Thứ Tư, 16 tháng 7, 2008

Cảm nhận - Khắc Việt K7



CẢM NHẬN



Cuộc sống hôm nay cởi mở hơn nhưng cũng phúc tạp đa chiều hơn. Anh em chúng ta có hơn nghìn người thì cũng có nghìn lối nghĩ về nó, thế nào là chuẩn mực cho cuộc sống hôm nay chắc khó có câu trả lời…

Có một người bạn hỏi tôi: “Thằng A lên tướng, mày có tự hào không?”. Tôi đã trả lời là không, nhưng tôi mừng cho nó, thì người bạn kia cho tôi là cố chấp hẹp hòi… Thật buồn khi tôi không thể chiều theo ý nghĩ khác và càng không thể tranh luận để giải thoát cho mình cái "mũ" vừa được ban tặng. Nhân chuyện này tôi xin kể về một trong những người bạn Trỗi của tôi mà tôi thấy…

***

Hắn trên tôi một khóa, ngày ở trường Trỗi tôi biết, vì Hắn ngổ ngáo có tiếng. Cuối 1975 từ chiến trường ra ôn thi đại học, tôi lại gặp Hắn. Cùng là lính Trỗi nên tôi và Hắn thân nhau rất tự nhiên. Chúng tôi có nhiều điểm tương đồng của lính Trỗi nhưng cũng có nhiều khác biệt. Hắn vẫn như xưa, vẫn nghịch ngợm nổi tiếng trong đám học viên con em cán bộ. Tôi thì ngược lại, cái danh hiệu Đảng viên làm tôi thuần hơn, ít trèo tường bỏ học hơn.

Gần một năm trời ôn thi tại Lạng Sơn, chúng tôi sống như trong trại giam, chủ nhật một tiểu đội chỉ được 2 "vé" ra chơi thị xã. Mỗi lần như thế, hắn thương cái thằng Đảng viên trong tôi nên đều nhường vé cho tôi, còn hắn thì đi theo “lối nhỏ”. Chuyện ra phố khó khăn vậy mà chẳng ngày nào hắn và lũ em K9 vắng mặt ở cái thị xã nhỏ này. Chẳng mấy ai không biết lũ chúng tôi, từ các cô mậu dịch viên xinh đẹp trong cửa hàng giải khát đến bà bán chè chén vỉa hè..v.v. quan hệ của chúng tôi rộng lắm, ai cũng ngưỡng mộ đám lính quân hàm “sơ mít” con ông “cốp” nhất là các em gái Lạng Sơn.

Một lần tôi và hắn trèo tường ra thị xã chơi buổi tối, khi chuẩn bị về hắn rủ tôi đến nhà một người quen.

- Muộn rồi về thôi! Tôi giục hắn.

- Hôm nay tao có hẹn, muộn một chút! việc "chó" gì! Hắn động viên tôi. Mà Hắn vẫn thường xuyên đi về muộn như thế có mấy ai biết nên tôi cũng yên tâm.

Chúng tôi đi vào một căn nhà nhỏ trong con hẻm trên phố Kỳ Lừa. Từ khe cửa tôi thấy một cô bé tóc đuôi sam, má đỏ hồng đang học bài, khi chúng tôi vào cô bé mừng ra mặt, như đã chờ đợi từ lâu.

Xinh thật! Hắn quen từ bao giờ vậy? Hóa ra bấy lâu nay tôi cứ tưởng mình biết rõ về Hắn. Tôi biết Hắn quen nhiều cô gái trong thị xã này, có nhiều cô mê hắn như điếu đổ mỗi khi Hắn đàn hát, giọng Hắn khàn khàn rất quyến rũ . Riêng cô bé xinh đẹp này thì tôi không biết. Phải nói thật lúc bấy giờ nỗi lo bị kỷ luật tan biến hết. Tôi ngồi ngắm cô bé, cô bé nghe Hắn nói chuyện và sau đó Hắn giảng một bài toán vật lý lớp 9 cho cô bé...

Trên đường về tôi bảo: "mày giảng không hiệu quả đâu, tao thấy nó có nghe đâu mà mày cứ thao thao ...”

"Tao biết, chính vì thế tao mới rủ mày đi". Hắn trả lời tôi như vậy đấy! Tôi hơi bực và lại bị bất ngờ vì chẳng bao giờ nghĩ Hắn lại đàng hoàng thế.

"Nó thích, mày thích thì việc gì mà sợ, ngữ mày mà còn sợ mang tiếng “đểu” à". Hắn im lặng không cãi làm tôi ân hận. Suốt dọc đường về chúng tôi chẳng nói với nhau câu nào, thậm chí lúc vượt tường thành cổ (Trường VHQĐ nằm trong thành cổ) chúng tôi làm những đông tác công kênh nhau cũng chẳng thằng nào mở mồm... Đêm ấy khi hai đứa chui vô màn thì thầy Đ. bắt gặp nhưng hôm sau chẳng thấy thầy gọi lên, Hú vía!. (Đúng là thầy Trỗi có khác, lại cứu trò).

Mấy hôm sau tôi làm lành hỏi nhỏ “Không đi dạy nữa à?”. Hắn gật đầu xác nhận. Chẳng biết trong đầu hắn nghĩ gì? Còn tôi thì thấy trong con người ngỗ ngược ấy là tâm hồn trong trắng, thánh thiện và tử tế.

***

Lên Đại học KTQS tôi và hắn vẫn cùng một đại đội, các trò cũ lại tiếp tục và phát triển còn hơn cả ngày chúng tôi ở Lạng Sơn. Tuổi trẻ nhiều khi không biết điểm dừng cho đến khi nhìn lại… Cả nhóm chúng tôi bị kỷ luật nặng, hầu hết bị đưa đi rèn luyện một năm tại các đơn vị Hải quân. Riêng hắn do nhận hết tội về mình nên bị nặng nhất nhưng không ai nghĩ đến mức độ phải ở tù. Hôm xe quân pháp về, nhìn hắn bị còng tay tôi buồn lòng và bất lực…

Thời gian trôi đi, những chú lính nghịch ngợm sau một năm ra đảo trở về tiếp tục học tập (tất nhiên là bị tăng K), rồi cũng ra trường và về các đơn vị. Cho đến hôm nay có chú đã là Trung tướng lãnh đạo một tổng cục quan trong trong QĐ, có chú ra ngoài làm bí thư một quận lớn ở HN, có chú là đại biểu khối doanh nghiệp trong QH… Hầu hết họ đều trưởng thành và tiến bộ nhanh chóng. Còn hắn, học hành dở dang không bằng cấp với một tiền án không biết hắn phải xoay sở ra sao để sống. Thỉnh thoảng tôi có gặp một vài anh em, họ nói em có gặp anh K6 ở chỗ này, chỗ kia. “Anh ấy trông tiều tụy lắm...” mấy chú xót xa nói. Không xót xa làm sao được, mấy chú em thành đạt giàu có muốn giúp ông anh mà đành chịu. Họ biết K6 là người khái tính. Còn tôi cũng buồn vì ngần ấy năm trời mà chưa tìm gặp hắn một lần, trong lòng cứ nghĩ chắc nó giận mình lắm...

Rồi tôi lại gặp Hắn sau hơn 20 năm từ cái ngày hắn bị bắt. Chúng tôi ngồi chuyện trò nơi quán bia hơi vỉa hè. Người gầy hơn xưa nhưng tính tình vẫn vậy có điều là trầm hơn do tuổi tác cùng những năm tháng lang bạt kỳ hồ. Hắn ít khi nói về mình nhưng tôi biết hơn 20 năm ấy hắn đi rất nhiều nơi, từ những bản làng heo hút vùng sơn cước đến các chốn độ thị, rồi Lào, Căm Pu Chia làm đủ mọi nghề, quan hệ với đủ mọi loại người. Để kiếm sống hắn phải bươn chải với không biết bao nhiêu công việc, có thể đôi lúc có những việc không thiện. Hắn bảo với tôi: "Cho mãi đến bây giờ tao không thể quên được ánh mắt của mày nhìn tao khi bị tụi quân pháp nó còng tay”. Tôi thực sự cảm động vì hình như hắn nhận thấy sự chia sẻ của tôi với Hắn trong lúc ê chề nhất của cuộc đời...

Biết Hắn vừa lấy vợ, vợ Hắn là cô gái một tỉnh biên giới phía Bắc, trong một gia đình nền nếp. Cô ấy là công chức kha khá của tỉnh. Tôi mừng cho Hắn vì từ nay đã có bến đậu, nhưng cũng lo cho hắn về gia cảnh… Tôi biết với Hắn ở cái thị xã biên cương này, với bề dày lăn lộn của cuộc sống giang hồ Hắn không thiếu cách kiếm tiền nhưng liệu có hợp với cô vợ công chức kia không?

Chúng tôi vừa uống bia vừa nói đủ chuyện khi sang đề tài vi tính thấy Hắn cũng chăm chú, tôi đề nghị tặng Hắn hai quyển sách, Hắn ưng ngay. Tôi bỏ bàn bia chạy ngay về nhà, mang đến đưa Hắn. Đó là hai cuốn viết về Foxpro …

Sau buổi đó tôi và Hắn thường điện thoại cho nhau, biết Hắn ngày càng say vi tính tôi cũng mừng nhưng tôi không thể ngờ bắt đầu từ hai cuốn sách đó Hắn lại chuyển hướng cuộc đời.

Khi tôi lên thăm Hắn thì thực sự "choáng", mới chỉ một năm mà trên giá sách đầy kín sách vi tính. Quả là Hắn thông minh mới có thể vật lộn với mớ kiến thức phức tạp đó, mà toàn tiếng Anh mới khiếp. Nếu nói là hắn siêu thì chưa đúng vì thế giới vi tình quá rộng lớn, nhưng nhiều người từng học đại học chuyên nghành này cũng chưa thể lấy đó làm phương tiện kiếm cơm được. Vậy mà Hắn thì ngược lại, từ việc nhỏ như các dịch vụ thông thường đến những hợp đồng lớn Hắn đã kiếm được không ít tiền. Một cuộc sống ổn định và hạnh phúc đã đến với Hắn.

"Tao có công nhóm lại lửa cho mày đấy nhé!". Tôi đùa “kể công” tưởng chi là để vui vậy mà Hắn cám ơn tôi, làm tôi một lần nữa ngỡ ngàng. Tôi làm gì được cho Hắn đâu, chẳng qua cũng chỉ là chuyện chơi chơi tình cờ vậy. Ngồi bên tôi còn vài người bạn (nhỏ tuổi hơn tôi và Hắn) trong những năm khó khăn trước kia đã chia sẻ với Hắn nhiều lắm, đáng lẽ những lời cảm ơn ấy phải dành cho họ.

Tôi xúc động không phải vì Hắn cảm ơn tôi mà vì mình có một thằng bạn tuyệt quá. Tôi tự hào về hắn, cuộc sồng dù thay đổi nhưng trong hắn tôi biết có những điều không bao giờ thay đổi.



CẢM NHẬN



Cuộc sống hôm nay cởi mở hơn nhưng cũng phúc tạp đa chiều hơn. Anh em chúng ta có hơn nghìn người thì cũng có nghìn lối nghĩ về nó, thế nào là chuẩn mực cho cuộc sống hôm nay chắc khó có câu trả lời…

Có một người bạn hỏi tôi: “Thằng A lên tướng, mày có tự hào không?”. Tôi đã trả lời là không, nhưng tôi mừng cho nó, thì người bạn kia cho tôi là cố chấp hẹp hòi… Thật buồn khi tôi không thể chiều theo ý nghĩ khác và càng không thể tranh luận để giải thoát cho mình cái "mũ" vừa được ban tặng. Nhân chuyện này tôi xin kể về một trong những người bạn Trỗi của tôi mà tôi thấy…

***

Hắn trên tôi một khóa, ngày ở trường Trỗi tôi biết, vì Hắn ngổ ngáo có tiếng. Cuối 1975 từ chiến trường ra ôn thi đại học, tôi lại gặp Hắn. Cùng là lính Trỗi nên tôi và Hắn thân nhau rất tự nhiên. Chúng tôi có nhiều điểm tương đồng của lính Trỗi nhưng cũng có nhiều khác biệt. Hắn vẫn như xưa, vẫn nghịch ngợm nổi tiếng trong đám học viên con em cán bộ. Tôi thì ngược lại, cái danh hiệu Đảng viên làm tôi thuần hơn, ít trèo tường bỏ học hơn.

