Thứ Hai, 16 tháng 2, 2015

THỰC TẠI VÀ HOANG ĐƯỜNG 40/a




PHẦN IV:     BÁU VẬT

“Lạc vào cõi mộng Tự Nhiên
Thẫn thờ một bóng giữa miền Siêu Linh
Nhặt lên hòn ngọc bí huyền
Mắt ai thăm thẳm đắm nhìn mắt ai.”
Thầy Cãi

CHƯƠNG VII: TOÀN BÍCH

“Khi công việc là thú vui thì cuộc sống là sự hưởng thụ bất tận. Còn nếu công việc là nghĩa vụ thì lúc đó cuộc sống sẽ là nô dịch khổ sai”.
M. Gorki.

“Cuộc sống bắt chước Nghệ thuật nhiều hơn là Nghệ thuật bắt chước Cuộc sống. Có như thế không phải chỉ vì bản năng mô phỏng của Cuộc sống mà còn vì thực tế rằng, mục đích tự giác của Cuộc sống chính là tìm cách để thể hiện, và rằng Nghệ thuật cung cấp cho Cuộc sống vài hình thức đẹp đẽ để Cuộc sống có thể biến năng lực ấy thành hiện thực…”.
Oscar Wilde.

Vừa đi đường vừa kể chuyện, nhưng vì mải mê kể chuyện và chìm đắm vào những hoang tưởng mà chúng ta quên rằng mình vẫn đang… đi đường.
Nhiều người cho rằng, nói “đi đường” là không chính xác vì cuộc hành trình chinh phục đỉnh Tu Di phải là sự “leo núi”. “Cãi cọ” thường đem đến nhiều điều bổ ích nhưng cũng không ít điều thiệt hại. Duy ý chí trong mê lầm là nguyên nhân gây ra tính bảo thủ, cực đoan ở con người. Khi sự bảo thủ đã “chụp” vào trí não con người rồi thì cãi cọ để tranh thắng là hoàn toàn vô vọng và thậm chí là dẫn tới ẩu đả. Ngày xưa, thuở còn bồng bột, chúng ta không hiểu được điều đó nên hay cãi cọ đến đỏ mặt tía tai để rồi chẳng một lần thắng hay thua trong vui vẻ đề huề mà còn gây ra nỗi hậm hực không cho bản thân mình thì cũng cho bạn bè mình. Nay thì nhờ sự từng trải mà chúng ta không cãi cọ làm gì nữa, chỉ “rụt rè” nhận định như thế này: nói “leo núi Tu Di” thì rõ ràng là đúng rồi, nhưng “leo” hay “trèo” thì cũng là “đi”, là trường hợp riêng của “đi”, nên nói “đi đường” để chỉ sự “leo núi” kể ra cũng không đến nỗi bất ổn lắm. Hơn nữa ngay trong lúc này đây, nói “đi đường” lại có vẻ chính xác hơn là nói “leo núi”.



PHẦN IV:     BÁU VẬT

“Lạc vào cõi mộng Tự Nhiên
Thẫn thờ một bóng giữa miền Siêu Linh
Nhặt lên hòn ngọc bí huyền
Mắt ai thăm thẳm đắm nhìn mắt ai.”
Thầy Cãi

CHƯƠNG VII: TOÀN BÍCH

“Khi công việc là thú vui thì cuộc sống là sự hưởng thụ bất tận. Còn nếu công việc là nghĩa vụ thì lúc đó cuộc sống sẽ là nô dịch khổ sai”.
M. Gorki.

“Cuộc sống bắt chước Nghệ thuật nhiều hơn là Nghệ thuật bắt chước Cuộc sống. Có như thế không phải chỉ vì bản năng mô phỏng của Cuộc sống mà còn vì thực tế rằng, mục đích tự giác của Cuộc sống chính là tìm cách để thể hiện, và rằng Nghệ thuật cung cấp cho Cuộc sống vài hình thức đẹp đẽ để Cuộc sống có thể biến năng lực ấy thành hiện thực…”.
Oscar Wilde.

Vừa đi đường vừa kể chuyện, nhưng vì mải mê kể chuyện và chìm đắm vào những hoang tưởng mà chúng ta quên rằng mình vẫn đang… đi đường.
Nhiều người cho rằng, nói “đi đường” là không chính xác vì cuộc hành trình chinh phục đỉnh Tu Di phải là sự “leo núi”. “Cãi cọ” thường đem đến nhiều điều bổ ích nhưng cũng không ít điều thiệt hại. Duy ý chí trong mê lầm là nguyên nhân gây ra tính bảo thủ, cực đoan ở con người. Khi sự bảo thủ đã “chụp” vào trí não con người rồi thì cãi cọ để tranh thắng là hoàn toàn vô vọng và thậm chí là dẫn tới ẩu đả. Ngày xưa, thuở còn bồng bột, chúng ta không hiểu được điều đó nên hay cãi cọ đến đỏ mặt tía tai để rồi chẳng một lần thắng hay thua trong vui vẻ đề huề mà còn gây ra nỗi hậm hực không cho bản thân mình thì cũng cho bạn bè mình. Nay thì nhờ sự từng trải mà chúng ta không cãi cọ làm gì nữa, chỉ “rụt rè” nhận định như thế này: nói “leo núi Tu Di” thì rõ ràng là đúng rồi, nhưng “leo” hay “trèo” thì cũng là “đi”, là trường hợp riêng của “đi”, nên nói “đi đường” để chỉ sự “leo núi” kể ra cũng không đến nỗi bất ổn lắm. Hơn nữa ngay trong lúc này đây, nói “đi đường” lại có vẻ chính xác hơn là nói “leo núi”.

Chủ Nhật, 15 tháng 2, 2015

Nhớ rừng Yên Thế






Nhớ rừng Yên Thế


Thời chiến, xe ô tô thường chạy ban đêm để tránh máy bay địch. Tối đó, chúng tôi nai nịt gọn gàng, ba lô trên lưng tập hợp ở cái bãi chợ Bầu. Nơi đây, mỗi lần có chiếu phim là cả bọn lại kéo nhau đi xem. Xem phim là phụ, mục tiêu chính là “gẹo” gái làng. May mà trai làng rủ nhau đi bộ đội sạch, chứ chúng nó mà ở nhà thì thế nào bọn tôi cũng có anh sứt đầu mẻ trán…

Đoàn xe của bộ đội đưa chúng tôi lên Kho K680 Quân khí đóng quân trong một khu rừng nằm giữa hai tỉnh Bắc Giang và Lạng Sơn mà “tương truyền” là nơi nghĩa quân Hoàng Hoa Thám lập căn cứ chống Pháp cuối thế kỷ XIX. Xe chạy suốt đêm, mờ sáng vào đến Nhã Nam, chúng tôi được nghỉ một lát. Nghe nói ở đây có một sinh viên ngủ quên không ai biết. Khi đến nơi kiểm tra quân số thấy thiếu mới quay lại tìm. Sau đó, chúng tôi vào thẳng nơi đóng quân. Chỗ chúng tôi ở là ven một khu rừng già cây cối thưa thớt, nhưng toàn cây cổ thụ, cao lớn, xanh mướt. Nhiều thân cây còn bám chằng chịt các loại dây leo, các loại thực vật ký sinh khác. Rất nhiều sinh viên Bách khoa đã làm việc ở đây từ hơn một tháng trước. Chúng tôi được xếp vào ở một dãy nhà tranh cùng với lớp K16A.

