


Vua nước Anh

Trị vì nước Anh (England) luôn luôn là Nữ hoàng ? Thật ra không phải vậy. Chẳng qua Nữ hoàng hiện nay - Elisabeth II – trị vì lâu quá (suốt từ 1952 tới giờ) nên nghe riết tưởng là vậy. Mà cũng không hiểu sao, các “kỷ lục” Vua Anh đều là các Nữ hoàng. Theo “quy định”, vua Anh được Hội đồng Quý tộc “bầu” lên trong số các Hoàng thân quốc thích, bất kể là nam hay nữ và không nhất thiết phải là con của vua tiền nhiệm. Miễn là “trúng cử”.

Nước Anh bắt đầu có từ năm 878 đến nay và có 53 vua - không kể 11 năm nhà nước Cộng hòa Cromwell từ 1649 đến1660.

Bao gồm 9 nữ hoàng là :
Nữ hoàng Edward VI (1537-1553) trị vì từ 1547 đến ngày 6.7.1553
Nữ hoàng Matilda (1120-1153) cùng trị vì với anh trai từ 1135 đến 1153
Nữ hoàng Jane (1536-1554) trị vì từ ngày 6. đến ngày 19.7.1553
Nữ hoàng Mary I (1516-1558) trị vì từ 1553 đến 1558
Nữ hoàng Elizabeth I (1533-1603) trị vì từ 1559 đến 1603
Nữ hoàng Mary II (1662-1694) cùng trị vì với chồng từ 1689 đến 1694
Nữ hoàng Anne (1665-1714) trị vì từ 1702 đến 1714
Nữ hoàng Victoria (1819-1901) trị vì từ 1837 đến 1901
Nữ hoàng Elisabeth II (1926- ) trị vì từ1952- đến nay

10 trường hợp anh / chị em trực tiếp nối ngôi nhau :
- Con của Edward the Elder :
Aelfweard - con riêng - giữ ngôi từ 17.7. đến 02.8.924
Edwin - con - giữ ngôi từ 8.924 đến 9.925
Athelstan - con lớn - giữ ngôi từ 925 đến 939
Edmund I - con thứ 4. - giữ ngôi từ 939 đến 946
Edred - con út - giữ ngôi từ 946 đến 955
- Con của Edmund :
Edwig con lớn - giữ ngôi từ 955 đến 959
Edgar I - con - giữ ngôi từ 959 đến 975
- Con của Edgar I
Eadweard II - con của vợ trước - giữ ngôi từ 975 đến 978
Ethelred II - con của vợ sau - giữ ngôi từ 978 đến 1013
- Con của Canute the Great :
Harold Harefoot - con của vợ đầu - giữ ngôi từ 1035 đến 1040
Harthacanuthe - con của vợ 2 - giữ ngôi từ 1040 đến 1042
- Con của Công tước W.the Conqueror xứ Normandie :
William II Rufus – con - giữ ngôi từ 1087 đến 1100
Henry I - con út - giữ ngôi từ 1100 đến 1135
- Con của Henry II :
Richard I the Lionheart - con thứ 2. - giữ ngôi từ 1189 đến 1199
John - con út giữ ngôi từ 1199 đến 1216
- Con của Henry VIII :
Nữ hoàng Mary I - con thứ 5. - giữ ngôi từ 1553 đến 1558
Nữ hoàng Elizabeth I - con của vợ 2 - giữ ngôi từ 1559 đến 1603
- Con của Charles I :
Charles II - con lớn - giữ ngôi từ 1660 đến 1685
James II - con thứ 2 - giữ ngôi từ 1685 đến 1688
- Con của Georg III :
Georg IV August Friedrich - con lớn - giữ ngôi từ 1820 đến 1830
William IV Henry - con thứ 3. - giữ ngôi từ 1830 đến 1837
- Con của Georg V :
Edward VIII - con lớn - giữ ngôi từ 01. đến 12.1936
Georg VI - con thứ 2. - giữ ngôi từ 12.1936 đến 1952

14 vua không phải con / cháu trực tiếp của vua Anh :
#Sweyn I Forkbeard (960-1014) con Harold I - vua Đan Mạch và Na Uy
#Canute the Great (?-1035) con thứ 2. của Sven Gabelbart - vua Đan Mạch
#Harold Godwilson (1022-1066) con Bá tước Wessex Godwil
#William I the Conqueror (1028-1087 ) con Công tước Normandie Robert I
#William II Rufus (1056-1100) con Công tước W.the Conqueror xứ Normandie (thuộc Pháp ngày nay)
#Henry I (1068-1135) con út Công tước W.the Conqueror xứ Normandie
#Stephen (1096-1154) con Bá tước Blois (thuộc Pháp ngày nay)
#Edward IV (1442-1483) con lớn Công tước R.Plantagenet xứ York (thuộc Anh ngày nay)
#Richard III (1452-1485 ) con thứ 8. (út) của Công tước R.Plantagenet xứ York (thuộc Anh ngày nay)
#Henry VII (1457-1509) con của em họ của Henry VI
#Nữ hoàng Jane (1536-1554) con lớn Công tước Henry Gray
#James I (1566-1625 ) con nữ hoàng Scotland + chồng sau
#Georg I Ludwig (1660-1727) con lớn vua Braunschweig (thuộc Đức ngày nay)
#Nữ hoàng Victoria (1819-1901) con Công tước Edward August

Vua Anh đương nhiên là vua : Wales từ 1201 - Scotland từ 1707 - Ireland từ 1801. Và do vậy, từ 1801 vua nước Anh (England) đương nhiên là vua Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland (United Kingdom of Great Britain and Northern Ireland - viết tắt là UK). Ngoài ra, tùy theo từng thời kỳ còn là vua các nước/vùng khác nhau trong Khối Thịnh vượng chung Anh (The Commonwealth of Nations)

Các vua tại ngôi lâu nhất là :
Nữ hoàng Victoria (1819-1901) : 64 năm từ 1837 đến 1901
Vua Georg III Wilhelm Friedrich (1738-1820) : 60 năm từ 1760 đến 1820
Vua Henry III (1207-1272) : 52 năm từ 1216 đến 1272

Các vua tại ngôi ngắn nhất là :
Nữ hoàng Jane (1536-1554) : 13 ngày, từ ngày 6. đến ngày 19.7.1553
Aelfweard (904-924) : 16 ngày, từ ngày 17.7. đến ngày 02.8.924