Gần một năm trời ôn thi tại Lạng Sơn, chúng tôi sống như trong trại giam, chủ nhật một tiểu đội chỉ được 2 "vé" ra chơi thị xã. Mỗi lần như thế, hắn thương cái thằng Đảng viên trong tôi nên đều nhường vé cho tôi, còn hắn thì đi theo “lối nhỏ”. Chuyện ra phố khó khăn vậy mà chẳng ngày nào hắn và lũ em K9 vắng mặt ở cái thị xã nhỏ này. Chẳng mấy ai không biết lũ chúng tôi, từ các cô mậu dịch viên xinh đẹp trong cửa hàng giải khát đến bà bán chè chén vỉa hè..v.v. quan hệ của chúng tôi rộng lắm, ai cũng ngưỡng mộ đám lính quân hàm “sơ mít” con ông “cốp” nhất là các em gái Lạng Sơn.

Một lần tôi và hắn trèo tường ra thị xã chơi buổi tối, khi chuẩn bị về hắn rủ tôi đến nhà một người quen.

- Muộn rồi về thôi! Tôi giục hắn.

- Hôm nay tao có hẹn, muộn một chút! việc "chó" gì! Hắn động viên tôi. Mà Hắn vẫn thường xuyên đi về muộn như thế có mấy ai biết nên tôi cũng yên tâm.

Chúng tôi đi vào một căn nhà nhỏ trong con hẻm trên phố Kỳ Lừa. Từ khe cửa tôi thấy một cô bé tóc đuôi sam, má đỏ hồng đang học bài, khi chúng tôi vào cô bé mừng ra mặt, như đã chờ đợi từ lâu.

Xinh thật! Hắn quen từ bao giờ vậy? Hóa ra bấy lâu nay tôi cứ tưởng mình biết rõ về Hắn. Tôi biết Hắn quen nhiều cô gái trong thị xã này, có nhiều cô mê hắn như điếu đổ mỗi khi Hắn đàn hát, giọng Hắn khàn khàn rất quyến rũ . Riêng cô bé xinh đẹp này thì tôi không biết. Phải nói thật lúc bấy giờ nỗi lo bị kỷ luật tan biến hết. Tôi ngồi ngắm cô bé, cô bé nghe Hắn nói chuyện và sau đó Hắn giảng một bài toán vật lý lớp 9 cho cô bé...

Trên đường về tôi bảo: "mày giảng không hiệu quả đâu, tao thấy nó có nghe đâu mà mày cứ thao thao ...”

"Tao biết, chính vì thế tao mới rủ mày đi". Hắn trả lời tôi như vậy đấy! Tôi hơi bực và lại bị bất ngờ vì chẳng bao giờ nghĩ Hắn lại đàng hoàng thế.

"Nó thích, mày thích thì việc gì mà sợ, ngữ mày mà còn sợ mang tiếng “đểu” à". Hắn im lặng không cãi làm tôi ân hận. Suốt dọc đường về chúng tôi chẳng nói với nhau câu nào, thậm chí lúc vượt tường thành cổ (Trường VHQĐ nằm trong thành cổ) chúng tôi làm những đông tác công kênh nhau cũng chẳng thằng nào mở mồm... Đêm ấy khi hai đứa chui vô màn thì thầy Đ. bắt gặp nhưng hôm sau chẳng thấy thầy gọi lên, Hú vía!. (Đúng là thầy Trỗi có khác, lại cứu trò).

Mấy hôm sau tôi làm lành hỏi nhỏ “Không đi dạy nữa à?”. Hắn gật đầu xác nhận. Chẳng biết trong đầu hắn nghĩ gì? Còn tôi thì thấy trong con người ngỗ ngược ấy là tâm hồn trong trắng, thánh thiện và tử tế.

***

Lên Đại học KTQS tôi và hắn vẫn cùng một đại đội, các trò cũ lại tiếp tục và phát triển còn hơn cả ngày chúng tôi ở Lạng Sơn. Tuổi trẻ nhiều khi không biết điểm dừng cho đến khi nhìn lại… Cả nhóm chúng tôi bị kỷ luật nặng, hầu hết bị đưa đi rèn luyện một năm tại các đơn vị Hải quân. Riêng hắn do nhận hết tội về mình nên bị nặng nhất nhưng không ai nghĩ đến mức độ phải ở tù. Hôm xe quân pháp về, nhìn hắn bị còng tay tôi buồn lòng và bất lực…

Thời gian trôi đi, những chú lính nghịch ngợm sau một năm ra đảo trở về tiếp tục học tập (tất nhiên là bị tăng K), rồi cũng ra trường và về các đơn vị. Cho đến hôm nay có chú đã là Trung tướng lãnh đạo một tổng cục quan trong trong QĐ, có chú ra ngoài làm bí thư một quận lớn ở HN, có chú là đại biểu khối doanh nghiệp trong QH… Hầu hết họ đều trưởng thành và tiến bộ nhanh chóng. Còn hắn, học hành dở dang không bằng cấp với một tiền án không biết hắn phải xoay sở ra sao để sống. Thỉnh thoảng tôi có gặp một vài anh em, họ nói em có gặp anh K6 ở chỗ này, chỗ kia. “Anh ấy trông tiều tụy lắm...” mấy chú xót xa nói. Không xót xa làm sao được, mấy chú em thành đạt giàu có muốn giúp ông anh mà đành chịu. Họ biết K6 là người khái tính. Còn tôi cũng buồn vì ngần ấy năm trời mà chưa tìm gặp hắn một lần, trong lòng cứ nghĩ chắc nó giận mình lắm...

Rồi tôi lại gặp Hắn sau hơn 20 năm từ cái ngày hắn bị bắt. Chúng tôi ngồi chuyện trò nơi quán bia hơi vỉa hè. Người gầy hơn xưa nhưng tính tình vẫn vậy có điều là trầm hơn do tuổi tác cùng những năm tháng lang bạt kỳ hồ. Hắn ít khi nói về mình nhưng tôi biết hơn 20 năm ấy hắn đi rất nhiều nơi, từ những bản làng heo hút vùng sơn cước đến các chốn độ thị, rồi Lào, Căm Pu Chia làm đủ mọi nghề, quan hệ với đủ mọi loại người. Để kiếm sống hắn phải bươn chải với không biết bao nhiêu công việc, có thể đôi lúc có những việc không thiện. Hắn bảo với tôi: "Cho mãi đến bây giờ tao không thể quên được ánh mắt của mày nhìn tao khi bị tụi quân pháp nó còng tay”. Tôi thực sự cảm động vì hình như hắn nhận thấy sự chia sẻ của tôi với Hắn trong lúc ê chề nhất của cuộc đời...

Biết Hắn vừa lấy vợ, vợ Hắn là cô gái một tỉnh biên giới phía Bắc, trong một gia đình nền nếp. Cô ấy là công chức kha khá của tỉnh. Tôi mừng cho Hắn vì từ nay đã có bến đậu, nhưng cũng lo cho hắn về gia cảnh… Tôi biết với Hắn ở cái thị xã biên cương này, với bề dày lăn lộn của cuộc sống giang hồ Hắn không thiếu cách kiếm tiền nhưng liệu có hợp với cô vợ công chức kia không?

Chúng tôi vừa uống bia vừa nói đủ chuyện khi sang đề tài vi tính thấy Hắn cũng chăm chú, tôi đề nghị tặng Hắn hai quyển sách, Hắn ưng ngay. Tôi bỏ bàn bia chạy ngay về nhà, mang đến đưa Hắn. Đó là hai cuốn viết về Foxpro …

Sau buổi đó tôi và Hắn thường điện thoại cho nhau, biết Hắn ngày càng say vi tính tôi cũng mừng nhưng tôi không thể ngờ bắt đầu từ hai cuốn sách đó Hắn lại chuyển hướng cuộc đời.

Khi tôi lên thăm Hắn thì thực sự "choáng", mới chỉ một năm mà trên giá sách đầy kín sách vi tính. Quả là Hắn thông minh mới có thể vật lộn với mớ kiến thức phức tạp đó, mà toàn tiếng Anh mới khiếp. Nếu nói là hắn siêu thì chưa đúng vì thế giới vi tình quá rộng lớn, nhưng nhiều người từng học đại học chuyên nghành này cũng chưa thể lấy đó làm phương tiện kiếm cơm được. Vậy mà Hắn thì ngược lại, từ việc nhỏ như các dịch vụ thông thường đến những hợp đồng lớn Hắn đã kiếm được không ít tiền. Một cuộc sống ổn định và hạnh phúc đã đến với Hắn.

"Tao có công nhóm lại lửa cho mày đấy nhé!". Tôi đùa “kể công” tưởng chi là để vui vậy mà Hắn cám ơn tôi, làm tôi một lần nữa ngỡ ngàng. Tôi làm gì được cho Hắn đâu, chẳng qua cũng chỉ là chuyện chơi chơi tình cờ vậy. Ngồi bên tôi còn vài người bạn (nhỏ tuổi hơn tôi và Hắn) trong những năm khó khăn trước kia đã chia sẻ với Hắn nhiều lắm, đáng lẽ những lời cảm ơn ấy phải dành cho họ.

Tôi xúc động không phải vì Hắn cảm ơn tôi mà vì mình có một thằng bạn tuyệt quá. Tôi tự hào về hắn, cuộc sồng dù thay đổi nhưng trong hắn tôi biết có những điều không bao giờ thay đổi.

Thứ Ba, 15 tháng 7, 2008

Về quê - Đào Duy




Đào Duy

Nhãn mác chính thức của Vải thiều Thanh Hà. Logo này sẽ được gắn trên bao bì mỗi sản phẩm Vải thiều Thanh Hà.
Hẹn với người anh đúng mùa vải chín, sau bốn năm tôi lại cùng vợ con về thăm quê. Quê tôi vùng đất vải thiều Thanh Hà xứ Đông nổi tiếng. Suốt chặng đường từ sân bay qua quốc lộ 2, 3, 5 cho tới thành phố Hải Dương khu công nghiệp nhà xưởng chen nhau đẩy những cánh đồng lúa vàng hai bên đường về với quá khứ xa xăm. Thỉnh thoảng một vài bóng người nông dân cặm cụi bên những thửa ruộng còn sót lại nằm chen trong các khu công nghiệp như cánh chim chiều lủi thủi cô độc.

Qua thành phố Hải Dương, cầu Phú Lương tới đầu cầu Lai Vu xe rẽ phải bắt đầu vào đất Thanh Hà quê tôi. Từ đây về nhà còn hơn chục cây số bỏ lại sự ồn ào lộn xộn của nhà xưởng, phố thị quê tôi vẫn giữ được dáng hình xưa êm đềm thanh bình của một vùng đất màu mỡ được phù sa của sông Thái Bình, sông Văn Úc bồi đắp.

Hai bên đường cơ man nào là vải những tán cây trĩu nặng đỏ hồng như những đĩa xôi gấc khổng lồ nằm san sát bên nhau trải dài như vô tận. Mùa vải chín cũng là mùa lúa chín năm nay quê tôi bội thu vải và lúa. Thoáng trong không gian đâu đó tiếng chim Tu Hú buồn buồn trong ráng chiều báo hiệu một mùa vải đỏ đang vào mùa chín rộ. Tắt điều hòa mở kính xe tận hưởng mùi rơm rạ thơm nồng mùi ngòn ngọt vị mật của vải chín.

Vừa về tới đầu làng tôi đã nghe oang oang tiếng loa xã thôi thúc:

- A “nô”! A “nô”! Xin mời bà con đem vải ra sân vận động xã để thương “nái” thu mua, vải “noại” một to đẹp chín đều giá từ 2000 đồng đến 2.500 đồng 1 kg … số “nượng” mua có hạn kính mời bà con a “nô”!, a “nô”! … Tôi và vợ tủm tỉm cười dù đi đâu chân trời góc bể tiếng quê mình vẫn không lẫn được đi đâu.