Ban ngày, chúng tôi đi bộ vào làm việc trong các nhà kho sâu trong rừng, trưa về nhà bếp ăn trưa. Nghỉ trưa chừng một tiếng, sau đó làm việc tiếp cho đến khi có kẻng báo thì về nhà ở nghỉ ngơi, làm vệ sinh rồi ăn tối. Nhà bếp bố trí bên cạnh một bờ suối lớn, ngoài sân có một cây nhãn già. Lúc này vào khoảng tháng 7 nên cây nhãn được bao một tấm lưới lớn để ngăn dơi phá.

Chúng tôi cũng lần lượt thay phiên nhau nấu ăn, mỗi đợt làm liên tục một tuần lễ. Khi đến lượt, cũng bắt chước nhau “giấu” thức ăn vào chậu đựng cơm cho các bạn hữu của mình, tổ mình, … So với những năm tháng còn nhỏ, tôi sơ tán theo trường Văn hóa Quân đội ở Đại Từ, Thái Nguyên thì ở đây thực sự là sung sướng hơn rất nhiều.



Một trong những kỷ niệm khó quên của tôi với bạn Cường, bạn Đạt là trong một lần rủ nhau “mò” vào nhà dân kiếm ăn. Vào một nhà, thấy có cây mít quả lúc lỉu, chúng tôi liền hỏi mua. Nghe nói vỗ bồm bộp là mít chín, chúng tôi chọn được một quả xem ra có vẻ sắp ăn được: tròn vo, mắt đã thưa và … quả nhỏ hợp với khả năng tài chính của bọn đói ăn chúng tôi. Chủ nhà quả quyết là chén được ngay nên cả bọn hí hửng vác ra suối dự định tắm xong sẽ làm … mít. Nhưng khi dịch vị đã tràn cả ra mép cả ba thằng thì quả mít bổ ra vẫn chưa chín. Cố ăn nhưng miếng mít sường sượng, nhạt hoét. Tiếc của, lại đậy lại chờ cho chín. Nhưng bàn tính nếu mang về nhà thì lộ, vả lại “thóc đâu mà đãi gà rừng”. Thế là quyết định chôn ngay tại chỗ tức là bên bờ suối. Hai ngày sau không nhịn được nên cả bọn quyết định ra đào lên thì ôi thôi, mít đã bốc mùi thum thủm.

Chủ nhiệm Kho là ông Thiếu tá Lê Trung. Ông này tôi có được gặp vài lần ở kho, dáng người không to cao lắm nhưng được cái rất oai vệ, lúc nào cũng khệnh khạng, tay cầm ba toong, dắt chó béc ghê đi theo. Tôi nhớ nhất là khi ông đứng nói chuyện thì hai tay tỳ vào cây ba toong chống phía trước… Sau này lên công tác ở Kho KV1, tôi được biết gia đình ông vẫn theo Kho đi các nơi, ông đã mất vài năm rồi, con trai ông hiện công tác tại kho đó. Kho K680 còn có trung úy Hảo – ban kỹ thuật. Sau lấy vợ là cô Phương, sinh viên K15 Chế tạo máy, cũng lên K680 lao động đợt ấy. Khi về công tác ở Tổng cục Kỹ thuật, tôi có gặp lại anh Hảo – lúc này là Phó Cục trưởng Quân khí.

Thế rồi cũng qua những tháng ngày “quần quật”, chúng tôi kết thúc chuyến công tác đặc biệt trở về tiếp tục học tập. Hôm ra về, ai cũng được một tặng phẩm : đó là một cái thùng sắt vuông cỡ 40 x 40, sâu 15 phân sơn màu xanh quân sự kiểu như thùng đạn, để làm cái chậu tắm rửa thì còn gì bằng. Trên thân thùng có dòng chữ sơn trắng: K680 KINH TANG (kính tặng). Mang về Hà Nội, bà già lấy làm đồ chứa nước và giặt khăn lau nhà – công việc quan tâm nhất của bà. Đương nhiên là nó mau gỉ và hư hỏng.

Riêng tôi còn được Ban lãnh đạo Kho cấp cho Bằng khen về thành tích lao động do Thiếu tá Lê Trung ký. Do khen thưởng đợt này mà tôi được bạn bè nể trọng hơn. Những khuyết điểm nhỏ sau này tôi phạm phải, sẽ kể vào dịp khác, phụ trách lớp và các bạn cũng lơ đi cho.




Kỳ sau: Đi nhờ xe










Nhớ rừng Yên Thế


Thời chiến, xe ô tô thường chạy ban đêm để tránh máy bay địch. Tối đó, chúng tôi nai nịt gọn gàng, ba lô trên lưng tập hợp ở cái bãi chợ Bầu. Nơi đây, mỗi lần có chiếu phim là cả bọn lại kéo nhau đi xem. Xem phim là phụ, mục tiêu chính là “gẹo” gái làng. May mà trai làng rủ nhau đi bộ đội sạch, chứ chúng nó mà ở nhà thì thế nào bọn tôi cũng có anh sứt đầu mẻ trán…

Đoàn xe của bộ đội đưa chúng tôi lên Kho K680 Quân khí đóng quân trong một khu rừng nằm giữa hai tỉnh Bắc Giang và Lạng Sơn mà “tương truyền” là nơi nghĩa quân Hoàng Hoa Thám lập căn cứ chống Pháp cuối thế kỷ XIX. Xe chạy suốt đêm, mờ sáng vào đến Nhã Nam, chúng tôi được nghỉ một lát. Nghe nói ở đây có một sinh viên ngủ quên không ai biết. Khi đến nơi kiểm tra quân số thấy thiếu mới quay lại tìm. Sau đó, chúng tôi vào thẳng nơi đóng quân. Chỗ chúng tôi ở là ven một khu rừng già cây cối thưa thớt, nhưng toàn cây cổ thụ, cao lớn, xanh mướt. Nhiều thân cây còn bám chằng chịt các loại dây leo, các loại thực vật ký sinh khác. Rất nhiều sinh viên Bách khoa đã làm việc ở đây từ hơn một tháng trước. Chúng tôi được xếp vào ở một dãy nhà tranh cùng với lớp K16A.

Ban ngày, chúng tôi đi bộ vào làm việc trong các nhà kho sâu trong rừng, trưa về nhà bếp ăn trưa. Nghỉ trưa chừng một tiếng, sau đó làm việc tiếp cho đến khi có kẻng báo thì về nhà ở nghỉ ngơi, làm vệ sinh rồi ăn tối. Nhà bếp bố trí bên cạnh một bờ suối lớn, ngoài sân có một cây nhãn già. Lúc này vào khoảng tháng 7 nên cây nhãn được bao một tấm lưới lớn để ngăn dơi phá.

Chúng tôi cũng lần lượt thay phiên nhau nấu ăn, mỗi đợt làm liên tục một tuần lễ. Khi đến lượt, cũng bắt chước nhau “giấu” thức ăn vào chậu đựng cơm cho các bạn hữu của mình, tổ mình, … So với những năm tháng còn nhỏ, tôi sơ tán theo trường Văn hóa Quân đội ở Đại Từ, Thái Nguyên thì ở đây thực sự là sung sướng hơn rất nhiều.