Đặc biệt có :
Vua Richard I the Lionheart - Risa Sư tử tâm (1157-1199) trị vì từ 1189 đến 1199 là Hiệp sĩ Thánh chiến - 1 nhân vật trong tiểu thuyết nổi tiếng “Aivanho” (Ivanhoe) của Walter Scott

Hiện nay :
Nữ hoàng Elisabeth II , sinh năm 1926, lên ngôi năm1952


Hình (từ trái qua phải) : Nữ hoàng Victoria, trị vì lâu nhất - Nữ hoàng hiện nay - Risa, Sư tử tâm

Đăng lại bài viết của Hà Mèo (đã đăng tại „Blog Bạn Trỗi”: Thứ năm, tháng chín 11, 2008)

Thứ Tư, 10 tháng 9, 2008

Sư thúc Hòa Hảo - HaMeoK6


Sư thúc Hòa Hảo


hiều người (trong đó có tôi) quen biết gia đình bác Mười Trí đều thấy cảm thấy “chẳng có gì là Hòa Hảo cả”. Vậy mà bác Mười lại là Sư thúc Hòa Hảo. Tôi xin trích dưới đây 1 đoạn trong cuốn “Người Bình Xuyên” của Nguyên Hùng để AE mình (những ai chưa đọc truyện này) biết mà không thắc mắc nữa:

Trong chuyến đi Miền Đông (năm 1947), trên đường về, Huỳnh Phú Sổ (sư thầy của đạo Hòa Hảo) đã dừng lại Bình Hòa thăm Mười Trí. Trong lúc đàm đạo tại văn phòng Chi đội 4 thì mày bay địch bắn. Vùng này là vùng rìa Đồng Tháp Mười ít có cây cao nên phi cơ giặc Pháp tung hoành ngang dọc, sà sát đọt cây thả bom và bắn đại liên. Loại phun lửa mang hai quả bom dưới lườn, chúi xuống hai lần thả hai quả bom rồi tiếp tục quần đảo bắn phá cho tới khi hết đạn mới thôi. Không chỉ bộ đội mà dân chúng cũng biết tánh nết của chúng. Ngày ấy ba chiếc phun lửa lên quần trên vùng đóng quân của Chi đội 4. Huỳnh Phú Sổ, Năm Lửa cùng một số tín đồ Hòa Hảo hoang mang khi lọt vào vòng vây ngày càng thu hẹp lại của ba chiếc máy bay. Cả bọn chạy lăng xăng như bầy gà con thấy diều hâu. Mười Trí đã quen những vu oanh kích như thế, bình tĩnh bảo Huỳnh Phú Sổ “Thầy Tư ngồi đây với tôi. Đừng chạy bậy bạ. Ở đây tôi chắc chắn là an toàn”. Cả bọn, thầy tớ đề giao hết tinh thần lẫn thể xác cho Mười Trí. Ba chiếc máy bay thả đủ sáu quả bom rồi quần, bắn chung quanh đó. Bắn hết đạn chúng bay đi. Năm Lửa thờ phào, rút khăn lau mồ hôi trán cho Giáo chủ, lẩm bẩm: “Quân gì băn dai như trâu đái!”. Huỳnh Phú Sổ thoát nạn, cảm ơn Mười Trí rối rít. Trong lúc bốc đồng, Sổ chỉ Mười Trí nói to với đám Năm Lửa và tín đồ: “Đây là Sư Thúc của bây đó, say này thầy có qua đời, Sư Thúc bây lên nối nghiệp”. Câu nói ấy vô tình biến Mười Trí thành một nhân vật thiêng liêng đối với mấy triệu tín đồ Hòa Hảo.

Rồi sau này vì nhiệm vụ của Đảng, bác Mười “chính thức” trở thành “Sư thúc” là vậy đó.

ST

Được đăng bởi hameok6 tại 23:10
Đăng lại bài viết của Hà Mèo (đã đăng tại „Blog Út Trỗi”: Thứ ba, ngày 09 tháng chín năm 2008)


Sư thúc Hòa Hảo


hiều người (trong đó có tôi) quen biết gia đình bác Mười Trí đều thấy cảm thấy “chẳng có gì là Hòa Hảo cả”. Vậy mà bác Mười lại là Sư thúc Hòa Hảo. Tôi xin trích dưới đây 1 đoạn trong cuốn “Người Bình Xuyên” của Nguyên Hùng để AE mình (những ai chưa đọc truyện này) biết mà không thắc mắc nữa:

Trong chuyến đi Miền Đông (năm 1947), trên đường về, Huỳnh Phú Sổ (sư thầy của đạo Hòa Hảo) đã dừng lại Bình Hòa thăm Mười Trí. Trong lúc đàm đạo tại văn phòng Chi đội 4 thì mày bay địch bắn. Vùng này là vùng rìa Đồng Tháp Mười ít có cây cao nên phi cơ giặc Pháp tung hoành ngang dọc, sà sát đọt cây thả bom và bắn đại liên. Loại phun lửa mang hai quả bom dưới lườn, chúi xuống hai lần thả hai quả bom rồi tiếp tục quần đảo bắn phá cho tới khi hết đạn mới thôi. Không chỉ bộ đội mà dân chúng cũng biết tánh nết của chúng. Ngày ấy ba chiếc phun lửa lên quần trên vùng đóng quân của Chi đội 4. Huỳnh Phú Sổ, Năm Lửa cùng một số tín đồ Hòa Hảo hoang mang khi lọt vào vòng vây ngày càng thu hẹp lại của ba chiếc máy bay. Cả bọn chạy lăng xăng như bầy gà con thấy diều hâu. Mười Trí đã quen những vu oanh kích như thế, bình tĩnh bảo Huỳnh Phú Sổ “Thầy Tư ngồi đây với tôi. Đừng chạy bậy bạ. Ở đây tôi chắc chắn là an toàn”. Cả bọn, thầy tớ đề giao hết tinh thần lẫn thể xác cho Mười Trí. Ba chiếc máy bay thả đủ sáu quả bom rồi quần, bắn chung quanh đó. Bắn hết đạn chúng bay đi. Năm Lửa thờ phào, rút khăn lau mồ hôi trán cho Giáo chủ, lẩm bẩm: “Quân gì băn dai như trâu đái!”. Huỳnh Phú Sổ thoát nạn, cảm ơn Mười Trí rối rít. Trong lúc bốc đồng, Sổ chỉ Mười Trí nói to với đám Năm Lửa và tín đồ: “Đây là Sư Thúc của bây đó, say này thầy có qua đời, Sư Thúc bây lên nối nghiệp”. Câu nói ấy vô tình biến Mười Trí thành một nhân vật thiêng liêng đối với mấy triệu tín đồ Hòa Hảo.