Trên con đường liên thôn trải bê tông phẳng lỳ xe máy, xe tải nhẹ, người gánh tấp nập đua chen chở vải hướng ra sân vận động những khuôn mặt lã chã mồ hôi thoáng nét ưu tư.

Bữa cơm chiều có gà quê lá chanh, cá hấp thìa là hành và măng miến, cơm chuẩn bị dọn anh tôi mới nhấc máy điện thoại chỉ dăm phút sau đã thấy một bà sồn sồn có bô ngực to như cặp dừa bị Bến Tre phóng xe máy chạy ào vào sân chở tới nào bia, nước ngọt, đá lạnh phong cách phục vụ chả khác gì tỉnh thành.

Bữa cơm họp mặt có bà thím họ, ông chú, hai ba người bạn hàng xóm và đứa em họ chờ mãi mới thấy tới. Vừa bước vào nhà sau khi chào hỏi và bỏ ra bàn làm quà cho anh chị ở xa về một bó vải chín đỏ to tướng và mấy quả đu đủ chín cây “vật vã” và chai rượu quê vừa cất đứa em với giọng nhà quê “thuần chủng” ngọng “níu” ngọng “nô” “đặc sản” của xứ Thanh Hà quê tôi phân bua:

Em bận bẻ nốt mẻ vải sáng mai đi Phòng (Hải Phòng) sớm (Hải Phòng cách quê tôi gần hai chục km) bán chuyến cuối, vải bắt đầu chín rộ lời lãi chả bao nhiêu, mấy ngày đầu vải sớm giá cao mỗi chuyến em cũng kiếm được đôi ba trăm nhưng nay chỉ còn lời vài chục bạc chả bõ tiền xăng. Mà nghĩ cũng lạ, các bác tính bao nhiêu sản phẩm làng ta nhỏ thì quả ớt, quả ổi giá trị hơn một tí thì quả đu đủ, củ sắn giây, quả chanh quả hồng xiêm, quả gấc … mùa nào thức ấy có bao nhiêu sản vật bà con trong làng trong xã đều đổ tuốt tuồn tuột xuống Hải Phòng cho giai cấp công nhân thành phố cảng họ chịu trận thế mà thượng vàng hạ cám họ tiêu thụ hết các bác bảo giai cấp công nhân đất cảng họ có tài không? tài thật đi ấy chứ! Chả biết họ làm cái quái gì? Ăn uống làm sao? Hay đem đi đâu? Mà tiêu thụ lắm thế?

Những hoa quả quê tôi dân làng chỉ chọn những trái ngon nhất đầu vụ hái về kính cẩn bầy lên bàn thờ thắp nén nhang tưởng nhớ ông bà sau đó hưởng lộc còn lại chủ yếu đem bán “quy ra thóc” bà con nói “ Ngoài hạt gạo củ khoai chả anh hoa quả nào ăn lấy no, lấy chắc được”.

Bên mâm cơm tất cả chuyện trò đều xoay quanh chủ đề vải mọi người như quên phắt có hai vị khách “quan trọng” từ thành phố mang tên Bác về thăm quê. Chắc mọi người nghĩ: Ôi dào! thành phố HCM là cái đinh gỉ gì, hàng ngày đầy rẫy trên tivi từ châu Âu, châu Mỹ, từ châu Á tới châu Đại dương … như vụ giải cứu con tin tài tình tận Colombia vừa rồi, tới vụ mất toi đường công danh của tay nghị sỹ cựu thống đốc New York mãi bên Huê kỳ chỉ vì ả người tình có thân hình và bộ ngực bốc lửa … Xoẹt! mở tivi, ba mươi giây có hết, vậy nên vợ chồng tôi biết phận ngồi im lắng nghe.

Ông chú họ có tật vừa “nhắm” vừa“bắn” thuốc lào sau khi rít một hơi dài hình như coi mọi người trong mâm là hạng con cháu ông chú phun khói mù mịt xuống mâm tới độ tôi tính gắp miếng thịt gà lại lộn mẹ nó sang đĩa cá hấp suýt nữa thì hóc, mà hóc là bỏ mẹ, bệnh viện thì xa rồi mang tiếng với làng, với xóm vì tội tham ăn, “bia miệng tiếng đời” lần sau làm sao còn dám vác mặt về quê, còn thằng con tôi thì ho sặc sụa hai mắt cay sè đỏ như mắt cá chầy. Như biết lỗi mấy “phát” sau ông chú quay mặt ra ngoài phả khói làm hai con chó nằm chờ xương bên cạnh cũng cong đuôi chuồn mất. Ông chú cất giọng: “Tìm được người bẻ vải mùa này muốn đỏ con mắt mà không kiếm đâu ra, có nhà còn treo bảng ở đầu ngõ công bẻ vải được chia một nửa sản phẩm mà cũng chả có chó nào chịu làm

Đứa em họ tôi tiếp lời: “Vải năm nay rẻ quá em tính không bán vải tươi nữa đem sấy khô chờ giá chứ kiểu này có mà sạt nghiệp, chưa tính công chăm sóc tiền phân bón tiền thuốc trừ sâu mỗi vụ một kg vải mất toi hai đồng rưỡi mà giá thu mua kiểu này thì lỗ nặng

Vườn nhà anh tôi trước đây chủ yếu là trồng vải nhưng anh tôi đã biết được “xu thế” nên đã chặt hết chỉ để lại mấy cây quanh nhà ăn chơi và làm quà cho họ hàng con cháu mùa vải về thăm quê còn lại chuyển sang trồng nhãn vì giá nhãn cao hơn ngoài ra nó còn là nguyên liệu của đông dược nên giá ổn định, năm ngoái nhãn mới bói chỉ để ít quả sợ “chột” cây mà “bán lúa non” anh tôi cũng kiếm được ngoài chục triệu.

Trước hôm đi anh tôi hái vải bắt đem theo làm quà, tôi thấy anh dùng cưa, từng cành vải từ từ ngả xuống, đứng dưới đất vừa bẻ anh tôi vừa nói: “Còn mấy cây năm nay sẽ phá nốt anh chuyển sang trồng nhãn hết”.

Quê tôi là vùng vải Thiều nổi tiếng, ở xã bên cạnh còn giữ được cây vải tổ nghe nói có độ tuổi gần ba trăm năm hiện nay còn một cụ già đã ngoài tám mươi con cháu thế hệ thứ tư thứ năm gì đó của ông cụ “tổ” người có công đem giống vải quý về cho quê hương đang chăm sóc thờ phụng.

Vải quê tôi khi chín vỏ căng mỏng thơm ngọt nhiều nước hạt nhỏ, bóc trái vải ra cơm trong suốt dầy và khô đặt trên lòng bàn tay ráo hoảnh, chỉ có người sành ăn mới biết. Hiện nay vải thiều trồng nhiều lan ra khắp các tỉnh, huyện lân cận nhất là vùng đồi trung du mạn Lục Ngạn, Chí Linh, Bắc Giang vải nhiều vô kể tuy nhiên chất lượng thì kém hơn không bằng vải quê tôi. Nhờ có đổi mới, nhờ có vải mà những năm đầu dân trồng vải xây được nhà, sắm được xe hơi có tiền lo cho con cái học hành và cũng nhờ có đổi mới trong lưu thông phân phối mà khắp nơi trong cả nước thậm chí người dân tít tận đất mũi Cà Mau cũng được thưởng thức loại quả ngon ngọt quê tôi. Nhiều người đánh giá vải thiều là một trong những loại quả thuộc loại ngon nhất xứ ta.

Đặc điểm của trái vải là bảo quản khó và khi vào mùa trái vải chín rộ rất nhanh, tìm ra được chính sách vĩ mô tiêu thụ, xuất khẩu, chế biến trái vải quý này là trách nhiệm của nhà nước đối với người nông dân. Nhà nước phải có những chính sách và quy hoạch cụ thể nếu không cây vải sẽ theo bước cây cao su, cây cafe, cây Điều … bỏ mặc người nông dân loay hoay chặt, trồng, trồng rồi lại chặt…

Chúng tôi những người con của đất vải đi xa trở về, khách du lịch vãng lai tới khi mùa vải chín thấy quê hương đẹp làm sao, thấy yêu, thấy tự hào thấy giá trị của trái vải còn những người nông dân quê tôi cứ mỗi mùa vải rộ lòng lại chợt buồn. Chả biết năm nay giá vải có khá hơn không? Biết trồng cây gì đây khi đồng đất quê tôi chỉ hợp với loại cây đặc sản này?

Ông nhà nước ơi! Ông thương mại, ông tỉnh, ông huyện ơi! Các ông ở xó xỉnh nào chúng tôi bầu ra các ông để các ông làm gì? Các ông chạy đi đâu hết rồi? Các ông còn nhiều việc quá chăng? Hay các ông mải xây Resor, xây khu nghỉ mát phục vụ cho các ông tây bà đầm để gom nhiều ngoại tệ nhằm tăng trưởng GDP cho nước nhà !!! Hay các ông đang lo gì gì???

Buồn cho một mùa vải chín!

Thanh Hà mùa vải 2008





Đào Duy

Nhãn mác chính thức của Vải thiều Thanh Hà. Logo này sẽ được gắn trên bao bì mỗi sản phẩm Vải thiều Thanh Hà.
Hẹn với người anh đúng mùa vải chín, sau bốn năm tôi lại cùng vợ con về thăm quê. Quê tôi vùng đất vải thiều Thanh Hà xứ Đông nổi tiếng. Suốt chặng đường từ sân bay qua quốc lộ 2, 3, 5 cho tới thành phố Hải Dương khu công nghiệp nhà xưởng chen nhau đẩy những cánh đồng lúa vàng hai bên đường về với quá khứ xa xăm. Thỉnh thoảng một vài bóng người nông dân cặm cụi bên những thửa ruộng còn sót lại nằm chen trong các khu công nghiệp như cánh chim chiều lủi thủi cô độc.

Qua thành phố Hải Dương, cầu Phú Lương tới đầu cầu Lai Vu xe rẽ phải bắt đầu vào đất Thanh Hà quê tôi. Từ đây về nhà còn hơn chục cây số bỏ lại sự ồn ào lộn xộn của nhà xưởng, phố thị quê tôi vẫn giữ được dáng hình xưa êm đềm thanh bình của một vùng đất màu mỡ được phù sa của sông Thái Bình, sông Văn Úc bồi đắp.

Hai bên đường cơ man nào là vải những tán cây trĩu nặng đỏ hồng như những đĩa xôi gấc khổng lồ nằm san sát bên nhau trải dài như vô tận. Mùa vải chín cũng là mùa lúa chín năm nay quê tôi bội thu vải và lúa. Thoáng trong không gian đâu đó tiếng chim Tu Hú buồn buồn trong ráng chiều báo hiệu một mùa vải đỏ đang vào mùa chín rộ. Tắt điều hòa mở kính xe tận hưởng mùi rơm rạ thơm nồng mùi ngòn ngọt vị mật của vải chín.

Vừa về tới đầu làng tôi đã nghe oang oang tiếng loa xã thôi thúc:

- A “nô”! A “nô”! Xin mời bà con đem vải ra sân vận động xã để thương “nái” thu mua, vải “noại” một to đẹp chín đều giá từ 2000 đồng đến 2.500 đồng 1 kg … số “nượng” mua có hạn kính mời bà con a “nô”!, a “nô”! … Tôi và vợ tủm tỉm cười dù đi đâu chân trời góc bể tiếng quê mình vẫn không lẫn được đi đâu.

Trên con đường liên thôn trải bê tông phẳng lỳ xe máy, xe tải nhẹ, người gánh tấp nập đua chen chở vải hướng ra sân vận động những khuôn mặt lã chã mồ hôi thoáng nét ưu tư.