Một trong những kỷ niệm khó quên của tôi với bạn Cường, bạn Đạt là trong một lần rủ nhau “mò” vào nhà dân kiếm ăn. Vào một nhà, thấy có cây mít quả lúc lỉu, chúng tôi liền hỏi mua. Nghe nói vỗ bồm bộp là mít chín, chúng tôi chọn được một quả xem ra có vẻ sắp ăn được: tròn vo, mắt đã thưa và … quả nhỏ hợp với khả năng tài chính của bọn đói ăn chúng tôi. Chủ nhà quả quyết là chén được ngay nên cả bọn hí hửng vác ra suối dự định tắm xong sẽ làm … mít. Nhưng khi dịch vị đã tràn cả ra mép cả ba thằng thì quả mít bổ ra vẫn chưa chín. Cố ăn nhưng miếng mít sường sượng, nhạt hoét. Tiếc của, lại đậy lại chờ cho chín. Nhưng bàn tính nếu mang về nhà thì lộ, vả lại “thóc đâu mà đãi gà rừng”. Thế là quyết định chôn ngay tại chỗ tức là bên bờ suối. Hai ngày sau không nhịn được nên cả bọn quyết định ra đào lên thì ôi thôi, mít đã bốc mùi thum thủm.

Chủ nhiệm Kho là ông Thiếu tá Lê Trung. Ông này tôi có được gặp vài lần ở kho, dáng người không to cao lắm nhưng được cái rất oai vệ, lúc nào cũng khệnh khạng, tay cầm ba toong, dắt chó béc ghê đi theo. Tôi nhớ nhất là khi ông đứng nói chuyện thì hai tay tỳ vào cây ba toong chống phía trước… Sau này lên công tác ở Kho KV1, tôi được biết gia đình ông vẫn theo Kho đi các nơi, ông đã mất vài năm rồi, con trai ông hiện công tác tại kho đó. Kho K680 còn có trung úy Hảo – ban kỹ thuật. Sau lấy vợ là cô Phương, sinh viên K15 Chế tạo máy, cũng lên K680 lao động đợt ấy. Khi về công tác ở Tổng cục Kỹ thuật, tôi có gặp lại anh Hảo – lúc này là Phó Cục trưởng Quân khí.

Thế rồi cũng qua những tháng ngày “quần quật”, chúng tôi kết thúc chuyến công tác đặc biệt trở về tiếp tục học tập. Hôm ra về, ai cũng được một tặng phẩm : đó là một cái thùng sắt vuông cỡ 40 x 40, sâu 15 phân sơn màu xanh quân sự kiểu như thùng đạn, để làm cái chậu tắm rửa thì còn gì bằng. Trên thân thùng có dòng chữ sơn trắng: K680 KINH TANG (kính tặng). Mang về Hà Nội, bà già lấy làm đồ chứa nước và giặt khăn lau nhà – công việc quan tâm nhất của bà. Đương nhiên là nó mau gỉ và hư hỏng.

Riêng tôi còn được Ban lãnh đạo Kho cấp cho Bằng khen về thành tích lao động do Thiếu tá Lê Trung ký. Do khen thưởng đợt này mà tôi được bạn bè nể trọng hơn. Những khuyết điểm nhỏ sau này tôi phạm phải, sẽ kể vào dịp khác, phụ trách lớp và các bạn cũng lơ đi cho.




Kỳ sau: Đi nhờ xe





Thứ Bảy, 14 tháng 2, 2015

Chị Hiếu - "Chị nuôi" K6 (Cập nhật 17/02/2015)




Chị Hiếu đã làm chị nuôi từ Trại Hòe, lên Đại Từ rồi cùng toàn trường sang Quế Lâm. Chị đã từng nuôi quân ở C6 (khóa 6), sau đó chuyển sang C8 (khóa 3).

Chị kể, kỷ niệm sâu sắc nhất là những buổi tắm điều trị bệnh ghẻ cho lũ học trò C6. Chị bảo, chúng cứ vô tư tồng ngồng để các chị nhể những con cái ghẻ bò lổm ngổm, rồi các chị đun nước lá cho chúng tắm...
Quang Việt K2

Hiện chị bị bệnh nặng, gia đình rất khó khăn (chịu thiệt thòi không được hưởng chế độ, chính sách gì cả). BLL Trường và BLL các Thầy Cô giáo đã cử đại diện Thầy Trò Trường Trỗi gồm Thầy Nguyễn Đức Lương, Ngô Thế Vinh K5, Nguyễn Thị Thái K8, lên Trại Hòe thăm chị Hiếu.

Mời các bạn xem tin chi tiết bên dưới.

* Chị đã từ trần hồi 19h00, ngày 15/02/2015 (Tức ngày 27/12 năm Giáp Ngọ), tại nhà riêng, hưởng thọ 69 tuổi.

* Sáng ngày 17/02/2015, gia đình và thôn xóm đã tổ chức Lễ Truy điệu và An táng chị Phương Thị Hiếu ở quê nhà, xóm Trại Mễ, thôn Ngọc Tân, xã Ngọc Sơn, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Đoàn đại diện BLL Trường VHQĐ - TSQ Nguyễn Văn Trỗi đã đến viếng, dự Lễ Truy điệu và tiễn đưa chị Hiếu về nơi an nghỉ cuối cùng...

Đoàn đại diện BLL Trường chia buồn với gia đình và có lời tiễn biệt với chị Hiếu.


Các anh Dương, anh Bề, anh Chuẩn, chị Ninh, chị Hồi tiếp đoàn Trường Trỗi.
Vĩnh biệt chị Phương Thị Hiếu, cầu mong Linh Hồn chị sớm siêu thoát, thanh thản nơi cõi Vĩnh Hằng, phù hộ độ trì cho các con, cháu, anh em, đồng đội...





Chị Phương Thị Hiếu là "Chị nuôi" của Trường Trỗi ta, thời gian từ Trại Hòe cho đến cuối năm 1968 ở Hưng Hóa. Chị Hiếu sinh năm 1946, nguyên quán thôn Trại Hòe (Nay là Ngọc Tân), xã Ngọc Sơn, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Cụ Ông Thân sinh chị Hiếu là Cụ Phương Văn Thảo là Cấp Dưỡng của Trường ta từ thời Trường VHQĐ ở Lạng Sơn về Trại Hòe và Cụ còn tiếp tục làm việc ở Trường Trỗi đến hết thời gian ở Hưng Hóa. Khoảng tháng 3/1964, Cụ Thảo xin cho chị Hiếu vào Trường làm Cấp Dưỡng.
Các lần Thầy Trò Trường Trỗi lên thăm, họp mặt tại Trường xe Quân Chủng PKKQ hoặc tham dự Lễ Hội thôn Trại Hòe hàng năm vào dịp 14, 15 tháng Giêng Âm lịch đều được gặp mặt các Chị Nuôi ở đây, đó là các chị: Chị Hiếu, chị Ninh, chị Khải, chị Tính, và được các chị mời về nhà tiếp đón thân tình, với tình cảm thân thiết, quý mến như đối với người thân trong gia đình cùng nhớ lại những kỷ niệm, những câu chuyện cảm động "Ngày xưa" ở Trường Trỗi.
Chị Hiếu bị bệnh U, Bướu cổ. Dăm tháng trở lại đây, chị Hiếu trở bệnh. Đến nay bệnh đã rất nặng, chị không ăn được, nuốt rất khó, sự sống chỉ còn tính hàng ngày...