Rồi sau này vì nhiệm vụ của Đảng, bác Mười “chính thức” trở thành “Sư thúc” là vậy đó.

ST

Được đăng bởi hameok6 tại 23:10
Đăng lại bài viết của Hà Mèo (đã đăng tại „Blog Út Trỗi”: Thứ ba, ngày 09 tháng chín năm 2008)

Thứ Bảy, 6 tháng 9, 2008

Giao ban T9

Start:     Sep 7, '08 08:00a
Location:     Café "Đôi khi": 21/3 - Lý Chính Thắng - Q.3 - Tp.HCM
Mời anh em Trỗi và những người có liên quan tới dự cafe giao ban vào sáng Chủ nhật đầu tiên của các tháng:
Thời gian họp: từ (sau) 8g sáng Chủ nhật ngày 07/09/2008.
Địa điểm họp: Cafe "Đôi khi" số 21/3 - Lý Chính Thắng - Q.3 - HCMC.
Nội dung họp: tùy ý thích của mỗi người.
Tài chính: mạnh ai nấy kêu, kêu gì trả nấy.
Trung Liêm, ĐT.0989787868.

Xem:

1. Giao ban T9 - Trung Liêm tại "Blog Bạn Trỗi"

Xem thêm:
1. Tin thời sự - cafe giao ban - Hà Chí Quang K4 (Về phiên khai mạc cafe giao ban 02/03/2008)


Start:     Sep 7, '08 08:00a
Location:     Café "Đôi khi": 21/3 - Lý Chính Thắng - Q.3 - Tp.HCM
Mời anh em Trỗi và những người có liên quan tới dự cafe giao ban vào sáng Chủ nhật đầu tiên của các tháng:
Thời gian họp: từ (sau) 8g sáng Chủ nhật ngày 07/09/2008.
Địa điểm họp: Cafe "Đôi khi" số 21/3 - Lý Chính Thắng - Q.3 - HCMC.
Nội dung họp: tùy ý thích của mỗi người.
Tài chính: mạnh ai nấy kêu, kêu gì trả nấy.
Trung Liêm, ĐT.0989787868.

Xem:

1. Giao ban T9 - Trung Liêm tại "Blog Bạn Trỗi"

Xem thêm:
1. Tin thời sự - cafe giao ban - Hà Chí Quang K4 (Về phiên khai mạc cafe giao ban 02/03/2008)


Tin bóng đá: Ta thua! - Kiến Quốc



Vua bọ cạp' Higuita phá bóng bằng chân
Chiều qua, đội Trường Trỗi do Mạnh Thắng k7 cầm đầu đá với anh em trẻ Vaxuco và Học viện KTQS tại sân Cột Cờ. Biết đàn anh già hơn nên các em "chấp trái rưỡi". Cánh ta có anh Thắng "tụt" k2, Chỉnh "thọt", Mạnh Thắng k7, Gia Bình k6, Hiền "ve", Thắng "đen" (sau thêm Châu) k8, Kiến Quốc k5 cùng thủ môn Tiến và anh Bế Quốc Hùng. Đội già phải sử dụng chiến thuật "đào sâu chôn chặt", kiên quyết bê-tông phòng thủ đến cùng trước lối chơi "dệt lụa" trẻ khỏe của đàn em. Hiệp 1 kết thúc 0-0, quả đá sát biên ngang vào gôn của Thái không được tính(!).
Hiệp 2 đội trẻ dốc sức ép, sau cú sút phạt góc, chú em Thái đã dùng cái trán hói của mình đưa bóng vào lưới. Nhưng so với điều lệ cá cược thì đội trẻ vẫn thua. Bực 1 nỗi, số tiền góp của cả 2 đội bị Mạnh Thắng xung quỹ.
Hết trận, Anh Minh và Thắng "híp" k6 mới tới động viên!
Đăng lại tin của Kiến Quốc (đã đăng tại „Blog Út Trỗi”: Thứ bảy, ngày 06 tháng chín năm 2008)


Vua bọ cạp' Higuita phá bóng bằng chân
Chiều qua, đội Trường Trỗi do Mạnh Thắng k7 cầm đầu đá với anh em trẻ Vaxuco và Học viện KTQS tại sân Cột Cờ. Biết đàn anh già hơn nên các em "chấp trái rưỡi". Cánh ta có anh Thắng "tụt" k2, Chỉnh "thọt", Mạnh Thắng k7, Gia Bình k6, Hiền "ve", Thắng "đen" (sau thêm Châu) k8, Kiến Quốc k5 cùng thủ môn Tiến và anh Bế Quốc Hùng. Đội già phải sử dụng chiến thuật "đào sâu chôn chặt", kiên quyết bê-tông phòng thủ đến cùng trước lối chơi "dệt lụa" trẻ khỏe của đàn em. Hiệp 1 kết thúc 0-0, quả đá sát biên ngang vào gôn của Thái không được tính(!).
Hiệp 2 đội trẻ dốc sức ép, sau cú sút phạt góc, chú em Thái đã dùng cái trán hói của mình đưa bóng vào lưới. Nhưng so với điều lệ cá cược thì đội trẻ vẫn thua. Bực 1 nỗi, số tiền góp của cả 2 đội bị Mạnh Thắng xung quỹ.
Hết trận, Anh Minh và Thắng "híp" k6 mới tới động viên!
Đăng lại tin của Kiến Quốc (đã đăng tại „Blog Út Trỗi”: Thứ bảy, ngày 06 tháng chín năm 2008)