Bữa cơm chiều có gà quê lá chanh, cá hấp thìa là hành và măng miến, cơm chuẩn bị dọn anh tôi mới nhấc máy điện thoại chỉ dăm phút sau đã thấy một bà sồn sồn có bô ngực to như cặp dừa bị Bến Tre phóng xe máy chạy ào vào sân chở tới nào bia, nước ngọt, đá lạnh phong cách phục vụ chả khác gì tỉnh thành.

Bữa cơm họp mặt có bà thím họ, ông chú, hai ba người bạn hàng xóm và đứa em họ chờ mãi mới thấy tới. Vừa bước vào nhà sau khi chào hỏi và bỏ ra bàn làm quà cho anh chị ở xa về một bó vải chín đỏ to tướng và mấy quả đu đủ chín cây “vật vã” và chai rượu quê vừa cất đứa em với giọng nhà quê “thuần chủng” ngọng “níu” ngọng “nô” “đặc sản” của xứ Thanh Hà quê tôi phân bua:

Em bận bẻ nốt mẻ vải sáng mai đi Phòng (Hải Phòng) sớm (Hải Phòng cách quê tôi gần hai chục km) bán chuyến cuối, vải bắt đầu chín rộ lời lãi chả bao nhiêu, mấy ngày đầu vải sớm giá cao mỗi chuyến em cũng kiếm được đôi ba trăm nhưng nay chỉ còn lời vài chục bạc chả bõ tiền xăng. Mà nghĩ cũng lạ, các bác tính bao nhiêu sản phẩm làng ta nhỏ thì quả ớt, quả ổi giá trị hơn một tí thì quả đu đủ, củ sắn giây, quả chanh quả hồng xiêm, quả gấc … mùa nào thức ấy có bao nhiêu sản vật bà con trong làng trong xã đều đổ tuốt tuồn tuột xuống Hải Phòng cho giai cấp công nhân thành phố cảng họ chịu trận thế mà thượng vàng hạ cám họ tiêu thụ hết các bác bảo giai cấp công nhân đất cảng họ có tài không? tài thật đi ấy chứ! Chả biết họ làm cái quái gì? Ăn uống làm sao? Hay đem đi đâu? Mà tiêu thụ lắm thế?

Những hoa quả quê tôi dân làng chỉ chọn những trái ngon nhất đầu vụ hái về kính cẩn bầy lên bàn thờ thắp nén nhang tưởng nhớ ông bà sau đó hưởng lộc còn lại chủ yếu đem bán “quy ra thóc” bà con nói “ Ngoài hạt gạo củ khoai chả anh hoa quả nào ăn lấy no, lấy chắc được”.

Bên mâm cơm tất cả chuyện trò đều xoay quanh chủ đề vải mọi người như quên phắt có hai vị khách “quan trọng” từ thành phố mang tên Bác về thăm quê. Chắc mọi người nghĩ: Ôi dào! thành phố HCM là cái đinh gỉ gì, hàng ngày đầy rẫy trên tivi từ châu Âu, châu Mỹ, từ châu Á tới châu Đại dương … như vụ giải cứu con tin tài tình tận Colombia vừa rồi, tới vụ mất toi đường công danh của tay nghị sỹ cựu thống đốc New York mãi bên Huê kỳ chỉ vì ả người tình có thân hình và bộ ngực bốc lửa … Xoẹt! mở tivi, ba mươi giây có hết, vậy nên vợ chồng tôi biết phận ngồi im lắng nghe.

Ông chú họ có tật vừa “nhắm” vừa“bắn” thuốc lào sau khi rít một hơi dài hình như coi mọi người trong mâm là hạng con cháu ông chú phun khói mù mịt xuống mâm tới độ tôi tính gắp miếng thịt gà lại lộn mẹ nó sang đĩa cá hấp suýt nữa thì hóc, mà hóc là bỏ mẹ, bệnh viện thì xa rồi mang tiếng với làng, với xóm vì tội tham ăn, “bia miệng tiếng đời” lần sau làm sao còn dám vác mặt về quê, còn thằng con tôi thì ho sặc sụa hai mắt cay sè đỏ như mắt cá chầy. Như biết lỗi mấy “phát” sau ông chú quay mặt ra ngoài phả khói làm hai con chó nằm chờ xương bên cạnh cũng cong đuôi chuồn mất. Ông chú cất giọng: “Tìm được người bẻ vải mùa này muốn đỏ con mắt mà không kiếm đâu ra, có nhà còn treo bảng ở đầu ngõ công bẻ vải được chia một nửa sản phẩm mà cũng chả có chó nào chịu làm

Đứa em họ tôi tiếp lời: “Vải năm nay rẻ quá em tính không bán vải tươi nữa đem sấy khô chờ giá chứ kiểu này có mà sạt nghiệp, chưa tính công chăm sóc tiền phân bón tiền thuốc trừ sâu mỗi vụ một kg vải mất toi hai đồng rưỡi mà giá thu mua kiểu này thì lỗ nặng

Vườn nhà anh tôi trước đây chủ yếu là trồng vải nhưng anh tôi đã biết được “xu thế” nên đã chặt hết chỉ để lại mấy cây quanh nhà ăn chơi và làm quà cho họ hàng con cháu mùa vải về thăm quê còn lại chuyển sang trồng nhãn vì giá nhãn cao hơn ngoài ra nó còn là nguyên liệu của đông dược nên giá ổn định, năm ngoái nhãn mới bói chỉ để ít quả sợ “chột” cây mà “bán lúa non” anh tôi cũng kiếm được ngoài chục triệu.

Trước hôm đi anh tôi hái vải bắt đem theo làm quà, tôi thấy anh dùng cưa, từng cành vải từ từ ngả xuống, đứng dưới đất vừa bẻ anh tôi vừa nói: “Còn mấy cây năm nay sẽ phá nốt anh chuyển sang trồng nhãn hết”.

Quê tôi là vùng vải Thiều nổi tiếng, ở xã bên cạnh còn giữ được cây vải tổ nghe nói có độ tuổi gần ba trăm năm hiện nay còn một cụ già đã ngoài tám mươi con cháu thế hệ thứ tư thứ năm gì đó của ông cụ “tổ” người có công đem giống vải quý về cho quê hương đang chăm sóc thờ phụng.

Vải quê tôi khi chín vỏ căng mỏng thơm ngọt nhiều nước hạt nhỏ, bóc trái vải ra cơm trong suốt dầy và khô đặt trên lòng bàn tay ráo hoảnh, chỉ có người sành ăn mới biết. Hiện nay vải thiều trồng nhiều lan ra khắp các tỉnh, huyện lân cận nhất là vùng đồi trung du mạn Lục Ngạn, Chí Linh, Bắc Giang vải nhiều vô kể tuy nhiên chất lượng thì kém hơn không bằng vải quê tôi. Nhờ có đổi mới, nhờ có vải mà những năm đầu dân trồng vải xây được nhà, sắm được xe hơi có tiền lo cho con cái học hành và cũng nhờ có đổi mới trong lưu thông phân phối mà khắp nơi trong cả nước thậm chí người dân tít tận đất mũi Cà Mau cũng được thưởng thức loại quả ngon ngọt quê tôi. Nhiều người đánh giá vải thiều là một trong những loại quả thuộc loại ngon nhất xứ ta.

Đặc điểm của trái vải là bảo quản khó và khi vào mùa trái vải chín rộ rất nhanh, tìm ra được chính sách vĩ mô tiêu thụ, xuất khẩu, chế biến trái vải quý này là trách nhiệm của nhà nước đối với người nông dân. Nhà nước phải có những chính sách và quy hoạch cụ thể nếu không cây vải sẽ theo bước cây cao su, cây cafe, cây Điều … bỏ mặc người nông dân loay hoay chặt, trồng, trồng rồi lại chặt…

Chúng tôi những người con của đất vải đi xa trở về, khách du lịch vãng lai tới khi mùa vải chín thấy quê hương đẹp làm sao, thấy yêu, thấy tự hào thấy giá trị của trái vải còn những người nông dân quê tôi cứ mỗi mùa vải rộ lòng lại chợt buồn. Chả biết năm nay giá vải có khá hơn không? Biết trồng cây gì đây khi đồng đất quê tôi chỉ hợp với loại cây đặc sản này?

Ông nhà nước ơi! Ông thương mại, ông tỉnh, ông huyện ơi! Các ông ở xó xỉnh nào chúng tôi bầu ra các ông để các ông làm gì? Các ông chạy đi đâu hết rồi? Các ông còn nhiều việc quá chăng? Hay các ông mải xây Resor, xây khu nghỉ mát phục vụ cho các ông tây bà đầm để gom nhiều ngoại tệ nhằm tăng trưởng GDP cho nước nhà !!! Hay các ông đang lo gì gì???

Buồn cho một mùa vải chín!

Thanh Hà mùa vải 2008


Thứ Hai, 14 tháng 7, 2008

Lực lượng Chiến dịch Hồ Chí Minh - HaMeoK6



Chiến dịch Hồ Chí Minh

Lực lượng Chiến dịch Hồ Chí Minh


 
Tôi đã cố gắng, nhưng vẫn không tìm đủ số liệu, vậy đăng lên bài này rất mong AE nào biết bổ sung và điều chỉnh thêm giùm. Rất cám ơn.

Các Tư lệnh (tới cấp Sư đoàn)

Quân ta:

Tư lệnh chiến dịch: Đại tướng Văn Tiến Dũng - TTMT, Chính ủy: Phạm Hùng - BT TW Cục

  • Quân đoàn 1 (Binh đoàn Quyết Thắng): TL Thiếu tướng Nguyễn Hòa, CW Thiếu tướng Hoàng Minh Thì
    • Sư đoàn 308 (Sư đoàn Quân Tiên phong): TL Mạc Đình Vịnh, CW Hoàng Kim (bảo vệ HN, không tham gia CD)
    • Sư đoàn 312 (Sư đoàn Chiến Thắng): TL Đại tá Nguyễn Chuông, CW Nguyễn Xuyên
    • Sư đoàn 320b: TL Lưu Bá Xảo
  • Quân đoàn 2 (Binh đoàn Hương Giang): TL Thiếu tướng Nguyễn Hữu An, CW Thiếu tướng Lê Linh
    • Sư đoàn 304: TL Nguyễn Ân, CW Bình
    • Sư đoàn 324: TL Duy Sơn, CW Nguyễn Trọng Dần
    • Sư đoàn 325
    • Sư đoàn phòng không 673
  • Quân đoàn 3 (Binh đoàn Tây Nguyên - thành lập sau chiến dịch Tây nguyên): TL Thiếu tướng Vũ Lăng, CW Đại tá Đặng Vũ Hiệp
    • Sư đoàn 10: TL Đại tá Đoàn Hồng Sơn, CW Thượng tá Lã Ngọc Châu
    • Sư đoàn 320a (Sư đoàn Đồng Bằng): TL Đại tá Bùi Đình Hòe, CW Thượng tá Bùi Huy Bổng
    • Sư đoàn 316: TL Đại tá Nguyễn Hải Bằng, CW Đại tá Hà Quốc Toản
  • Quân đoàn 4 (Binh đoàn Cửu Long): TL Thiếu tướng Hoàng Cầm, CW Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện
    • Sư đoàn 7: TL Đại tá Lê Nam Phong, CW Nguyễn văn Thái
    • Sư đoàn 341 (Sư đoàn 1) (Sư đoàn Sông Lam): TL Trần văn Trân
    • Sư đoàn 6 QK7: TL Đặng Ngọc Sĩ (PTL QK 7)
  • Đoàn 232 (thành lập ngay trước Chiến dịch HCM): TL Trung tướng Lê Đức Anh, CW Thiếu tướng Lê văn Tưởng
    • Sư đoàn 5: TL Vũ văn Thược (Út Liêm), CW Nguyễn Xuân Ôn
    • Sư đoàn 9: TL Đại tá Võ văn Dần
    • Sư đoàn 8 QK8: TL Thiếu tướng Võ văn Thạnh (3 Thắng), CW 9 Phẩm (thường vụ khu 8)
  • Đoàn 559 (Binh đoàn Trường Sơn): TL Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên, CW Thiếu tướng Đặng Tính
    • Sư đoàn công binh 470 CW Hoàng văn Thám
    • Sư đoàn công binh 472
    • Sư đoàn công binh 473
    • Sư đoàn công binh 565
    • Sư đoàn ô tô vận tải 471: TL Phạm Thái, CW Nguyễn văn Lạng
    • Sư đoàn ô tô vận tải 571: TL Hoàng Trá, CW Phan Hữu Đại
    • Sư đoàn 968 (trừ bị của B3): TL Hoàng Biền Sơn, CW Trần Trác
    • Sư đoàn phòng không 377: TL Nguyễn Hữu Ích, CW Lê Đình Truy
  • Các sư đoàn độc lập:
    • Sư đoàn đặc công 2 (chỉ cho Chiến dịch HCM): TL Thiếu tướng Trần văn Danh
    • Sư đoàn 711 QK5
    • Sư đoàn 4 QK9: TL Nguyễn Đình Chức
    • Sư đoàn phòng không 367: CW Phạm Liêm
    • Sư đoàn 3 QK5 (Sao vàng): TL Đại tá Huỳnh Đức Anh, CW Thượng tá Lâm Bá Khuê