Biết tin, hôm nay ngày 13/02/2015 (Tức ngày 25/12 Âm Lịch), BLL Trường và BLL các Thầy Cô giáo đã cử ngay đại diện Thầy Trò Trường Trỗi gồm Thầy Nguyễn Đức Lương, Ngô Thế Vinh K5, Nguyễn Thị Thái K8, lên Trại Hòe thăm chị Hiếu.

Tuy rất yếu, không nói được, nhưng chị Hiếu luôn tỏ vui mừng, cảm động, vẫn luôn gật đầu, vẫn biết, vẫn hiểu được những lời thăm hỏi, động viên, chia sẻ của Thầy Trò Trường Trỗi....
Cầu mong cho chị Hiếu chóng khỏe, tai qua, nạn khỏi.

Trích từ bài: "Thăm chị Phương Thị Hiếu bị ốm nặng" - Ngô Thế Vinh K5, 13/02/2015, Blog K5.



Buổi giao ban Vườn treo Tất niên hôm nay có rất nhiều bàn tay cùng chìa ra đỡ phần nào gánh nặng cho con chị Hiếu - một trong những chị nuôi theo trường mình cho đến tận ngày giải thể. So với các chị Nuôi người gốc thôn Trại Hòe, xã Ngọc Sơn, Hiệp Hòa Bắc Giang - một trong những địa điểm đóng quân của trường - là chị Tính, chị Khải và chị Ninh thì chị Hiếu có hoàn cảnh đặc biệt buồn và khó khăn: Sau khi trường giải thể, chị Hiếu là một người mẹ đơn thân, làm nông nghiệp nuôi con trai. Con chị là cháu Thắng lớn lên cũng làm nông nghiệp. Tuy nhà rất nghèo nhưng chị Hiếu và em Thắng đã cố gắng cho thế hệ thứ ba ăn học: cháu trai đầu đã học xong trường kỹ thuật CN hiện đang tìm việc làm để phụ bố nuôi hai em gái đang học đại học. Nhà nghèo lại nuôi hai con học đại học nên khi chị Hiếu ung thư giai đoạn cuối thì cháu Thắng cũng bó tay, đành nhìn mẹ đuối dần, chẳng có tiền để cho chị ăn bằng ống xông hay truyền đạm. Đến hôm nay, đã 7 ngày chị Hiếu không nuốt được gì, dù chỉ là một thìa sữa nên chỉ còn da bọc xương với khuôn mặt của một người sắp lìa bỏ cõi trần. Quanh giường chị Hiếu chẳng có gì cho bệnh nhân ngoài mấy cái ghế cho khách ngồi. Căn nhà cũng gần như trống không. Chị Hiếu nghèo nhất trong tất cả những thầy cô giáo và các chị nuôi mà mình đã đến thăm: nhà hầu như chẳng có gì. Em Thắng nhỏ, gầy, buồn bã, mệt mỏi và lo lắng. Nỗi lo mẹ không chờ được cái Tết mà đã ra đi và có lẽ có cả nỗi lo lấy gì lo hậu sự cho mẹ. Chị Hiếu có bố là cụ Phương Văn Thảo là cấp dưỡng trường mình. Cụ Thảo đưa chị Hiếu vào làm chị nuôi mà không có biên chế thế nào đó nên sau này dù nhiều trò Trỗi đã rất cố gắng nhưng không làm được chế độ cho chị dù chỉ là một tấm huy chương đã góp phần chống Mỹ. Em trai chị Hiếu ngậm ngùi nói: "có những người chỉ nuôi bèo hoa dâu thôi cũng được chế độ". Vậy mà chị Hiếu đã nuôi bao nhiêu tướng, tá (thời nay) hay chí ít cũng là con các LTCM và các quan, các tướng tá (thời chống Mỹ). Nhưng chẳng làm gì được thủ tục, đành chịu vậy.
anh chi em VT đã hưởng ứng và có sự chia sẻ với chị Hiếu.(FB Nguyễn Quang Vinh) Ảnh FB Thanh Nguyen Huu

Mình chỉ biết an ủi gia đình rằng chị đã nuôi học sinh Trỗi thì các học sinh Trỗi sẽ ghi nhớ công ơn của chị. Các anh chị GIAO BAN VƯỜN TREO và mình là những người đầu tiên đã góp tiếp 11 trăm nghìn vào số tiền 5 trăm nghìn của BLL các thầy cô, 5 trăm nghìn của BLL các trò, 2 trăm nghìn của thầy Lương và 2 trăm nghìn của anh Ngô Thế Vinh đã được trao tận tay chị Hiếu sáng hôm nay.


Trích từ bài: "VƯỜN TREO XẺ CHIA GÁNH NẶNG VỚI CON CHỊ HIẾU!" - Nguyễn Thị Thái K8, 13/02/2015, Blog K8.




Những lần gặp mặt

Xin nhấp chuột vào mục cần đọc để xem chi tiết





Chị Hiếu đã làm chị nuôi từ Trại Hòe, lên Đại Từ rồi cùng toàn trường sang Quế Lâm. Chị đã từng nuôi quân ở C6 (khóa 6), sau đó chuyển sang C8 (khóa 3).

Chị kể, kỷ niệm sâu sắc nhất là những buổi tắm điều trị bệnh ghẻ cho lũ học trò C6. Chị bảo, chúng cứ vô tư tồng ngồng để các chị nhể những con cái ghẻ bò lổm ngổm, rồi các chị đun nước lá cho chúng tắm...
Quang Việt K2

Hiện chị bị bệnh nặng, gia đình rất khó khăn (chịu thiệt thòi không được hưởng chế độ, chính sách gì cả). BLL Trường và BLL các Thầy Cô giáo đã cử đại diện Thầy Trò Trường Trỗi gồm Thầy Nguyễn Đức Lương, Ngô Thế Vinh K5, Nguyễn Thị Thái K8, lên Trại Hòe thăm chị Hiếu.

Mời các bạn xem tin chi tiết bên dưới.

* Chị đã từ trần hồi 19h00, ngày 15/02/2015 (Tức ngày 27/12 năm Giáp Ngọ), tại nhà riêng, hưởng thọ 69 tuổi.

* Sáng ngày 17/02/2015, gia đình và thôn xóm đã tổ chức Lễ Truy điệu và An táng chị Phương Thị Hiếu ở quê nhà, xóm Trại Mễ, thôn Ngọc Tân, xã Ngọc Sơn, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Đoàn đại diện BLL Trường VHQĐ - TSQ Nguyễn Văn Trỗi đã đến viếng, dự Lễ Truy điệu và tiễn đưa chị Hiếu về nơi an nghỉ cuối cùng...

Đoàn đại diện BLL Trường chia buồn với gia đình và có lời tiễn biệt với chị Hiếu.


Các anh Dương, anh Bề, anh Chuẩn, chị Ninh, chị Hồi tiếp đoàn Trường Trỗi.
Vĩnh biệt chị Phương Thị Hiếu, cầu mong Linh Hồn chị sớm siêu thoát, thanh thản nơi cõi Vĩnh Hằng, phù hộ độ trì cho các con, cháu, anh em, đồng đội...