Thứ Sáu, 5 tháng 9, 2008

Lực lượng QS nước ngoài trong Chiến tranh VN - HaMeoK6


Lực lượng QS nước ngoài trong Chiến tranh VN


Mỹ:
Lực lượng tham chiến và đóng quân tại VN gồm:
- Sư đoàn kị binh số 1 (First Team).
- Sư đoàn lính thủy đánh bộ số 3.
- Sư đoàn bộ binh số 1 (Big Red One), tức sư đoàn "Anh cả đỏ".
- Sư đoàn bộ binh số 4 (Ivy Division).
- Sư đoàn bộ binh số 9 (Old Reliables).
- Sư đoàn bộ binh số 23 (Americal).
- Sư đoàn bộ binh số 25 (Tropic Lighting), tức sư đoàn “Tia chớp nhiệt đới”
- Lữ đoàn 3, Sư đoàn dù số 82 (All American).
- Sư đoàn dù số 101 (Screaming Eagles).
- Lữ đoàn 1, Sư đoàn bộ binh cơ giới số 5 (Red Diamon).
- Lữ đoàn dù số 173 (Sky Soldier).
- Lữ đoàn bộ binh nhẹ số 11 .
- Lữ đoàn bộ binh nhẹ số 196.
- Lữ đoàn bộ binh nhẹ số 198.
- Lữ đoàn bộ binh nhẹ số 199 (Redcatcher).
- Lữ đoàn thông tin số 1 (1st Signal Brigade).
- Lữ đoàn kị binh thiết giáp số 11 (Black Horse).
- Lữ đoàn không quân số 1 (trực thăng).
- Lực lượng đặc nhiệm đường không số 5 (lính Mũ Nồi Xanh).

Tổng số quân vào lúc cao nhất: 531.000 người.

Ngoài ra còn có các lực lượng tham chiến, nhưng không đóng quân tại VN gồm:
- Hạm đội 7.
- Tập đoàn không quân 8.

Hàn Quốc:
- Sư đoàn bộ binh Mãnh Hổ.
- Sư đoàn bộ binh Bạch Mã.
- Lữ đoàn lính thủy đánh bộ Rồng Xanh
Tổng số quân: 50.000 người.

Thái Lan:
- Sư đoàn bộ binh Hổ Mang.
- 1 trung đoàn bộ binh
Tổng số quân: 13.000 người.

Australia:
- Trung đoàn bộ binh Hoàng Gia
- 1 tàu khu trục
- 1 biên đội máy bay
Tổng số quân: 7.000 người.

New Zealand:
- 2 đại đội bộ binh
- 1 đại đội pháo binh
Tổng số quân: 600 người.

Philippines:
Có 2 đại đội công binh.

Đài Loan
29 cố vấn quân sự,

Tây Ban Nha
13 cố vấn quân sự.

Triều Tiên
- 1 trung đoàn tiêm kích (MiG-19) (khoảng 200 phi công)
- 1 số cố vấn quân sự
Tổng số quân: 800 người

Trung Quốc
- Một số đơn vị cao xạ, tên lửa phòng không (tương đương 1 trung đoàn)
- Công binh giúp xây dựng đường xá
Tổng số quân: 320.000 lượt người

Liên Xô
- Cố vấn quân sự
- Một số sĩ quan tham gia chiến đấu cùng các khẩu đội tên lửa trong giai đoạn đầu chiến tranh phá hoại miền Bắc.
Tổng số quân: 3.000 lượt người

Cuba
- 1 số Kỹ sư cầu đường giúp xây dựng đường HCM
- 1 số Phi công chiến đấu
Tổng số quân: không có số liệu

Đăng lại bài viết của Hà Mèo (đã đăng tại „Blog Bạn Trỗi”: Thứ sáu, tháng chín 05, 2008)



Lực lượng QS nước ngoài trong Chiến tranh VN


Mỹ:
Lực lượng tham chiến và đóng quân tại VN gồm:
- Sư đoàn kị binh số 1 (First Team).
- Sư đoàn lính thủy đánh bộ số 3.
- Sư đoàn bộ binh số 1 (Big Red One), tức sư đoàn "Anh cả đỏ".
- Sư đoàn bộ binh số 4 (Ivy Division).
- Sư đoàn bộ binh số 9 (Old Reliables).
- Sư đoàn bộ binh số 23 (Americal).
- Sư đoàn bộ binh số 25 (Tropic Lighting), tức sư đoàn “Tia chớp nhiệt đới”
- Lữ đoàn 3, Sư đoàn dù số 82 (All American).
- Sư đoàn dù số 101 (Screaming Eagles).
- Lữ đoàn 1, Sư đoàn bộ binh cơ giới số 5 (Red Diamon).
- Lữ đoàn dù số 173 (Sky Soldier).
- Lữ đoàn bộ binh nhẹ số 11 .
- Lữ đoàn bộ binh nhẹ số 196.
- Lữ đoàn bộ binh nhẹ số 198.
- Lữ đoàn bộ binh nhẹ số 199 (Redcatcher).
- Lữ đoàn thông tin số 1 (1st Signal Brigade).
- Lữ đoàn kị binh thiết giáp số 11 (Black Horse).
- Lữ đoàn không quân số 1 (trực thăng).
- Lực lượng đặc nhiệm đường không số 5 (lính Mũ Nồi Xanh).

Tổng số quân vào lúc cao nhất: 531.000 người.

Ngoài ra còn có các lực lượng tham chiến, nhưng không đóng quân tại VN gồm:
- Hạm đội 7.
- Tập đoàn không quân 8.

Hàn Quốc:
- Sư đoàn bộ binh Mãnh Hổ.
- Sư đoàn bộ binh Bạch Mã.
- Lữ đoàn lính thủy đánh bộ Rồng Xanh
Tổng số quân: 50.000 người.

Thái Lan:
- Sư đoàn bộ binh Hổ Mang.
- 1 trung đoàn bộ binh
Tổng số quân: 13.000 người.

Australia:
- Trung đoàn bộ binh Hoàng Gia
- 1 tàu khu trục
- 1 biên đội máy bay
Tổng số quân: 7.000 người.

New Zealand:
- 2 đại đội bộ binh
- 1 đại đội pháo binh
Tổng số quân: 600 người.

Philippines:
Có 2 đại đội công binh.

Đài Loan
29 cố vấn quân sự,

Tây Ban Nha
13 cố vấn quân sự.