Quân Sài Gòn:

Tổng Tư lệnh: Trung tướng Nguyễn văn Thiệu / Đại tướng Dương văn Minh (lớn) - Tổng thống

  • Quân đoàn 1: TL Trung tướng Ngô Quang Trưởng
    • Sư đoàn 1: TL Đại Tá Nguyễn Văn Điềm
    • Sư đoàn 2: TL Chuẩn tướng Nguyễn văn Nhựt
    • Sư đoàn 3 (Sư đoàn Trừng giới): TL Chuẩn tướng Vũ văn Giai
    • Sư đoàn KQ 1: TL chuẩn tướng Nguyễn Đức Khánh
  • Quân đoàn 2: TL Thiếu tướng Phạm văn Phú
    • Sư đoàn 23: TL Trung tướng Vĩnh Lộc
    • Sư đoàn 22 Bảo an: TL Thiếu tướng Phan Đình Niệm
    • Sư đoàn KQ 6: TL Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang
    • Sư đoàn KQ 2: TL Chuẩn tướng Nguyễn văn Lượng
  • Quân đoàn 3: TL Trung tướng Nguyễn văn Toàn
    • Sư đoàn 5: TL Chuẩn tướng Lê văn Vỹ
    • Sư đoàn 25: TL Chuẩn tướng Lý Bá Tòng
    • Sư đoàn 18: TL Thiếu Tướng Lê Minh Đảo
    • Sư đoàn KQ 3: TL Chuẩn tướng Huỳnh Bá Tính
    • Sư đoàn KQ 5: TL Chuẩn tướng Phan Phụng Tiên
  • Quân đoàn 4: TL Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam
    • Sư đoàn 21: TL chuẩn tướng Mạch văn Trường
    • Sư đoàn 9 (Sư Đoàn Mũi Tên Thép): TL Chuẩn Tướng Huỳnh Văn Lạc
    • Sư đoàn 7: TL Chuẩn tướng Trần văn Hai
    • Sư đoàn KQ 4: TL Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Tần
  • Biệt khu Thủ đô: TL Trung tướng Nguyễn văn Minh (nhỏ) / Thiếu tướng Lâm văn Phát (CP Dương văn Minh)
  • Tổng dự bị:
    • Sư đoàn Dù: TL Chuẩn tướng Lê Quang Lưỡng
    • Sư đoàn TQLC: TL Thiếu tướng Bùi Thế Lân

Đăng lại bài viết của Hà Mèo (đã đăng tại „Blog Út Trỗi”: Chủ nhật, ngày 13 tháng bảy năm 2008)


Chiến dịch Hồ Chí Minh

Lực lượng Chiến dịch Hồ Chí Minh


 
Tôi đã cố gắng, nhưng vẫn không tìm đủ số liệu, vậy đăng lên bài này rất mong AE nào biết bổ sung và điều chỉnh thêm giùm. Rất cám ơn.

Các Tư lệnh (tới cấp Sư đoàn)

Quân ta:

Tư lệnh chiến dịch: Đại tướng Văn Tiến Dũng - TTMT, Chính ủy: Phạm Hùng - BT TW Cục

  • Quân đoàn 1 (Binh đoàn Quyết Thắng): TL Thiếu tướng Nguyễn Hòa, CW Thiếu tướng Hoàng Minh Thì
    • Sư đoàn 308 (Sư đoàn Quân Tiên phong): TL Mạc Đình Vịnh, CW Hoàng Kim (bảo vệ HN, không tham gia CD)
    • Sư đoàn 312 (Sư đoàn Chiến Thắng): TL Đại tá Nguyễn Chuông, CW Nguyễn Xuyên
    • Sư đoàn 320b: TL Lưu Bá Xảo
  • Quân đoàn 2 (Binh đoàn Hương Giang): TL Thiếu tướng Nguyễn Hữu An, CW Thiếu tướng Lê Linh
    • Sư đoàn 304: TL Nguyễn Ân, CW Bình
    • Sư đoàn 324: TL Duy Sơn, CW Nguyễn Trọng Dần
    • Sư đoàn 325
    • Sư đoàn phòng không 673
  • Quân đoàn 3 (Binh đoàn Tây Nguyên - thành lập sau chiến dịch Tây nguyên): TL Thiếu tướng Vũ Lăng, CW Đại tá Đặng Vũ Hiệp
    • Sư đoàn 10: TL Đại tá Đoàn Hồng Sơn, CW Thượng tá Lã Ngọc Châu
    • Sư đoàn 320a (Sư đoàn Đồng Bằng): TL Đại tá Bùi Đình Hòe, CW Thượng tá Bùi Huy Bổng
    • Sư đoàn 316: TL Đại tá Nguyễn Hải Bằng, CW Đại tá Hà Quốc Toản
  • Quân đoàn 4 (Binh đoàn Cửu Long): TL Thiếu tướng Hoàng Cầm, CW Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện
    • Sư đoàn 7: TL Đại tá Lê Nam Phong, CW Nguyễn văn Thái
    • Sư đoàn 341 (Sư đoàn 1) (Sư đoàn Sông Lam): TL Trần văn Trân
    • Sư đoàn 6 QK7: TL Đặng Ngọc Sĩ (PTL QK 7)
  • Đoàn 232 (thành lập ngay trước Chiến dịch HCM): TL Trung tướng Lê Đức Anh, CW Thiếu tướng Lê văn Tưởng
    • Sư đoàn 5: TL Vũ văn Thược (Út Liêm), CW Nguyễn Xuân Ôn
    • Sư đoàn 9: TL Đại tá Võ văn Dần
    • Sư đoàn 8 QK8: TL Thiếu tướng Võ văn Thạnh (3 Thắng), CW 9 Phẩm (thường vụ khu 8)
  • Đoàn 559 (Binh đoàn Trường Sơn): TL Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên, CW Thiếu tướng Đặng Tính
    • Sư đoàn công binh 470 CW Hoàng văn Thám
    • Sư đoàn công binh 472
    • Sư đoàn công binh 473
    • Sư đoàn công binh 565
    • Sư đoàn ô tô vận tải 471: TL Phạm Thái, CW Nguyễn văn Lạng
    • Sư đoàn ô tô vận tải 571: TL Hoàng Trá, CW Phan Hữu Đại
    • Sư đoàn 968 (trừ bị của B3): TL Hoàng Biền Sơn, CW Trần Trác
    • Sư đoàn phòng không 377: TL Nguyễn Hữu Ích, CW Lê Đình Truy
  • Các sư đoàn độc lập:
    • Sư đoàn đặc công 2 (chỉ cho Chiến dịch HCM): TL Thiếu tướng Trần văn Danh
    • Sư đoàn 711 QK5
    • Sư đoàn 4 QK9: TL Nguyễn Đình Chức
    • Sư đoàn phòng không 367: CW Phạm Liêm
    • Sư đoàn 3 QK5 (Sao vàng): TL Đại tá Huỳnh Đức Anh, CW Thượng tá Lâm Bá Khuê

Quân Sài Gòn:

Tổng Tư lệnh: Trung tướng Nguyễn văn Thiệu / Đại tướng Dương văn Minh (lớn) - Tổng thống

  • Quân đoàn 1: TL Trung tướng Ngô Quang Trưởng
    • Sư đoàn 1: TL Đại Tá Nguyễn Văn Điềm
    • Sư đoàn 2: TL Chuẩn tướng Nguyễn văn Nhựt
    • Sư đoàn 3 (Sư đoàn Trừng giới): TL Chuẩn tướng Vũ văn Giai
    • Sư đoàn KQ 1: TL chuẩn tướng Nguyễn Đức Khánh
  • Quân đoàn 2: TL Thiếu tướng Phạm văn Phú
    • Sư đoàn 23: TL Trung tướng Vĩnh Lộc
    • Sư đoàn 22 Bảo an: TL Thiếu tướng Phan Đình Niệm
    • Sư đoàn KQ 6: TL Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang
    • Sư đoàn KQ 2: TL Chuẩn tướng Nguyễn văn Lượng
  • Quân đoàn 3: TL Trung tướng Nguyễn văn Toàn
    • Sư đoàn 5: TL Chuẩn tướng Lê văn Vỹ
    • Sư đoàn 25: TL Chuẩn tướng Lý Bá Tòng
    • Sư đoàn 18: TL Thiếu Tướng Lê Minh Đảo
    • Sư đoàn KQ 3: TL Chuẩn tướng Huỳnh Bá Tính
    • Sư đoàn KQ 5: TL Chuẩn tướng Phan Phụng Tiên
  • Quân đoàn 4: TL Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam
    • Sư đoàn 21: TL chuẩn tướng Mạch văn Trường
    • Sư đoàn 9 (Sư Đoàn Mũi Tên Thép): TL Chuẩn Tướng Huỳnh Văn Lạc
    • Sư đoàn 7: TL Chuẩn tướng Trần văn Hai
    • Sư đoàn KQ 4: TL Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Tần
  • Biệt khu Thủ đô: TL Trung tướng Nguyễn văn Minh (nhỏ) / Thiếu tướng Lâm văn Phát (CP Dương văn Minh)
  • Tổng dự bị:
    • Sư đoàn Dù: TL Chuẩn tướng Lê Quang Lưỡng
    • Sư đoàn TQLC: TL Thiếu tướng Bùi Thế Lân

Đăng lại bài viết của Hà Mèo (đã đăng tại „Blog Út Trỗi”: Chủ nhật, ngày 13 tháng bảy năm 2008)

Thứ Bảy, 12 tháng 7, 2008

Tranh Phạm Lực

Rating:★★★★★
Category:Other
Tranh Phạm Lực Blog K6

Xem tranh:
  1. Website Pham Luc - Trang WEB của thầy
  2. CÂU LẠC BỘ NHỮNG NGƯỜI SƯU TẦM TRANH PHẠM LỤC
  3. Tranh thuộc Công ty Đài Tuấn
  4. Tranh Phạm Lực - Photo: Dương Đức Hải (Triển lãm tranh của thầy Phạm Lực từ 15/5 đến 15/6/07 tại Bảo tàng Mỹ thuật TPHCM.) – Blog K8nvt
  5. Tranh Phạm Lực - Blog K6.


Xem bài:
  1. Triển lãm tranh "Thời để nhớ" của thầy Lực - 20/05/2010, Blog K6.
  2. Triển lãm nhân dịp kỷ niệm 50 năm cầm bút vẽ của thầy Phạm Lực - 12/05/2009, Blog K6.
  3. Tranh thầy Lực - (hameok6), 28/11/2008.
  4. “Cuộc sống muôn màu” - triển lãm tranh PHẠM LỰC lần 2 - 28/11/2008, Blog K6.
  5. HỌA SĨ PHẠM LỰC - THẦY CỦA CHÚNG TA - (hameok6), 28/12/2007.
  6. Vẽ tranh chung cùng thầy Phạm Lực tại TP HCM - Blog K6, 22/6/2007.
  7. Thầy dạy vẽ - Nguyễn Hoàng Anh K6, SRTKL2: 284-285.