Chị Phương Thị Hiếu là "Chị nuôi" của Trường Trỗi ta, thời gian từ Trại Hòe cho đến cuối năm 1968 ở Hưng Hóa. Chị Hiếu sinh năm 1946, nguyên quán thôn Trại Hòe (Nay là Ngọc Tân), xã Ngọc Sơn, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Cụ Ông Thân sinh chị Hiếu là Cụ Phương Văn Thảo là Cấp Dưỡng của Trường ta từ thời Trường VHQĐ ở Lạng Sơn về Trại Hòe và Cụ còn tiếp tục làm việc ở Trường Trỗi đến hết thời gian ở Hưng Hóa. Khoảng tháng 3/1964, Cụ Thảo xin cho chị Hiếu vào Trường làm Cấp Dưỡng.
Các lần Thầy Trò Trường Trỗi lên thăm, họp mặt tại Trường xe Quân Chủng PKKQ hoặc tham dự Lễ Hội thôn Trại Hòe hàng năm vào dịp 14, 15 tháng Giêng Âm lịch đều được gặp mặt các Chị Nuôi ở đây, đó là các chị: Chị Hiếu, chị Ninh, chị Khải, chị Tính, và được các chị mời về nhà tiếp đón thân tình, với tình cảm thân thiết, quý mến như đối với người thân trong gia đình cùng nhớ lại những kỷ niệm, những câu chuyện cảm động "Ngày xưa" ở Trường Trỗi.
Chị Hiếu bị bệnh U, Bướu cổ. Dăm tháng trở lại đây, chị Hiếu trở bệnh. Đến nay bệnh đã rất nặng, chị không ăn được, nuốt rất khó, sự sống chỉ còn tính hàng ngày...

Biết tin, hôm nay ngày 13/02/2015 (Tức ngày 25/12 Âm Lịch), BLL Trường và BLL các Thầy Cô giáo đã cử ngay đại diện Thầy Trò Trường Trỗi gồm Thầy Nguyễn Đức Lương, Ngô Thế Vinh K5, Nguyễn Thị Thái K8, lên Trại Hòe thăm chị Hiếu.

Tuy rất yếu, không nói được, nhưng chị Hiếu luôn tỏ vui mừng, cảm động, vẫn luôn gật đầu, vẫn biết, vẫn hiểu được những lời thăm hỏi, động viên, chia sẻ của Thầy Trò Trường Trỗi....
Cầu mong cho chị Hiếu chóng khỏe, tai qua, nạn khỏi.

Trích từ bài: "Thăm chị Phương Thị Hiếu bị ốm nặng" - Ngô Thế Vinh K5, 13/02/2015, Blog K5.



Buổi giao ban Vườn treo Tất niên hôm nay có rất nhiều bàn tay cùng chìa ra đỡ phần nào gánh nặng cho con chị Hiếu - một trong những chị nuôi theo trường mình cho đến tận ngày giải thể. So với các chị Nuôi người gốc thôn Trại Hòe, xã Ngọc Sơn, Hiệp Hòa Bắc Giang - một trong những địa điểm đóng quân của trường - là chị Tính, chị Khải và chị Ninh thì chị Hiếu có hoàn cảnh đặc biệt buồn và khó khăn: Sau khi trường giải thể, chị Hiếu là một người mẹ đơn thân, làm nông nghiệp nuôi con trai. Con chị là cháu Thắng lớn lên cũng làm nông nghiệp. Tuy nhà rất nghèo nhưng chị Hiếu và em Thắng đã cố gắng cho thế hệ thứ ba ăn học: cháu trai đầu đã học xong trường kỹ thuật CN hiện đang tìm việc làm để phụ bố nuôi hai em gái đang học đại học. Nhà nghèo lại nuôi hai con học đại học nên khi chị Hiếu ung thư giai đoạn cuối thì cháu Thắng cũng bó tay, đành nhìn mẹ đuối dần, chẳng có tiền để cho chị ăn bằng ống xông hay truyền đạm. Đến hôm nay, đã 7 ngày chị Hiếu không nuốt được gì, dù chỉ là một thìa sữa nên chỉ còn da bọc xương với khuôn mặt của một người sắp lìa bỏ cõi trần. Quanh giường chị Hiếu chẳng có gì cho bệnh nhân ngoài mấy cái ghế cho khách ngồi. Căn nhà cũng gần như trống không. Chị Hiếu nghèo nhất trong tất cả những thầy cô giáo và các chị nuôi mà mình đã đến thăm: nhà hầu như chẳng có gì. Em Thắng nhỏ, gầy, buồn bã, mệt mỏi và lo lắng. Nỗi lo mẹ không chờ được cái Tết mà đã ra đi và có lẽ có cả nỗi lo lấy gì lo hậu sự cho mẹ. Chị Hiếu có bố là cụ Phương Văn Thảo là cấp dưỡng trường mình. Cụ Thảo đưa chị Hiếu vào làm chị nuôi mà không có biên chế thế nào đó nên sau này dù nhiều trò Trỗi đã rất cố gắng nhưng không làm được chế độ cho chị dù chỉ là một tấm huy chương đã góp phần chống Mỹ. Em trai chị Hiếu ngậm ngùi nói: "có những người chỉ nuôi bèo hoa dâu thôi cũng được chế độ". Vậy mà chị Hiếu đã nuôi bao nhiêu tướng, tá (thời nay) hay chí ít cũng là con các LTCM và các quan, các tướng tá (thời chống Mỹ). Nhưng chẳng làm gì được thủ tục, đành chịu vậy.
anh chi em VT đã hưởng ứng và có sự chia sẻ với chị Hiếu.(FB Nguyễn Quang Vinh) Ảnh FB Thanh Nguyen Huu

Mình chỉ biết an ủi gia đình rằng chị đã nuôi học sinh Trỗi thì các học sinh Trỗi sẽ ghi nhớ công ơn của chị. Các anh chị GIAO BAN VƯỜN TREO và mình là những người đầu tiên đã góp tiếp 11 trăm nghìn vào số tiền 5 trăm nghìn của BLL các thầy cô, 5 trăm nghìn của BLL các trò, 2 trăm nghìn của thầy Lương và 2 trăm nghìn của anh Ngô Thế Vinh đã được trao tận tay chị Hiếu sáng hôm nay.


Trích từ bài: "VƯỜN TREO XẺ CHIA GÁNH NẶNG VỚI CON CHỊ HIẾU!" - Nguyễn Thị Thái K8, 13/02/2015, Blog K8.




Những lần gặp mặt

Xin nhấp chuột vào mục cần đọc để xem chi tiết


Thứ Năm, 12 tháng 2, 2015

Tất niên (Cập nhật liên tục)


Ảnh từ FB Sơn Kều, Minh Nguyen, Trung Le, Vũ Khánh, Thang Nguyentoan, OngNoi PiMon, Hung Chi, Nguyễn Anh


HN
Đào Thất Thốn (tiến Vua)...
... ở sân Hoàng thành (Anh Minh 06/02/2015)

Ảnh từ FB Sơn Kều, Minh Nguyen, Trung Le, Vũ Khánh, Thang Nguyentoan, OngNoi PiMon, Hung Chi, Nguyễn Anh


HN
Đào Thất Thốn (tiến Vua)...
... ở sân Hoàng thành (Anh Minh 06/02/2015)

Thứ Ba, 10 tháng 2, 2015

"Sinh ra trong khói lửa" tập 3 lên mạng



Cái này là để phục vụ ACE chưa có tập 3, cũng là để "lấy đà" cho tập 4. Do bận nên anh KQ chưa gửi ảnh được, sẽ bổ sung, cảm phiền ACE "đọc" trước "xem" sau vậy - giữa các bữa nhậu trong dịp Tết :)

Mời xem Mục lục tập 3
Mời xem Mục lục 3 tập 1-2-3



Cái này là để phục vụ ACE chưa có tập 3, cũng là để "lấy đà" cho tập 4. Do bận nên anh KQ chưa gửi ảnh được, sẽ bổ sung, cảm phiền ACE "đọc" trước "xem" sau vậy - giữa các bữa nhậu trong dịp Tết :)

Mời xem Mục lục tập 3
Mời xem Mục lục 3 tập 1-2-3

Sa Pa ngày cuối năm




Thời tiết quá lý tưởng cho một chuyến đi: cái rét ngọt ngào, đặc sản chỉ có ở vùng cao; thời tiết khô ráo, may mắn thì có bầu trời trong, nắng đẹp; đường xá ngon choét... Dự kiến cho một chuyến đi ba ngày vào dịp "năm cùng, tháng tận" này!