Triều Tiên
- 1 trung đoàn tiêm kích (MiG-19) (khoảng 200 phi công)
- 1 số cố vấn quân sự
Tổng số quân: 800 người

Trung Quốc
- Một số đơn vị cao xạ, tên lửa phòng không (tương đương 1 trung đoàn)
- Công binh giúp xây dựng đường xá
Tổng số quân: 320.000 lượt người

Liên Xô
- Cố vấn quân sự
- Một số sĩ quan tham gia chiến đấu cùng các khẩu đội tên lửa trong giai đoạn đầu chiến tranh phá hoại miền Bắc.
Tổng số quân: 3.000 lượt người

Cuba
- 1 số Kỹ sư cầu đường giúp xây dựng đường HCM
- 1 số Phi công chiến đấu
Tổng số quân: không có số liệu

Đăng lại bài viết của Hà Mèo (đã đăng tại „Blog Bạn Trỗi”: Thứ sáu, tháng chín 05, 2008)


Thứ Năm, 4 tháng 9, 2008

Chuyện xin giấy phép XNK - HaMeoK6





Hồi những năm 89 – 90, khi mới “mở cửa”, khắp mọi nơi, mọi tỉnh đều xuất hiện các Công ty “im – ex” để làm xuất nhập khẩu. Lúc bấy giờ tôi cũng đã được nghe chuyện “kinh nghiệm” làm ăn của 1 Công ty như vậy thuộc 1 tỉnh miền Tây. Đó là chuyện xin giấy phép nhập khẩu mà như sau này người ta vẫn gọi là “Cô-ta”. “Thằng em” của công ty đó vừa nhậu vừa kể thế này:

Em được ông Giám đốc giao cho việc ra Hà Nội xin cho được cái giấy nhập khẩu mấy thứ hàng và tạo “mối” quen biết để tiếp tục làm ăn sau này. Cả đời em đã ra Hà Nội hồi nào đâu, nhưng được cái trong Công ty có mấy anh là dân “hồi kết” có bà con quen biết ở ngoải “cố vấn” cho “đường đi nước bước” chắc chắn không thể “chết đói”. Việc chỉ còn là làm sao có được cái giấy mang về (Hồi đó chưa có giá cả cái này bao nhiêu, cái kia bao nhiêu, nên cũng khó tính).

Ra tới Hà Nội em “lao” ngay đến đường Trần Phú nạp bộ hồ sơ vào UB KH và Đầu tư (lúc bấy giờ đấy là nơi duyệt hồ sơ XNK). Sau khi nạp hồ sơ xong, em hỏi ông cán bộ trông tuổi cũng trọng trọng đang xem xét từng trang hồ sơ rất cẩn thận: Dạ, thưa…khoảng bao lâu thì em nhận được…- Cứ về đi, khi nào có thì lấy nhé. – Dạ, …nhưng em ở trong Nam ra…- Thì cứ đợi ở Hà Nội – Dạ,…- Thôi về đi, hết giờ làm việc rồi. Em sững sờ, từ từ đi ra khỏi UB những mong ông cán bộ suy nghĩ và gọi lại….Nhưng chẳng có gì xảy ra.

Ra tới cổng, đứng chơ vơ trên vỉa hè Trần Phú, em chẳng biết phải làm cái gì? Hay đi đâu? Có quen ai đâu mà đi? Đúng lúc đó em thấy ông Cán bộ hồi nãy đang từ từ dắt cái xe Dame ra cùng vài tay nhân viên trẻ khác, nhưng ổng chẳng nhìn ai, lầm lũi ngồi vào xe và đạp máy. Đạp hai ba cái…xe không nổ. Em lập tức lao tới: Anh để em giúp. Chỉ 1 phát 1, xe máy nổ giòn tan. Em trao xe lại cho ổng. - Cám ơn chú! Ơ, thì ra là chú, đi đâu mà còn đứng đây? – Trong đầu em lập tức nghĩ ngay tới “cơ hội” mới – Dà, thì em ở trỏng ra…chẳng biết đi đâu, đang tính kiếm cái gì uống mà thấy buồn quá. À…hay là …em mời anh đi uống với em vài ly bia, nghe nói bia hơi Hà Nội…- Thôi, thôi, chú cứ đi, anh còn phải về với mấy cháu – Em năn nỉ mấy câu, mà ổng vẫn dứt khoát không là không. Thôi thì tùy anh, nhưng em nhờ anh giúp chút việc - …?? – Anh cho em quá giang tới cái chỗ nào có bia, chớ em không có xe mà cũng chẳng biết đường xá gì hết. Lần đầu tiên ra Hà Nội mà - …Ờ, thì chú lên đây, tôi đèo chú tới chỗ Cột cờ. Tha hồ mà uống!

Và khi tới “Bia hơi Cột cờ”, “ông anh” vì thương xót “thằng em” lớ ngớ trong Nam ra, đã tận tình chỉ bảo từ việc mua bia (hồi đó còn phải mua tic kê) đến việc chọn bàn, chọn mồi…và uống như thế nào cho đúng “gu” Hà Nội. 2 anh em vui tới tối. Lúc ra về “ông anh” mới nhắc: Hồ sơ chú cứ yên tâm, để anh xem – Ồi, chuyện đâu còn đó. Ở đây không nói chuyện công việc!

Sáng hôm sau, em hăm hở lên UB tìm gặp “ông anh”. Nhưng lạ thay, mặt ổng “lạnh như tiền”. À, chắc là vì ổng phải giữ ý với tụi khác. Dạ,…thưa anh, cho em hỏi thăm hồ sơ của công ty…- Ờ, chưa có. – Anh,…em là…- Biết rồi, Cứ về đi, khi nào có thì tôi báo. Mẹ, thật như 1 gáo nước lạnh. Em đứng chết trân. Bỗng nhìn thấy số điện thoại trên bàn ổng…À, lối thoát đây rồi. Bỏ ra về ngay. Tới chiều, canh lúc còn khoảng 30 phút nữa là tan tầm, em ra ngồi ngay “Bia hơi Cột cờ” mở “cục gạch” - điện thoại di động (hồi đó trị giá tới hơn 10 triệu đồng chớ ít gì) được ông Giám đốc giao cho trước khi “ra Thủ đô làm nhiệm vụ không xong, không về!” – bấm số “ông anh”: Anh ra chỗ hôm qua chơi – Ai đấy? À…chưa hết giờ mà mày - Nghe thân tình quá, em nắm chắc rồi: Còn mấy phút nữa mà làm gì – Thôi, anh bận lắm. Nhưng chỉ mấy phút sau là “ông anh” trình diện liền: Mày mua chuộc anh hả? – Đâu có. Nhậu 1 mình buồn chết. Ở HN em chỉ biết có mỗi mình anh. Không rủ anh thì rủ ai? – Hà, hà, uống nào…