Xem bài sưu tầm trên mạng:
  1. Những ô cửa thời gian - Bảo Châu, 29/5/2009 – Báo An ninh Thủ đô Online
  2. Triển lãm tranh Phạm Lực tại Úc - TR.N. (Melbourne), 16/5/2009 – Tuổi Trẻ Online
  3. Hoạ sỹ Phạm Lực mối tình không bao giờ phai - Hoàng Mai, 28/1/2009 – "Báo Công Thương Điện Tử"
  4. 'Cuộc sống muôn màu' qua tranh Phạm Lực - Anh Vân - 30/11/2008 – VnExpress
  5. Họa sĩ Phạm Lực và những ô cửa sổ... - MY LĂNG - KHƯƠNG NGUYỄN - 30/11/2008 – Tuổi Trẻ Online



Rating:★★★★★
Category:Other
Tranh Phạm Lực Blog K6

Xem tranh:
  1. Website Pham Luc - Trang WEB của thầy
  2. CÂU LẠC BỘ NHỮNG NGƯỜI SƯU TẦM TRANH PHẠM LỤC
  3. Tranh thuộc Công ty Đài Tuấn
  4. Tranh Phạm Lực - Photo: Dương Đức Hải (Triển lãm tranh của thầy Phạm Lực từ 15/5 đến 15/6/07 tại Bảo tàng Mỹ thuật TPHCM.) – Blog K8nvt
  5. Tranh Phạm Lực - Blog K6.


Xem bài:
  1. Triển lãm tranh "Thời để nhớ" của thầy Lực - 20/05/2010, Blog K6.
  2. Triển lãm nhân dịp kỷ niệm 50 năm cầm bút vẽ của thầy Phạm Lực - 12/05/2009, Blog K6.
  3. Tranh thầy Lực - (hameok6), 28/11/2008.
  4. “Cuộc sống muôn màu” - triển lãm tranh PHẠM LỰC lần 2 - 28/11/2008, Blog K6.
  5. HỌA SĨ PHẠM LỰC - THẦY CỦA CHÚNG TA - (hameok6), 28/12/2007.
  6. Vẽ tranh chung cùng thầy Phạm Lực tại TP HCM - Blog K6, 22/6/2007.
  7. Thầy dạy vẽ - Nguyễn Hoàng Anh K6, SRTKL2: 284-285.


Xem bài sưu tầm trên mạng:
  1. Những ô cửa thời gian - Bảo Châu, 29/5/2009 – Báo An ninh Thủ đô Online
  2. Triển lãm tranh Phạm Lực tại Úc - TR.N. (Melbourne), 16/5/2009 – Tuổi Trẻ Online
  3. Hoạ sỹ Phạm Lực mối tình không bao giờ phai - Hoàng Mai, 28/1/2009 – "Báo Công Thương Điện Tử"
  4. 'Cuộc sống muôn màu' qua tranh Phạm Lực - Anh Vân - 30/11/2008 – VnExpress
  5. Họa sĩ Phạm Lực và những ô cửa sổ... - MY LĂNG - KHƯƠNG NGUYỄN - 30/11/2008 – Tuổi Trẻ Online



Thứ Tư, 9 tháng 7, 2008

Sức quyến rũ của hoàng hôn - HaMeoK6



Sức quyến rũ của hoàng hôn



Xem AE đăng hình hoàng hôn ở mọi xứ làm tôi nhớ đến kỳ đi Cam-pốt theo “tua” của Sài Gòn “Tu-rít” mấy năm trước.

Trong chương trình có 1 buổi chiều “Du khách chinh phục núi Bakheng, ngắm hoàng hôn phủ ánh vàng trên đền Angkor. Nơi mà có thể ngắm được Mặt trời lặn xuống đền Angkor đẹp nhất và là nơi duy nhất có thể nhìn thấy một cảnh tượng đẹp nhất của Angkor. Nơi mà những người giữ đền kể rằng: "Khi màn đêm xuống, hàng ngàn tiên nữ apsara từ những bức phù điêu trên các dãy hành lang cổ kính dài hun hút sà xuống nhảy múa, nữ thần sắc đẹp Laksmi lại ngồi bên chú khỉ Hanuman nghe kể chuyện khuấy biển sữa tìm thuốc trường sinh, và quan quân của đức vua Suryavarman II - người xây đền Angkor - lại từ trên các bức phù điêu hiện ra" . Nghe thật hấp dẫn! Ai mà từ chối được?

Chẳng hiểu do sức hút của hoàng hôn hay do mong muốn được gặp các “tiên nữ apsara” hay do quảng cáo tốt, mà hôm đó, xế chiều hàng đoàn người, tây có – ta có, Miên có – Việt có, quần lững – áo ngắn, áo dài –quần zin…thôi thì đủ cả. Tất cả lũ lượt kéo nhau theo triền dốc thoai thoải khoảng 3 km xuyên rừng cây âm u mịt mù đi lên núi. May mà có đường xá đàng hoàng chớ không phải trèo đèo lội suối gì cả. Tới đỉnh núi, 1 đống đá cao lù lù được sắp xếp dựng đứng từ cách đây hơn 10 thế kỷ mà người ta gọi là “đền Bakheng”. Đây chính là nơi mà du khách cần phải thực sự leo trèo để có thể “thưởng thức” ánh hoàng hôn.

Trên đỉnh đống đá (hay còn gọi là đền), du khách không biết từ đâu tới mà chen nhau xếp lớp ngong ngóng về hướng Tây đợi giờ mặt trời lặn. Già - trẻ, gái - trai, lớn - bé không thiếu gì. Người thì ngồi bệt xuống mấy phiến đá vừa thở, vừa quạt mồ hôi tầm tã. Kẻ thì lượn qua lượn lại chụp hình, quay phim…. Mấy tay người Âu ra dáng “chuyên nghiệp” chiếm cái vị trí tốt nhất, đưa ống kính máy ảnh canh qua canh lại đợi giờ phút “gay cấn” nhất của hoàng hôn buông xuống Angkor.

Đợi chờ, đợi chờ…. Nhìn về trời Tây thì hỡi ôi, 1 đám mây to tổ bố cứ chè bè “đứng “ ngay chỗ mà lẽ ra mặt trời sẽ lặn xuống! “Quần hào” nôn nao chỉ còn hy vọng các tiên nữ sẽ “thổi” nó bay đi. Và thế là tiếp tục đợi chờ, đợi chờ trong hy vọng…. Trời bắt đầu tối dần, gió bắt đầu thổi mạnh mang theo mùi ẩm ướt báo hiệu 1 cơn mưa có thể tới bất cứ lúc nào. Mẹ, mưa mà xuống trên đỉnh “đống đá” này, cách nơi tập kết xe khoảng 3 km đường rừng tối mò không có chút ánh sáng nào thì đúng là “hoàng hôn” cho đời mình thiệt rồi! Đám đông bỗng hốt hoảng, nhốn nháo vội vã kéo nhau xuống núi. 

Thôi thì cũng là 1 lần cho biết. Ai cũng ráng chụp lấy mấy tấm hình “nơi lẽ ra sẽ có hoàng hôn” để làm kỷ niệm và …chửi thề cho vui. Đúng là sức quyến rũ của hoàng hôn thật là vô cùng.




Sức quyến rũ của hoàng hôn



Xem AE đăng hình hoàng hôn ở mọi xứ làm tôi nhớ đến kỳ đi Cam-pốt theo “tua” của Sài Gòn “Tu-rít” mấy năm trước.

Trong chương trình có 1 buổi chiều “Du khách chinh phục núi Bakheng, ngắm hoàng hôn phủ ánh vàng trên đền Angkor. Nơi mà có thể ngắm được Mặt trời lặn xuống đền Angkor đẹp nhất và là nơi duy nhất có thể nhìn thấy một cảnh tượng đẹp nhất của Angkor. Nơi mà những người giữ đền kể rằng: "Khi màn đêm xuống, hàng ngàn tiên nữ apsara từ những bức phù điêu trên các dãy hành lang cổ kính dài hun hút sà xuống nhảy múa, nữ thần sắc đẹp Laksmi lại ngồi bên chú khỉ Hanuman nghe kể chuyện khuấy biển sữa tìm thuốc trường sinh, và quan quân của đức vua Suryavarman II - người xây đền Angkor - lại từ trên các bức phù điêu hiện ra" . Nghe thật hấp dẫn! Ai mà từ chối được?

Chẳng hiểu do sức hút của hoàng hôn hay do mong muốn được gặp các “tiên nữ apsara” hay do quảng cáo tốt, mà hôm đó, xế chiều hàng đoàn người, tây có – ta có, Miên có – Việt có, quần lững – áo ngắn, áo dài –quần zin…thôi thì đủ cả. Tất cả lũ lượt kéo nhau theo triền dốc thoai thoải khoảng 3 km xuyên rừng cây âm u mịt mù đi lên núi. May mà có đường xá đàng hoàng chớ không phải trèo đèo lội suối gì cả. Tới đỉnh núi, 1 đống đá cao lù lù được sắp xếp dựng đứng từ cách đây hơn 10 thế kỷ mà người ta gọi là “đền Bakheng”. Đây chính là nơi mà du khách cần phải thực sự leo trèo để có thể “thưởng thức” ánh hoàng hôn.

Trên đỉnh đống đá (hay còn gọi là đền), du khách không biết từ đâu tới mà chen nhau xếp lớp ngong ngóng về hướng Tây đợi giờ mặt trời lặn. Già - trẻ, gái - trai, lớn - bé không thiếu gì. Người thì ngồi bệt xuống mấy phiến đá vừa thở, vừa quạt mồ hôi tầm tã. Kẻ thì lượn qua lượn lại chụp hình, quay phim…. Mấy tay người Âu ra dáng “chuyên nghiệp” chiếm cái vị trí tốt nhất, đưa ống kính máy ảnh canh qua canh lại đợi giờ phút “gay cấn” nhất của hoàng hôn buông xuống Angkor.

Đợi chờ, đợi chờ…. Nhìn về trời Tây thì hỡi ôi, 1 đám mây to tổ bố cứ chè bè “đứng “ ngay chỗ mà lẽ ra mặt trời sẽ lặn xuống! “Quần hào” nôn nao chỉ còn hy vọng các tiên nữ sẽ “thổi” nó bay đi. Và thế là tiếp tục đợi chờ, đợi chờ trong hy vọng…. Trời bắt đầu tối dần, gió bắt đầu thổi mạnh mang theo mùi ẩm ướt báo hiệu 1 cơn mưa có thể tới bất cứ lúc nào. Mẹ, mưa mà xuống trên đỉnh “đống đá” này, cách nơi tập kết xe khoảng 3 km đường rừng tối mò không có chút ánh sáng nào thì đúng là “hoàng hôn” cho đời mình thiệt rồi! Đám đông bỗng hốt hoảng, nhốn nháo vội vã kéo nhau xuống núi. 

Thôi thì cũng là 1 lần cho biết. Ai cũng ráng chụp lấy mấy tấm hình “nơi lẽ ra sẽ có hoàng hôn” để làm kỷ niệm và …chửi thề cho vui. Đúng là sức quyến rũ của hoàng hôn thật là vô cùng.