Thời tiết quá lý tưởng cho một chuyến đi: cái rét ngọt ngào, đặc sản chỉ có ở vùng cao; thời tiết khô ráo, may mắn thì có bầu trời trong, nắng đẹp; đường xá ngon choét... Dự kiến cho một chuyến đi ba ngày vào dịp "năm cùng, tháng tận" này!

Thứ Bảy, 7 tháng 2, 2015

NGÀY TẾT NHỚ CÁC BẠN ĐÃ RA ĐI


Sắp tết, BLL K6 SG tổ chức đi thăm gia đình các bạn K6 ở SG đã mất. Tiếc là 1 số gia đình ko đến được.
Gia đình bạn LS Chu Quang: do hẹn hò bị trục trặc ko tới được.
Bạn Quốc Bình ko có bàn thờ ở nhà (cốt đặt ở chùa) nên ko đến.
Ko tìm được địa chỉ gia đình bạn Y Nam.
Còn thì AE xem hình đính kèm.






Viếng Đỗ Thành Chiến
Bàn thờ Chiến vý

Sắp tết, BLL K6 SG tổ chức đi thăm gia đình các bạn K6 ở SG đã mất. Tiếc là 1 số gia đình ko đến được.
Gia đình bạn LS Chu Quang: do hẹn hò bị trục trặc ko tới được.
Bạn Quốc Bình ko có bàn thờ ở nhà (cốt đặt ở chùa) nên ko đến.
Ko tìm được địa chỉ gia đình bạn Y Nam.
Còn thì AE xem hình đính kèm.






Viếng Đỗ Thành Chiến
Bàn thờ Chiến vý

Họp BLL Trường VHQĐ Nguyễn Văn Trỗi




Chiều ngày 04/02/2015, tại Hà Nội, BLL Trường VHQĐ - TSQ Nguyễn Văn Trỗi đã tổ chức họp. Thành phần tham dự gồm: Lê Kinh Tuyến K1, Lương Sơn K2, Lữ Thái K3, Cát Thịnh K4, Ngô Thế Vinh K5, Nguyễn Thắng K6, Hoàng Mạnh Thắng K7, Bùi Chuẩn, Nguyễn Thị Thái K8.
Trưởng BLL Trường Bùi Vinh chủ trì cuộc họp gồm các nội dung sau:
  1. Kiểm điểm việc thực hiện các công việc từ cuộc họp lần trước
  2. Những công việc chuẩn bị cho kỷ niệm 50 năm thành lập Trường (1965 - 2015)
  3. Báo cáo tài chính thời gian từ cuộc họp BLL kỳ trước tới nay
Trưởng BLL Trường: Bùi Vinh.



Chiều ngày 04/02/2015, tại Hà Nội, BLL Trường VHQĐ - TSQ Nguyễn Văn Trỗi đã tổ chức họp. Thành phần tham dự gồm: Lê Kinh Tuyến K1, Lương Sơn K2, Lữ Thái K3, Cát Thịnh K4, Ngô Thế Vinh K5, Nguyễn Thắng K6, Hoàng Mạnh Thắng K7, Bùi Chuẩn, Nguyễn Thị Thái K8.
Trưởng BLL Trường Bùi Vinh chủ trì cuộc họp gồm các nội dung sau:
  1. Kiểm điểm việc thực hiện các công việc từ cuộc họp lần trước
  2. Những công việc chuẩn bị cho kỷ niệm 50 năm thành lập Trường (1965 - 2015)
  3. Báo cáo tài chính thời gian từ cuộc họp BLL kỳ trước tới nay
Trưởng BLL Trường: Bùi Vinh.

Thứ Năm, 5 tháng 2, 2015

Tôi bị kỷ luật






Tôi bị kỷ luật


Tôi cũng không hiểu tại sao mình lại có ý định học khoa Chế tạo máy mà không phải ngành khác. Nhớ lại lúc đó không hề có một sự cân nhắc nghiêm túc, đầu óc lơ mơ, phần nghe đài, xem báo: cơ khí là then chốt, tức là rất quan trọng, rất “hot” – theo kiểu nói thời nay. Thế rồi các bạn tôi cũng bàn tán, khuyên nhủ, rủ rê…

Thế là tôi ghi ngay nguyện vọng: cơ khí và đóng tàu nữa. May mắn cho tôi là suốt 5 năm học đại học tôi không bị chuyển sang ngành khác, thậm chí trường khác như một số bạn của tôi. Vì thế mà tôi có được diễm phúc trong cuộc đời: có những người bạn thân thiết cho đến hôm nay, khi ngồi viết lại những chuyện này.

Sau năm thứ nhất, tình hình chiến sự căng thẳng. Chúng tôi lại đi sơ tán. Giai đoạn đầu, chúng tôi sơ tán ở thôn Thanh Xuyên (xã Hoàng Long, huyện Phú Xuyên) – đến ga Tía rẽ vào bên phải theo tỉnh lộ 73, qua cầu Đồng Quan thì rẽ trái. Lúc này chủ yếu là ở nhà dân, hàng ngày lo ăn, lấy gạo, lao động lặt vặt, … chả học hành gì. Tôi nhớ nhất là vài lần ra sông Nhuệ bơi và mò trai cải thiện, món này khi ở Hà Đông năm 1965 tôi cũng hay theo các anh lớn đi mò ở sông La Khê (một nhánh của sông Nhuệ) nên có chút gọi là kinh nghiệm. Lúc này là mùa hè năm 1972 – mùa hè đỏ lửa, mùa hè ác liệt – hàng ngàn sinh viên các trường Đại học nhập ngũ và vào chiến trường… Tôi cũng được chọn trong số đó. Qua lần khám sức khỏe, tôi không được chọn. Tôi đoán có thể là do có cha và anh cả đã là bộ đội mà hiện đang ở B2 rồi nên tôi không “đắt” bộ đội. Số bạn được gọi đi đợt này cũng toàn cánh ở Hà Nội như : Nguyễn Duy Cường “tẩm”, Lê Ninh “lùn”, Nguyễn Đình Đại “gà”, … nhưng số được chọn rất ít mà lại chọn đi học khí tài mới ở nước ngoài.