Mấy ngày liên tiếp, cứ sáng thì em lên UB cho nhớ mặt, chiều tới lại kêu ổng đi bia hơi mà dứt khoát không nói gì tới vụ Hồ sơ. Cho tới bữa, ổng không chịu nổi nữa mới “tự giác” nói cho em hay: Hồ sơ của chú mày xong hết rồi, nhưng chưa có người ký bởi ông… đang đi nước ngoài – Chết mẹ em rồi! Vậy bữa nào ổng về? – Chưa đâu, nhưng anh chỉ cho chú….Thì ra hồi đó làm gì có Cô-ta hay giấy phép gì dữ dội đâu. Cứ có 1 ông cỡ Thứ trưởng trở lên phụ trách đúng ngành nghề ký vào góc cái Tờ trình rồi đưa Bộ (cấp bộ) đóng dấu. Thế là xong. “Ông anh” lại còn chỉ cho em biết có bà…phụ trách cái này ký 1 cái là xong ngay. Nhà bả ở….Mẹ, tốn bao nhiêu bia mới được thông tin này. Nhưng “ông anh” lại không quen (hay giả vờ không quen) bả. Chết thật!

Em về nghĩ nát cả ngày Chủ nhật mới ra cái trò “giàn cảnh” mà hồi đó dân Bắc chưa quen. Mấy ngày sau đó em ra ngồi trước nhà bà…có quyền ký, hỏi thăm, đợi chờ, “xem tướng” bả cho thật kỹ. Rồi hôm sau em mượn 1 cái xe Honda ra nhà bả đúng giờ tan tầm về. Canh đúng lúc xe hơi bả vừa bắt đầu quẹo vô nhà, em lao xe Honda tới, thắng cái “két”…rồi té cái bịch ngay trước cổng nhà ôm giò la nhoi trời đất. Bả vội vã bước xuống: Giời ơi, có sao không cháu? - Dạ,…kh..ô..ng…sa…o. Mặt mày nhăn nhó, em ráng đứng lên đi, …rồi té cái bịch lần nữa ngay trước mặt bả - Thôi nào, vào đây, vào đây….Bả dẫn em vô nhà, lấy dầu ra bóp cho em và luôn miệng hỏi thăm. Em cứ la nhí nhoái chỉ lung tung (vì có biết đau chỗ nào đâu mà chỉ). Cháu ở miền Nam ra à? – Dạ - Ra chơi hay công tác? – Dạ,..không có chi. Con cám ơn cô. Rồi em chào bả ra về. Coi như không có chuyện gì.

Tối hôm sau, em nhờ 1 bà là bà con của 1 anh “hồi kết” ở Công ty mua giùm 1 gói quà đủ thứ, trái cây, sôcôla, nước ngọt….và 1 tấm vải may áo dài (đúng loại đưa từ Sài Gòn ra) mang tới nhà bả. - Giời ơi, cháu mang cái gì tới thế - Dà, con cám ơn cô. Con ra HN không quen biết ai, lỡ bị té xe mà không có cô thì con chết là cái chắc (chết thật vì sẽ bị đuổi việc). Hôm nay con có chút quà biếu cô…đây là miếng vải may áo dài má con cho chẳng biết làm gì, con biếu cô xài (chẳng hiểu má nó cho nó vải may áo dài làm gì? Mà lại còn mang ra HN nữa chớ!) Thôi thì tình cảm lai láng, em “múa” đủ thứ cho tới lúc gần về mới “khai” thiệt: Con ra đây công tác xin cái giấy NK hàng….mà đợi mãi chẳng biết nạp cho ai. Kiểu này chắc hết tiền rồi về làm cái đơn nghỉ việc nạp GĐ cho rồi – Thế cháu có hồ sơ ở đây không? Việc này là do bộ của cô phụ trách đấy. Sao không thấy ai báo cáo nhỉ.

Thế là xong việc. 2 ngày sau em mang “chiến quả” về. Và từ đó, mỗi khi “có chuyện”, em gọi điện thoại ra trước rồi sau đó chỉ cần 3 ngày bay đi, bay về là “mở Tờ khai” liền.

“Thằng em” huyên thuyên hết nồi lẩu dê với cả lít đế mà vẫn còn nói tiếp. Chẳng biết có bao nhiêu phần trăm sự thật trong này, nhưng đó cũng là “kinh nghiệm” cho tôi mà sau này cũng gặp phải tương tự.





Hồi những năm 89 – 90, khi mới “mở cửa”, khắp mọi nơi, mọi tỉnh đều xuất hiện các Công ty “im – ex” để làm xuất nhập khẩu. Lúc bấy giờ tôi cũng đã được nghe chuyện “kinh nghiệm” làm ăn của 1 Công ty như vậy thuộc 1 tỉnh miền Tây. Đó là chuyện xin giấy phép nhập khẩu mà như sau này người ta vẫn gọi là “Cô-ta”. “Thằng em” của công ty đó vừa nhậu vừa kể thế này:

Em được ông Giám đốc giao cho việc ra Hà Nội xin cho được cái giấy nhập khẩu mấy thứ hàng và tạo “mối” quen biết để tiếp tục làm ăn sau này. Cả đời em đã ra Hà Nội hồi nào đâu, nhưng được cái trong Công ty có mấy anh là dân “hồi kết” có bà con quen biết ở ngoải “cố vấn” cho “đường đi nước bước” chắc chắn không thể “chết đói”. Việc chỉ còn là làm sao có được cái giấy mang về (Hồi đó chưa có giá cả cái này bao nhiêu, cái kia bao nhiêu, nên cũng khó tính).

Ra tới Hà Nội em “lao” ngay đến đường Trần Phú nạp bộ hồ sơ vào UB KH và Đầu tư (lúc bấy giờ đấy là nơi duyệt hồ sơ XNK). Sau khi nạp hồ sơ xong, em hỏi ông cán bộ trông tuổi cũng trọng trọng đang xem xét từng trang hồ sơ rất cẩn thận: Dạ, thưa…khoảng bao lâu thì em nhận được…- Cứ về đi, khi nào có thì lấy nhé. – Dạ, …nhưng em ở trong Nam ra…- Thì cứ đợi ở Hà Nội – Dạ,…- Thôi về đi, hết giờ làm việc rồi. Em sững sờ, từ từ đi ra khỏi UB những mong ông cán bộ suy nghĩ và gọi lại….Nhưng chẳng có gì xảy ra.