Chủ Nhật, 6 tháng 7, 2008

Sự may mắn của số phận - Đào Duy



SỰ MAY MẮN CỦA SỐ PHẬN



Đào Duy


Người đàn ông mà tôi sắp kể với các bạn đây có một số phận “kỳ lạ”, cho tới bây giờ chỉ còn ít ngày nữa nhận sổ hưu, sáu mươi năm của đời người vèo qua anh cũng không hiểu nổi vì sao cuộc đời anh lại may mắn như thế khi lứa tuổi anh cùng quê sau trước đều bỏ xác lại chiến trường.
Anh sinh 1948, là con trai độc nhất trong gia đình có bốn chị em. Ông anh chỉ sinh được bố anh sau hai bà bác. Cụ đẻ ra ông anh cũng vậy … Tóm lại sáu đời nhà anh mỗi đời duy nhất sinh được một người con trai cho tới thế hệ anh, anh là hy vọng duy nhất của dòng họ nhận trách nhiệm trông nom thờ phụng tổ tiên và nối dõi tông đường.
Năm 1965 học hết lớp 10, thời đó ở làng học hết phổ thông là gớm ghê lắm, cả tổng cả huyện số học sinh như anh đếm trên đầu ngón tay. Anh học giỏi và nghiễm nhiên con đường học vấn rộng mở trước mắt. Lý lịnh nhà anh chả “trong” như nước giếng làng nhưng cũng chả đến nỗi “đục”như nước sông mùa lũ, họ nhà anh không ai làm cho ta và cũng chả có ai dính dáng giúp “tây” chỉ thuần khiết là anh nông dân “chân đất mắt toét” lương thiện nhưng có truyền thống coi trọng sự học hành và có tư chất.
Chiến tranh báo hiệu những tháng ngày cam go ác liệt khi Mỹ ào ạt đổ quân vào cửa biển Đà Nẵng. Giữa năm 1965 trai tráng trong làng lục tục nhập ngũ. Anh được hoãn đợt đầu tiên trong xã vì nhà con “độc”. Thế là anh vào đại học. Cắt nhân khẩu khỏi địa phương và từ đó anh là người “nhà nước” không còn dính líu gì tới danh sách nghĩa vụ quân sự của xã của huyện. Anh học sư phạm, nghề giáo - nghề cao quý, là niềm kính trọng, là mơ ước của xã hội của của giòng họ và của chính anh.
Anh học hết năm thứ nhất, hết hè vào năm thứ hai được nửa học kỳ thì chiến tranh không còn là sự phỏng đoán âu lo của người dân Việt nữa nó đã ở đâu đó rất gần. Mỹ ném bom ác liệt ra toàn miền bắc chiến tranh lan rộng cả nước với quy mô lớn hơn, ác liệt hơn, lính mỹ hiện diện nhiều hơn trên chiến trường.
Lúc này bộ phận tuyển quân của bộ quốc phòng đã bắt đầu để ý tới đám sinh viên các trường đại học. Đợt đầu tiên tuyển quân ở trường anh người ta chỉ giới hạn tuyển chọn sinh viên đang học năm thứ nhất trong khi đó anh lại đang học năm thứ hai. Năm thứ ba đại học của anh bắt đầu được mấy tháng trường lại có đợt tuyển quân mới và lần này quy mô tuyển quân rộng hơn, phạm vi tuyển quân từ năm thứ nhất đến năm thứ hai, thế là mọi sự chuẩn bị trở thành người lính của anh đành lỗi hẹn. Khi anh học năm thứ tư, kỳ tuyển quân bổ sung bắt đầu ngay từ đầu năm, lần này số sinh viên tham dự tuyển quân được chọn lựa từ năm thứ nhất đến năm thứ ba, anh lại trượt vì đang học năm cuối. Thế là đời lính cứ bám đuổi theo anh suốt thời sinh viên mà chẳng bén duyên.
Ra trường năm 1969 anh được bộ phân công về ty giáo dục Hà Tĩnh nhận công tác. Sau cả tháng trời đi bộ, nhờ xe, tránh bom, tránh đạn anh cũng có mặt tại ty giáo dục Hà Tĩnh đúng thời gian ghi trong tờ giấy điều động. Ty giáo dục phân công anh về trường cấp ba Cẩm Xuyên đứng lớp.
Là sinh viên mới ra trường với bao háo hức anh lao vào công việc hăng say, nhiệt tình như chàng võ sỹ quyền anh sau khi nghe tiếng chuông nhập trận. Mảnh đất nghèo khó đầy bom đạn nhưng lòng hiếu học và sự tôn kính thầy cô ở cái giải đất miền trung nắng gió này đã cho anh thêm tình yêu nghề, níu giữ anh qua những năm tháng khó khăn.
Thế rồi tình yêu đôi lứa đến với anh trong ác liệt của đạn bom. Cô gái có mái tóc dài và giọng nói như chim - học sinh cũ của anh, cảm rồi yêu người thầy dạy văn trẻ trung sôi nổi. Nhưng tình cảm đầu đời của hai người không kéo dài, cô gái đã chết trong một trận bom mỹ đánh đoàn xe chở hàng vào chiến trường nằm ở làng cô chờ tối để tiếp tục hành quân. Một quả bom lạc … và thế là anh vĩnh viễn anh mất người con gái ấy.
Năm bảy mốt trong danh sách tuyển quân của huyện Cẩm Xuyên, phòng giáo dục huyện có năm người trong đó có tên anh. Qua bốn năm vòng khám cầm tờ giấy sức khỏe với chỉ số cân nặng 59 kg, chiều cao 1m 70, “tim, gan, phèo, phổi” tốt anh tự tin bước vào phòng kết luận cuối cùng. Trong phòng chỉ có anh và người bác sỹ đã lớn tuổi. Không nhìn tờ giấy anh đưa với giọng khu bốn nằng nặng vị bác sỹ hỏi anh:
- Anh quê đâu?
- Tôi người miền ngoài.
- Anh làm nghề gì?
- Tôi là giáo viên cấp ba?
- Giáo viên cấp ba à! Người bác sỹ già ngạc nhiên nhướng mục kỉnh lên nhìn anh.
Sau một hồi im lặng kéo dài đôi mắt vị bác sỹ hướng qua ô cửa nhìn về một nơi nào đó như xa lắm rồi chập rãi quay lại:
- Anh vào dạy trong này lâu chưa?
- Ngay sau khi tôi ra trường.
….
Người bác sỹ già nhìn chàng thanh niên tri thức trẻ ngồi trước mặt mà lòng đầy ái ngại. đặt bút xuống bàn lúc này ông mới đọc tờ trích ngang và phiếu kiểm tra sức khỏe của anh, rồi ông ngẩng lên.
- Ác liệt đấy! phía trước không đơn giản như chúng ta ngồi đây đâu, đã sẵn sàng chưa? Vừa nói ông vừa nhìn như đoán định từng ý nghĩ trong đầu anh
- Tôi đã chờ đợi ngày này từ nhiều năm nay.
Cảm kích thái độ của anh trước thời cuộc, cảm kích tấm lòng của người giáo viên trẻ đã từ bỏ quê hương yên bình vào tận quê ông xa xôi nơi chiến tranh ác liệt, nơi nghèo đói khắc nghiệt để đem con chữ cho lũ trẻ nơi quê ông và nhiều điều khác nữa trong lòng ông, ông đồng cảm với anh chăng? hay ông thương anh “miếng mồi béo bở” của chiến tranh đang rình rập chờ anh nơi cánh rừng nào đó xa kia … những dự cảm về con người về thời cuộc cứ trộn rộn trong lòng mà ông không sao lý giải nổi, ông thấy mến anh với cả tấm lòng kính trọng
Ngắm nhìn anh lần cuối, hình như có điều gì đó dằn vặt trước một quyết định rất khó khăn ông bỗng nhớ tới lời thề Hippocrates thuở nào khi giơ tay thề trước khi nhận tấm bằng bác sỹ. Rồi rất nhanh khác với vẻ chậm rãi cố hữu chỉ sợ thời gian làm cho ông thay đổi mất quyết định vừa bột phát xuất hiện trong trái tim ông, người thanh niên này phải sống, chiến tranh như là của ai đó chứ không phải dành cho anh người mà ông phải đại diện cho thế hệ học sinh trên mảnh đất Hà Tĩnh quê hương ông hàm ơn anh.
- Tôi cảm thấy anh không được khỏe, có thể anh gặp một vài trục trặc nào đó mà họ chưa phát hiện ra chăng? Tôi sẽ khám lại cho anh. Giọng người bác sỹ quả quyết.
Sau khi khám lại “thật kỹ” vị bác sỹ già cặm cụi ghi chép vào phần kết luận của tờ phiếu sức khỏe nghĩa vụ quân sự rồi đưa cho anh đôi mắt ông quay đi hướng khác.
- Xong rồi anh có thể về, chúc anh may mắn. Vị bác sỹ đứng dậy tiễn anh ra cửa.
Thế là lại hỏng ăn, anh bị gạt ra khỏi danh sách trúng tuyển nghĩa vụ một lần nữa. Ai dám tuyển anh khi trong phần kết luận của bác sỹ người có tiếng nói quyết định trong hội đông tuyển quân “ Tim có vấn đề chưa rõ nguyên căn”.
Năm 1972 anh tình nguyên nhập ngũ sau từng ấy năm lần này anh được toại nguyện. Sau huấn luyện anh theo đơn vị vào tây nguyên. Đánh nhau bao nhiêu trận suýt chết, khi tấn công đánh chiếm Buônmathuột đầu năm 1975 lưỡi hái tử thần một lần nữa “chê” anh, chiếc mũ cối bay đi giập nát còn cái đầu đầy chữ và thơ phú của anh thì vẫn còn nguyên chỉ mất mảng tóc quăn bồng bềnh trước trán.
Từ đó cho tới khi kết thúc chiến tranh anh chẳng hề hấn gì, không một vết xước, chiến tranh không sờ tới anh. Giải phóng Sài Gòn sau quân quản anh làm đơn giải ngũ xin trở về quê với nghề dạy học. Tổ chức giải quyết theo nguyện vọng của anh. Anh về quê với nghề – Gõ đầu trẻ và một phần cũng là vì lời hứa và trách nhiệm của anh với cả dòng họ, thờ phụng trông nom bàn thờ tổ tiên.
Chuyện của anh chỉ có vậy thôi, nhưng với thế hệ của anh, anh thực sự là người may mắn, tất cả những ai đã từng kinh qua thời khắc ác liệt nhất của chiến tranh cũng đều bảo thế. Câu chuyện này tôi tình cờ được nghe anh kể trong một bữa rượu với vài người bạn lính trong đợt đưa vợ con ra Bắc hè vừa rồi.


T/p Hồ Chí Minh hè năm 2008.

Đăng lại bài viết của Nguyễn Duy Đảo (đã đăng tại „Blog Bạn Trỗi”: Thứ bảy, 05 tháng bảy, 2008)