Chúng tôi được trả về trường nhưng cũng không ai quản lý cả, như những người tự do. Lúc này cả trường đã tỏa đi các cơ sở : nhà máy, kho tàng, … lao động “phục vụ chiến đấu” cả. Đàn đúm, lang thang hơn chục ngày, chơi bời chán chê khắp Hà Nội sơ tán vắng tanh. Kéo nhau ra trước Nhà hát Lớn chụp ảnh kỷ niệm, gần như có đủ mặt các bạn Hà Nội thời đó. Những bạn như Minh, Tùng, Phong, Toàn, Bảo thì ngày nay ít gặp hoặc không còn liên lạc gì. Những bạn vẫn còn gặp gỡ thường xuyên là: Dũng, Ninh, Cường, Đạt, Đại, Thêm, Hùng. Khi có tiền rủng rỉnh, còn rủ nhau đi ăn bánh tôm ở Hồ Tây. Chi tiết này tôi không nhớ nhưng có bạn bịa chuyện, đem ra giễu cợt tôi mãi: ăn xong, còn mang bát đĩa đi xuống ven hồ định… rửa. Có lần rủ nhau ra trước nhà Ngân hàng ăn kem. Bạn Nguyễn Ngọc Thêm còn thách đố: ăn hết một phích kem que. Thế là mua một phích kem, Thêm rút ăn từng que kem một trước những cặp mắt thèm thuồng của các bạn. Kem thời đó thì chủ yếu là nước đá pha đường thôi. Ăn sang que thứ ba bắt đầu thấy uể oải rồi, … Que thứ năm thì bắt đầu nghẹn, chảy cả máu răng, … Thế là thua. Bà bán kem cũng rất thông cảm, đưa cho chiếc khăn mặt để Thêm lau và nghẹn ngào nói: con bác cũng đi bộ đội như các cháu, không biết ở đâu.

Chơi mãi cũng chán, nghỉ học mãi cũng lo sợ kỷ luật của Nhà trường. Được biết các bạn cùng lớp đã theo các đoàn sinh viên đi vào công xưởng, nhà máy, đơn vị quân đội để phục vụ chiến đấu hơn một tháng rồi. Chúng tôi quyết định rủ nhau “mò” lên nơi sơ tán của Khoa lúc này ở thôn Cẩm Bào (chợ Bầu), xã Cẩm Xuyên, huyện Hiệp Hòa, Bắc Giang. Chúng tôi lên đến nơi gặp lãnh đạo Khoa, sau khi trình bày lý do rất chi là “chính đáng”: chuẩn bị đi bộ đội. Nhưng đều bị Khoa bắt làm kiểm điểm, thậm chí còn bị đe dọa… đuổi học nữa cơ. Sau đó, tôi và các bạn được Khoa thông báo kỷ luật cảnh cáo do… trốn học. Tuổi trẻ vốn ham hoạt động chân tay thế mà chúng tôi cứ vật vờ ở Cẩm Xuyên, học không được học, chơi không được chơi. Thế rồi cũng đến lúc lãnh đạo Khoa cử chúng tôi bổ sung cho một đơn vị quân đội. Chúng tôi cũng rất háo hức chờ ngày lên đường …


Kỳ sau: Nhớ rừng Yên Thế


















Tôi bị kỷ luật


Tôi cũng không hiểu tại sao mình lại có ý định học khoa Chế tạo máy mà không phải ngành khác. Nhớ lại lúc đó không hề có một sự cân nhắc nghiêm túc, đầu óc lơ mơ, phần nghe đài, xem báo: cơ khí là then chốt, tức là rất quan trọng, rất “hot” – theo kiểu nói thời nay. Thế rồi các bạn tôi cũng bàn tán, khuyên nhủ, rủ rê…

Thế là tôi ghi ngay nguyện vọng: cơ khí và đóng tàu nữa. May mắn cho tôi là suốt 5 năm học đại học tôi không bị chuyển sang ngành khác, thậm chí trường khác như một số bạn của tôi. Vì thế mà tôi có được diễm phúc trong cuộc đời: có những người bạn thân thiết cho đến hôm nay, khi ngồi viết lại những chuyện này.

Sau năm thứ nhất, tình hình chiến sự căng thẳng. Chúng tôi lại đi sơ tán. Giai đoạn đầu, chúng tôi sơ tán ở thôn Thanh Xuyên (xã Hoàng Long, huyện Phú Xuyên) – đến ga Tía rẽ vào bên phải theo tỉnh lộ 73, qua cầu Đồng Quan thì rẽ trái. Lúc này chủ yếu là ở nhà dân, hàng ngày lo ăn, lấy gạo, lao động lặt vặt, … chả học hành gì. Tôi nhớ nhất là vài lần ra sông Nhuệ bơi và mò trai cải thiện, món này khi ở Hà Đông năm 1965 tôi cũng hay theo các anh lớn đi mò ở sông La Khê (một nhánh của sông Nhuệ) nên có chút gọi là kinh nghiệm. Lúc này là mùa hè năm 1972 – mùa hè đỏ lửa, mùa hè ác liệt – hàng ngàn sinh viên các trường Đại học nhập ngũ và vào chiến trường… Tôi cũng được chọn trong số đó. Qua lần khám sức khỏe, tôi không được chọn. Tôi đoán có thể là do có cha và anh cả đã là bộ đội mà hiện đang ở B2 rồi nên tôi không “đắt” bộ đội. Số bạn được gọi đi đợt này cũng toàn cánh ở Hà Nội như : Nguyễn Duy Cường “tẩm”, Lê Ninh “lùn”, Nguyễn Đình Đại “gà”, … nhưng số được chọn rất ít mà lại chọn đi học khí tài mới ở nước ngoài.




Chúng tôi được trả về trường nhưng cũng không ai quản lý cả, như những người tự do. Lúc này cả trường đã tỏa đi các cơ sở : nhà máy, kho tàng, … lao động “phục vụ chiến đấu” cả. Đàn đúm, lang thang hơn chục ngày, chơi bời chán chê khắp Hà Nội sơ tán vắng tanh. Kéo nhau ra trước Nhà hát Lớn chụp ảnh kỷ niệm, gần như có đủ mặt các bạn Hà Nội thời đó. Những bạn như Minh, Tùng, Phong, Toàn, Bảo thì ngày nay ít gặp hoặc không còn liên lạc gì. Những bạn vẫn còn gặp gỡ thường xuyên là: Dũng, Ninh, Cường, Đạt, Đại, Thêm, Hùng. Khi có tiền rủng rỉnh, còn rủ nhau đi ăn bánh tôm ở Hồ Tây. Chi tiết này tôi không nhớ nhưng có bạn bịa chuyện, đem ra giễu cợt tôi mãi: ăn xong, còn mang bát đĩa đi xuống ven hồ định… rửa. Có lần rủ nhau ra trước nhà Ngân hàng ăn kem. Bạn Nguyễn Ngọc Thêm còn thách đố: ăn hết một phích kem que. Thế là mua một phích kem, Thêm rút ăn từng que kem một trước những cặp mắt thèm thuồng của các bạn. Kem thời đó thì chủ yếu là nước đá pha đường thôi. Ăn sang que thứ ba bắt đầu thấy uể oải rồi, … Que thứ năm thì bắt đầu nghẹn, chảy cả máu răng, … Thế là thua. Bà bán kem cũng rất thông cảm, đưa cho chiếc khăn mặt để Thêm lau và nghẹn ngào nói: con bác cũng đi bộ đội như các cháu, không biết ở đâu.