Ra tới cổng, đứng chơ vơ trên vỉa hè Trần Phú, em chẳng biết phải làm cái gì? Hay đi đâu? Có quen ai đâu mà đi? Đúng lúc đó em thấy ông Cán bộ hồi nãy đang từ từ dắt cái xe Dame ra cùng vài tay nhân viên trẻ khác, nhưng ổng chẳng nhìn ai, lầm lũi ngồi vào xe và đạp máy. Đạp hai ba cái…xe không nổ. Em lập tức lao tới: Anh để em giúp. Chỉ 1 phát 1, xe máy nổ giòn tan. Em trao xe lại cho ổng. - Cám ơn chú! Ơ, thì ra là chú, đi đâu mà còn đứng đây? – Trong đầu em lập tức nghĩ ngay tới “cơ hội” mới – Dà, thì em ở trỏng ra…chẳng biết đi đâu, đang tính kiếm cái gì uống mà thấy buồn quá. À…hay là …em mời anh đi uống với em vài ly bia, nghe nói bia hơi Hà Nội…- Thôi, thôi, chú cứ đi, anh còn phải về với mấy cháu – Em năn nỉ mấy câu, mà ổng vẫn dứt khoát không là không. Thôi thì tùy anh, nhưng em nhờ anh giúp chút việc - …?? – Anh cho em quá giang tới cái chỗ nào có bia, chớ em không có xe mà cũng chẳng biết đường xá gì hết. Lần đầu tiên ra Hà Nội mà - …Ờ, thì chú lên đây, tôi đèo chú tới chỗ Cột cờ. Tha hồ mà uống!

Và khi tới “Bia hơi Cột cờ”, “ông anh” vì thương xót “thằng em” lớ ngớ trong Nam ra, đã tận tình chỉ bảo từ việc mua bia (hồi đó còn phải mua tic kê) đến việc chọn bàn, chọn mồi…và uống như thế nào cho đúng “gu” Hà Nội. 2 anh em vui tới tối. Lúc ra về “ông anh” mới nhắc: Hồ sơ chú cứ yên tâm, để anh xem – Ồi, chuyện đâu còn đó. Ở đây không nói chuyện công việc!

Sáng hôm sau, em hăm hở lên UB tìm gặp “ông anh”. Nhưng lạ thay, mặt ổng “lạnh như tiền”. À, chắc là vì ổng phải giữ ý với tụi khác. Dạ,…thưa anh, cho em hỏi thăm hồ sơ của công ty…- Ờ, chưa có. – Anh,…em là…- Biết rồi, Cứ về đi, khi nào có thì tôi báo. Mẹ, thật như 1 gáo nước lạnh. Em đứng chết trân. Bỗng nhìn thấy số điện thoại trên bàn ổng…À, lối thoát đây rồi. Bỏ ra về ngay. Tới chiều, canh lúc còn khoảng 30 phút nữa là tan tầm, em ra ngồi ngay “Bia hơi Cột cờ” mở “cục gạch” - điện thoại di động (hồi đó trị giá tới hơn 10 triệu đồng chớ ít gì) được ông Giám đốc giao cho trước khi “ra Thủ đô làm nhiệm vụ không xong, không về!” – bấm số “ông anh”: Anh ra chỗ hôm qua chơi – Ai đấy? À…chưa hết giờ mà mày - Nghe thân tình quá, em nắm chắc rồi: Còn mấy phút nữa mà làm gì – Thôi, anh bận lắm. Nhưng chỉ mấy phút sau là “ông anh” trình diện liền: Mày mua chuộc anh hả? – Đâu có. Nhậu 1 mình buồn chết. Ở HN em chỉ biết có mỗi mình anh. Không rủ anh thì rủ ai? – Hà, hà, uống nào…

Mấy ngày liên tiếp, cứ sáng thì em lên UB cho nhớ mặt, chiều tới lại kêu ổng đi bia hơi mà dứt khoát không nói gì tới vụ Hồ sơ. Cho tới bữa, ổng không chịu nổi nữa mới “tự giác” nói cho em hay: Hồ sơ của chú mày xong hết rồi, nhưng chưa có người ký bởi ông… đang đi nước ngoài – Chết mẹ em rồi! Vậy bữa nào ổng về? – Chưa đâu, nhưng anh chỉ cho chú….Thì ra hồi đó làm gì có Cô-ta hay giấy phép gì dữ dội đâu. Cứ có 1 ông cỡ Thứ trưởng trở lên phụ trách đúng ngành nghề ký vào góc cái Tờ trình rồi đưa Bộ (cấp bộ) đóng dấu. Thế là xong. “Ông anh” lại còn chỉ cho em biết có bà…phụ trách cái này ký 1 cái là xong ngay. Nhà bả ở….Mẹ, tốn bao nhiêu bia mới được thông tin này. Nhưng “ông anh” lại không quen (hay giả vờ không quen) bả. Chết thật!

Em về nghĩ nát cả ngày Chủ nhật mới ra cái trò “giàn cảnh” mà hồi đó dân Bắc chưa quen. Mấy ngày sau đó em ra ngồi trước nhà bà…có quyền ký, hỏi thăm, đợi chờ, “xem tướng” bả cho thật kỹ. Rồi hôm sau em mượn 1 cái xe Honda ra nhà bả đúng giờ tan tầm về. Canh đúng lúc xe hơi bả vừa bắt đầu quẹo vô nhà, em lao xe Honda tới, thắng cái “két”…rồi té cái bịch ngay trước cổng nhà ôm giò la nhoi trời đất. Bả vội vã bước xuống: Giời ơi, có sao không cháu? - Dạ,…kh..ô..ng…sa…o. Mặt mày nhăn nhó, em ráng đứng lên đi, …rồi té cái bịch lần nữa ngay trước mặt bả - Thôi nào, vào đây, vào đây….Bả dẫn em vô nhà, lấy dầu ra bóp cho em và luôn miệng hỏi thăm. Em cứ la nhí nhoái chỉ lung tung (vì có biết đau chỗ nào đâu mà chỉ). Cháu ở miền Nam ra à? – Dạ - Ra chơi hay công tác? – Dạ,..không có chi. Con cám ơn cô. Rồi em chào bả ra về. Coi như không có chuyện gì.

Tối hôm sau, em nhờ 1 bà là bà con của 1 anh “hồi kết” ở Công ty mua giùm 1 gói quà đủ thứ, trái cây, sôcôla, nước ngọt….và 1 tấm vải may áo dài (đúng loại đưa từ Sài Gòn ra) mang tới nhà bả. - Giời ơi, cháu mang cái gì tới thế - Dà, con cám ơn cô. Con ra HN không quen biết ai, lỡ bị té xe mà không có cô thì con chết là cái chắc (chết thật vì sẽ bị đuổi việc). Hôm nay con có chút quà biếu cô…đây là miếng vải may áo dài má con cho chẳng biết làm gì, con biếu cô xài (chẳng hiểu má nó cho nó vải may áo dài làm gì? Mà lại còn mang ra HN nữa chớ!) Thôi thì tình cảm lai láng, em “múa” đủ thứ cho tới lúc gần về mới “khai” thiệt: Con ra đây công tác xin cái giấy NK hàng….mà đợi mãi chẳng biết nạp cho ai. Kiểu này chắc hết tiền rồi về làm cái đơn nghỉ việc nạp GĐ cho rồi – Thế cháu có hồ sơ ở đây không? Việc này là do bộ của cô phụ trách đấy. Sao không thấy ai báo cáo nhỉ.

Thế là xong việc. 2 ngày sau em mang “chiến quả” về. Và từ đó, mỗi khi “có chuyện”, em gọi điện thoại ra trước rồi sau đó chỉ cần 3 ngày bay đi, bay về là “mở Tờ khai” liền.

“Thằng em” huyên thuyên hết nồi lẩu dê với cả lít đế mà vẫn còn nói tiếp. Chẳng biết có bao nhiêu phần trăm sự thật trong này, nhưng đó cũng là “kinh nghiệm” cho tôi mà sau này cũng gặp phải tương tự.

Thứ Ba, 2 tháng 9, 2008

Phim tài liệu "Hồ Chí Minh - Chân dung một con người"

Phim tài liệu "Hồ Chí Minh - Chân dung một con người" của Viện Tư liệu phim (60 phút) -
Nhân Kỉ niệm lần thứ 100 ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/1990).





Phim tài liệu "Hồ Chí Minh - Chân dung một con người" của Viện Tư liệu phim (60 phút) -
Nhân Kỉ niệm lần thứ 100 ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/1990).





Nhân kỉ niệm 2/9: Xem phim tài liệu "Hồ Chí Minh - Chân dung một con người"

Mời các bác cùng hồi tưởng.

1. Tuyên ngôn độc lập

2. Phim tài liệu của Viện Tư liệu phim (60 phút) - Nhân Kỉ niệm lần thứ 100 ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/1990).

Mời các bác cùng hồi tưởng.

1. Tuyên ngôn độc lập

2. Phim tài liệu của Viện Tư liệu phim (60 phút) - Nhân Kỉ niệm lần thứ 100 ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/1990).

Ai gọi Bác Hồ là “anh” ? - HaMeoK6



Ai gọi Bác Hồ là “anh” ?


Chỉ có 2 người gọi Bác Hồ là “anh” và đều là phụ huynh của trường Trỗi, đó là :

Người thứ 1 là bác Nguyễn Khánh Toàn vốn đã cùng học với Bác từ hồi Đại học Phương Đông khi còn là Nguyễn Ái Quốc và từ đó cho tới trước khi Bác mất, ông vẫn luôn luôn gọi Bác là “anh” xưng " tôi".

Người thứ 2 là bác Mười Trí gọi Bác là “anh” và xưng “em”. Xin xem bức thơ ông gởi Bác vào năm 1949 như sau:

“Bức tâm thư kính gửi anh Hồ Chí Minh.
Thằng em của anh là Mười Trí gửi thư này chúc anh khỏe mạnh... Thằng Bảy Viễn đã đầu Tây rồi, thằng em của anh rất lấy làm buồn vì không ngăn cản được nó. Nhưng thằng em của anh xin hứa chắc với anh là thằng em của anh sẽ tiếp tục kháng chiến cho tới thắng lợi cuối cùng.
Dân giang hồ một khi đã theo cách mạng là nhất định sẽ đi tới cùng, không bao giờ sanh nhị tâm.
Ký tên: Huỳnh Văn Trí
Trung đoàn trưởng Trung đoàn 304.”

Lá thư được đóng dấu đỏ chói.

Đăng lại bài viết của Hà Mèo (đã đăng tại „Blog Bạn Trỗi”: Thứ ba, 02 tháng chín, 2008)


Ai gọi Bác Hồ là “anh” ?


Chỉ có 2 người gọi Bác Hồ là “anh” và đều là phụ huynh của trường Trỗi, đó là :

Người thứ 1 là bác Nguyễn Khánh Toàn vốn đã cùng học với Bác từ hồi Đại học Phương Đông khi còn là Nguyễn Ái Quốc và từ đó cho tới trước khi Bác mất, ông vẫn luôn luôn gọi Bác là “anh” xưng " tôi".

Người thứ 2 là bác Mười Trí gọi Bác là “anh” và xưng “em”. Xin xem bức thơ ông gởi Bác vào năm 1949 như sau:

“Bức tâm thư kính gửi anh Hồ Chí Minh.
Thằng em của anh là Mười Trí gửi thư này chúc anh khỏe mạnh... Thằng Bảy Viễn đã đầu Tây rồi, thằng em của anh rất lấy làm buồn vì không ngăn cản được nó. Nhưng thằng em của anh xin hứa chắc với anh là thằng em của anh sẽ tiếp tục kháng chiến cho tới thắng lợi cuối cùng.
Dân giang hồ một khi đã theo cách mạng là nhất định sẽ đi tới cùng, không bao giờ sanh nhị tâm.
Ký tên: Huỳnh Văn Trí
Trung đoàn trưởng Trung đoàn 304.”

Lá thư được đóng dấu đỏ chói.

Đăng lại bài viết của Hà Mèo (đã đăng tại „Blog Bạn Trỗi”: Thứ ba, 02 tháng chín, 2008)