Chơi mãi cũng chán, nghỉ học mãi cũng lo sợ kỷ luật của Nhà trường. Được biết các bạn cùng lớp đã theo các đoàn sinh viên đi vào công xưởng, nhà máy, đơn vị quân đội để phục vụ chiến đấu hơn một tháng rồi. Chúng tôi quyết định rủ nhau “mò” lên nơi sơ tán của Khoa lúc này ở thôn Cẩm Bào (chợ Bầu), xã Cẩm Xuyên, huyện Hiệp Hòa, Bắc Giang. Chúng tôi lên đến nơi gặp lãnh đạo Khoa, sau khi trình bày lý do rất chi là “chính đáng”: chuẩn bị đi bộ đội. Nhưng đều bị Khoa bắt làm kiểm điểm, thậm chí còn bị đe dọa… đuổi học nữa cơ. Sau đó, tôi và các bạn được Khoa thông báo kỷ luật cảnh cáo do… trốn học. Tuổi trẻ vốn ham hoạt động chân tay thế mà chúng tôi cứ vật vờ ở Cẩm Xuyên, học không được học, chơi không được chơi. Thế rồi cũng đến lúc lãnh đạo Khoa cử chúng tôi bổ sung cho một đơn vị quân đội. Chúng tôi cũng rất háo hức chờ ngày lên đường …


Kỳ sau: Nhớ rừng Yên Thế













Thứ Hai, 2 tháng 2, 2015

THỰC TẠI VÀ HOANG ĐƯỜNG 39/b




PHẦN IV:     BÁU VẬT

“Lạc vào cõi mộng Tự Nhiên
Thẫn thờ một bóng giữa miền Siêu Linh
Nhặt lên hòn ngọc bí huyền
Mắt ai thăm thẳm đắm nhìn mắt ai.”
Thầy Cãi

CHƯƠNG VI: BÍCH LẠC

“Một chân lý mới của khoa học thường thắng lợi không phải bằng cách những kẻ chống đối nó sẽ được thuyết phục và tuyên bố mình được dạy dỗ, mà đúng hơn bằng cách những kẻ chống đối dần dần chết hết và thế hệ mới ngay từ đầu được làm quen với nó”.
M. Planck.

“Nền văn minh của chúng ta chẳng qua là sự tích lũy của tất cả những niềm mơ ước đã được thể hiện trong thực tế qua hàng bao thế kỷ và nếu như loài người không ước mơ, quay lưng lại với sự kỳ diệu của Vũ Trụ, thì đó là dấu hiệu suy thoái của loài người”.
Clac
(tiếp theo)
¯¯¯
Ngay từ thời còn là sinh viên, F. Bôia đã gọi vui K. Gauxơ, người bạn thân của mình là “Cuốn sách im lặng chưa có tên tuổi”. Và F. Bôia đã không lầm: K. Gauxơ sau này đã trở thành nhà toán học hàng đầu của Châu Âu và được vinh danh là “Ông Hoàng toán học” của thời đại mình. Sự vinh danh ấy không phải là quá đáng nếu nhìn vào những thành tựu toán học mà Gauxơ đã gặt hái được cho khoa học. Chúng ta có thể tóm lược vài kết quả toán học tiêu biểu của ông.
Vào tháng 7-1796, trên một số báo được xuất bản ở Rên, có đăng bài “Phát minh mới” được ký tên K. Gauxơ, một sinh viên của Trường Đại học tổng hợp Gottinghen. Đây là một phát minh mới lạ mà lúc ấy ít người để ý đến. Trong bài báo đó, Gauxơ viết:
“Mọi nhà hình học đều biết rằng có thể bằng phương pháp hình học (tức bằng thước kẻ và compa) dựng được các hình đa giác đều, cụ thể là tam giác, ngũ giác 15 cạnh và các đa giác có số cạnh gấp đôi chúng. Điều đó người ta có thể biết từ thời Ơclít và hình như từ ấy đến nay, mọi người đều cho rằng lĩnh vực hình học sơ cấp không thể mở rộng thêm, hoặc ít ra là tôi chưa biết một sự thành công nào trong việc mở rộng về hướng này. Do đó tôi cho rằng đáng chú ý đến phát minh: ngoài những đa giác đều trên, có thể bằng phương pháp hình học dựng nhiều đa giác đều khác, ví dụ như đa giác đều 17 cạnh. Phát minh đó thực ra chỉ là hệ quả của một lý thuyết lớn chưa được kết thúc hoàn toàn. Sau khi lý thuyết ấy được hoàn thành, nó sẽ được giới thiệu với độc giả”.



PHẦN IV:     BÁU VẬT

“Lạc vào cõi mộng Tự Nhiên
Thẫn thờ một bóng giữa miền Siêu Linh
Nhặt lên hòn ngọc bí huyền
Mắt ai thăm thẳm đắm nhìn mắt ai.”
Thầy Cãi

CHƯƠNG VI: BÍCH LẠC

“Một chân lý mới của khoa học thường thắng lợi không phải bằng cách những kẻ chống đối nó sẽ được thuyết phục và tuyên bố mình được dạy dỗ, mà đúng hơn bằng cách những kẻ chống đối dần dần chết hết và thế hệ mới ngay từ đầu được làm quen với nó”.
M. Planck.

“Nền văn minh của chúng ta chẳng qua là sự tích lũy của tất cả những niềm mơ ước đã được thể hiện trong thực tế qua hàng bao thế kỷ và nếu như loài người không ước mơ, quay lưng lại với sự kỳ diệu của Vũ Trụ, thì đó là dấu hiệu suy thoái của loài người”.
Clac
(tiếp theo)
¯¯¯
Ngay từ thời còn là sinh viên, F. Bôia đã gọi vui K. Gauxơ, người bạn thân của mình là “Cuốn sách im lặng chưa có tên tuổi”. Và F. Bôia đã không lầm: K. Gauxơ sau này đã trở thành nhà toán học hàng đầu của Châu Âu và được vinh danh là “Ông Hoàng toán học” của thời đại mình. Sự vinh danh ấy không phải là quá đáng nếu nhìn vào những thành tựu toán học mà Gauxơ đã gặt hái được cho khoa học. Chúng ta có thể tóm lược vài kết quả toán học tiêu biểu của ông.
Vào tháng 7-1796, trên một số báo được xuất bản ở Rên, có đăng bài “Phát minh mới” được ký tên K. Gauxơ, một sinh viên của Trường Đại học tổng hợp Gottinghen. Đây là một phát minh mới lạ mà lúc ấy ít người để ý đến. Trong bài báo đó, Gauxơ viết:
“Mọi nhà hình học đều biết rằng có thể bằng phương pháp hình học (tức bằng thước kẻ và compa) dựng được các hình đa giác đều, cụ thể là tam giác, ngũ giác 15 cạnh và các đa giác có số cạnh gấp đôi chúng. Điều đó người ta có thể biết từ thời Ơclít và hình như từ ấy đến nay, mọi người đều cho rằng lĩnh vực hình học sơ cấp không thể mở rộng thêm, hoặc ít ra là tôi chưa biết một sự thành công nào trong việc mở rộng về hướng này. Do đó tôi cho rằng đáng chú ý đến phát minh: ngoài những đa giác đều trên, có thể bằng phương pháp hình học dựng nhiều đa giác đều khác, ví dụ như đa giác đều 17 cạnh. Phát minh đó thực ra chỉ là hệ quả của một lý thuyết lớn chưa được kết thúc hoàn toàn. Sau khi lý thuyết ấy được hoàn thành, nó sẽ được giới thiệu với độc giả”.