SỰ MAY MẮN CỦA SỐ PHẬN



Đào Duy


Người đàn ông mà tôi sắp kể với các bạn đây có một số phận “kỳ lạ”, cho tới bây giờ chỉ còn ít ngày nữa nhận sổ hưu, sáu mươi năm của đời người vèo qua anh cũng không hiểu nổi vì sao cuộc đời anh lại may mắn như thế khi lứa tuổi anh cùng quê sau trước đều bỏ xác lại chiến trường.
Anh sinh 1948, là con trai độc nhất trong gia đình có bốn chị em. Ông anh chỉ sinh được bố anh sau hai bà bác. Cụ đẻ ra ông anh cũng vậy … Tóm lại sáu đời nhà anh mỗi đời duy nhất sinh được một người con trai cho tới thế hệ anh, anh là hy vọng duy nhất của dòng họ nhận trách nhiệm trông nom thờ phụng tổ tiên và nối dõi tông đường.
Năm 1965 học hết lớp 10, thời đó ở làng học hết phổ thông là gớm ghê lắm, cả tổng cả huyện số học sinh như anh đếm trên đầu ngón tay. Anh học giỏi và nghiễm nhiên con đường học vấn rộng mở trước mắt. Lý lịnh nhà anh chả “trong” như nước giếng làng nhưng cũng chả đến nỗi “đục”như nước sông mùa lũ, họ nhà anh không ai làm cho ta và cũng chả có ai dính dáng giúp “tây” chỉ thuần khiết là anh nông dân “chân đất mắt toét” lương thiện nhưng có truyền thống coi trọng sự học hành và có tư chất.
Chiến tranh báo hiệu những tháng ngày cam go ác liệt khi Mỹ ào ạt đổ quân vào cửa biển Đà Nẵng. Giữa năm 1965 trai tráng trong làng lục tục nhập ngũ. Anh được hoãn đợt đầu tiên trong xã vì nhà con “độc”. Thế là anh vào đại học. Cắt nhân khẩu khỏi địa phương và từ đó anh là người “nhà nước” không còn dính líu gì tới danh sách nghĩa vụ quân sự của xã của huyện. Anh học sư phạm, nghề giáo - nghề cao quý, là niềm kính trọng, là mơ ước của xã hội của của giòng họ và của chính anh.
Anh học hết năm thứ nhất, hết hè vào năm thứ hai được nửa học kỳ thì chiến tranh không còn là sự phỏng đoán âu lo của người dân Việt nữa nó đã ở đâu đó rất gần. Mỹ ném bom ác liệt ra toàn miền bắc chiến tranh lan rộng cả nước với quy mô lớn hơn, ác liệt hơn, lính mỹ hiện diện nhiều hơn trên chiến trường.
Lúc này bộ phận tuyển quân của bộ quốc phòng đã bắt đầu để ý tới đám sinh viên các trường đại học. Đợt đầu tiên tuyển quân ở trường anh người ta chỉ giới hạn tuyển chọn sinh viên đang học năm thứ nhất trong khi đó anh lại đang học năm thứ hai. Năm thứ ba đại học của anh bắt đầu được mấy tháng trường lại có đợt tuyển quân mới và lần này quy mô tuyển quân rộng hơn, phạm vi tuyển quân từ năm thứ nhất đến năm thứ hai, thế là mọi sự chuẩn bị trở thành người lính của anh đành lỗi hẹn. Khi anh học năm thứ tư, kỳ tuyển quân bổ sung bắt đầu ngay từ đầu năm, lần này số sinh viên tham dự tuyển quân được chọn lựa từ năm thứ nhất đến năm thứ ba, anh lại trượt vì đang học năm cuối. Thế là đời lính cứ bám đuổi theo anh suốt thời sinh viên mà chẳng bén duyên.
Ra trường năm 1969 anh được bộ phân công về ty giáo dục Hà Tĩnh nhận công tác. Sau cả tháng trời đi bộ, nhờ xe, tránh bom, tránh đạn anh cũng có mặt tại ty giáo dục Hà Tĩnh đúng thời gian ghi trong tờ giấy điều động. Ty giáo dục phân công anh về trường cấp ba Cẩm Xuyên đứng lớp.
Là sinh viên mới ra trường với bao háo hức anh lao vào công việc hăng say, nhiệt tình như chàng võ sỹ quyền anh sau khi nghe tiếng chuông nhập trận. Mảnh đất nghèo khó đầy bom đạn nhưng lòng hiếu học và sự tôn kính thầy cô ở cái giải đất miền trung nắng gió này đã cho anh thêm tình yêu nghề, níu giữ anh qua những năm tháng khó khăn.
Thế rồi tình yêu đôi lứa đến với anh trong ác liệt của đạn bom. Cô gái có mái tóc dài và giọng nói như chim - học sinh cũ của anh, cảm rồi yêu người thầy dạy văn trẻ trung sôi nổi. Nhưng tình cảm đầu đời của hai người không kéo dài, cô gái đã chết trong một trận bom mỹ đánh đoàn xe chở hàng vào chiến trường nằm ở làng cô chờ tối để tiếp tục hành quân. Một quả bom lạc … và thế là anh vĩnh viễn anh mất người con gái ấy.
Năm bảy mốt trong danh sách tuyển quân của huyện Cẩm Xuyên, phòng giáo dục huyện có năm người trong đó có tên anh. Qua bốn năm vòng khám cầm tờ giấy sức khỏe với chỉ số cân nặng 59 kg, chiều cao 1m 70, “tim, gan, phèo, phổi” tốt anh tự tin bước vào phòng kết luận cuối cùng. Trong phòng chỉ có anh và người bác sỹ đã lớn tuổi. Không nhìn tờ giấy anh đưa với giọng khu bốn nằng nặng vị bác sỹ hỏi anh:
- Anh quê đâu?
- Tôi người miền ngoài.
- Anh làm nghề gì?
- Tôi là giáo viên cấp ba?
- Giáo viên cấp ba à! Người bác sỹ già ngạc nhiên nhướng mục kỉnh lên nhìn anh.
Sau một hồi im lặng kéo dài đôi mắt vị bác sỹ hướng qua ô cửa nhìn về một nơi nào đó như xa lắm rồi chập rãi quay lại:
- Anh vào dạy trong này lâu chưa?
- Ngay sau khi tôi ra trường.
….
Người bác sỹ già nhìn chàng thanh niên tri thức trẻ ngồi trước mặt mà lòng đầy ái ngại. đặt bút xuống bàn lúc này ông mới đọc tờ trích ngang và phiếu kiểm tra sức khỏe của anh, rồi ông ngẩng lên.
- Ác liệt đấy! phía trước không đơn giản như chúng ta ngồi đây đâu, đã sẵn sàng chưa? Vừa nói ông vừa nhìn như đoán định từng ý nghĩ trong đầu anh
- Tôi đã chờ đợi ngày này từ nhiều năm nay.
Cảm kích thái độ của anh trước thời cuộc, cảm kích tấm lòng của người giáo viên trẻ đã từ bỏ quê hương yên bình vào tận quê ông xa xôi nơi chiến tranh ác liệt, nơi nghèo đói khắc nghiệt để đem con chữ cho lũ trẻ nơi quê ông và nhiều điều khác nữa trong lòng ông, ông đồng cảm với anh chăng? hay ông thương anh “miếng mồi béo bở” của chiến tranh đang rình rập chờ anh nơi cánh rừng nào đó xa kia … những dự cảm về con người về thời cuộc cứ trộn rộn trong lòng mà ông không sao lý giải nổi, ông thấy mến anh với cả tấm lòng kính trọng
Ngắm nhìn anh lần cuối, hình như có điều gì đó dằn vặt trước một quyết định rất khó khăn ông bỗng nhớ tới lời thề Hippocrates thuở nào khi giơ tay thề trước khi nhận tấm bằng bác sỹ. Rồi rất nhanh khác với vẻ chậm rãi cố hữu chỉ sợ thời gian làm cho ông thay đổi mất quyết định vừa bột phát xuất hiện trong trái tim ông, người thanh niên này phải sống, chiến tranh như là của ai đó chứ không phải dành cho anh người mà ông phải đại diện cho thế hệ học sinh trên mảnh đất Hà Tĩnh quê hương ông hàm ơn anh.
- Tôi cảm thấy anh không được khỏe, có thể anh gặp một vài trục trặc nào đó mà họ chưa phát hiện ra chăng? Tôi sẽ khám lại cho anh. Giọng người bác sỹ quả quyết.
Sau khi khám lại “thật kỹ” vị bác sỹ già cặm cụi ghi chép vào phần kết luận của tờ phiếu sức khỏe nghĩa vụ quân sự rồi đưa cho anh đôi mắt ông quay đi hướng khác.
- Xong rồi anh có thể về, chúc anh may mắn. Vị bác sỹ đứng dậy tiễn anh ra cửa.
Thế là lại hỏng ăn, anh bị gạt ra khỏi danh sách trúng tuyển nghĩa vụ một lần nữa. Ai dám tuyển anh khi trong phần kết luận của bác sỹ người có tiếng nói quyết định trong hội đông tuyển quân “ Tim có vấn đề chưa rõ nguyên căn”.
Năm 1972 anh tình nguyên nhập ngũ sau từng ấy năm lần này anh được toại nguyện. Sau huấn luyện anh theo đơn vị vào tây nguyên. Đánh nhau bao nhiêu trận suýt chết, khi tấn công đánh chiếm Buônmathuột đầu năm 1975 lưỡi hái tử thần một lần nữa “chê” anh, chiếc mũ cối bay đi giập nát còn cái đầu đầy chữ và thơ phú của anh thì vẫn còn nguyên chỉ mất mảng tóc quăn bồng bềnh trước trán.
Từ đó cho tới khi kết thúc chiến tranh anh chẳng hề hấn gì, không một vết xước, chiến tranh không sờ tới anh. Giải phóng Sài Gòn sau quân quản anh làm đơn giải ngũ xin trở về quê với nghề dạy học. Tổ chức giải quyết theo nguyện vọng của anh. Anh về quê với nghề – Gõ đầu trẻ và một phần cũng là vì lời hứa và trách nhiệm của anh với cả dòng họ, thờ phụng trông nom bàn thờ tổ tiên.
Chuyện của anh chỉ có vậy thôi, nhưng với thế hệ của anh, anh thực sự là người may mắn, tất cả những ai đã từng kinh qua thời khắc ác liệt nhất của chiến tranh cũng đều bảo thế. Câu chuyện này tôi tình cờ được nghe anh kể trong một bữa rượu với vài người bạn lính trong đợt đưa vợ con ra Bắc hè vừa rồi.


T/p Hồ Chí Minh hè năm 2008.

Đăng lại bài viết của Nguyễn Duy Đảo (đã đăng tại „Blog Bạn Trỗi”: Thứ bảy, 05 tháng bảy, 2008)

Thứ Bảy, 5 tháng 7, 2008

Giao ban cafe - tháng 7 (TP HCM)

Start:     Jul 6, '08 08:00a
Location:     Café "Đôi khi": 21/3 - Lý Chính Thắng - Q.3 - Tp.HCM
...Có... một blogger wen thuộc tới. Đó là trưởng đoàn Xuyên Vịt số 2 - C trưởng Khắc Việt...khoảng hai mươi thành viên góp mặt giao ban...hơi buồn vì Suối ko đến...
...Pác Hồ Quý Kỳ đến fát thiệp hồng Tân Hôn cho đôi trẻ U60 nên duyên. Chúc pác đầu năm đẻ con trai, cuối năm đẻ con trai nốt...
...còn nêu một vấn đề: đầu tháng giao ban cà phê Đôi khi, giữa tháng giao ban cái jì đó. Thề là HMK6 tham luận ngay: giữa tháng là ngày nào?? Sau đó tạm thời chấp thuận,
chủ nhật đầu tiên của tháng giao ban Cà phê Đôi Khi,
chủ nhật thứ 3 của tháng sẽ giao ban cái jì đó,
sàng chiều thì chưa rỏ ràng, địa điểm chắc phải dời đổi liên tục, cho sướng cái tính khoái khẩu...


(4SaiGon)



Xem:
1. Go ban tháng 7 - 4saigon tại "Blog ÚT TRỖI".
2. Giao ban T7 - Trung Liêm tại "Blog Bạn Trỗi".

Xem thêm:
1. "Tin giao ban" - Hà Chí Quang tại "Blog Bạn Trỗi".
2. Giao ban CN 25.5.2008 - HaMeoK6 tại "Blog Bạn Trỗi K6".
3. THÔNG TIN GIAO BAN CAFE THÁNG 5 - HaMeoK6 tại "Blog Bạn Trỗi".
4. Họp tháng 4 - cafe giao ban (TP HCM) - Hà Chí Quang.
5. Tin thời sự - cafe giao ban - Hà Chí Quang K4 (Về phiên khai mạc cafe giao ban 02/03/2008).


Start:     Jul 6, '08 08:00a
Location:     Café "Đôi khi": 21/3 - Lý Chính Thắng - Q.3 - Tp.HCM
...Có... một blogger wen thuộc tới. Đó là trưởng đoàn Xuyên Vịt số 2 - C trưởng Khắc Việt...khoảng hai mươi thành viên góp mặt giao ban...hơi buồn vì Suối ko đến...
...Pác Hồ Quý Kỳ đến fát thiệp hồng Tân Hôn cho đôi trẻ U60 nên duyên. Chúc pác đầu năm đẻ con trai, cuối năm đẻ con trai nốt...
...còn nêu một vấn đề: đầu tháng giao ban cà phê Đôi khi, giữa tháng giao ban cái jì đó. Thề là HMK6 tham luận ngay: giữa tháng là ngày nào?? Sau đó tạm thời chấp thuận,
chủ nhật đầu tiên của tháng giao ban Cà phê Đôi Khi,
chủ nhật thứ 3 của tháng sẽ giao ban cái jì đó,
sàng chiều thì chưa rỏ ràng, địa điểm chắc phải dời đổi liên tục, cho sướng cái tính khoái khẩu...


(4SaiGon)



Xem:
1. Go ban tháng 7 - 4saigon tại "Blog ÚT TRỖI".
2. Giao ban T7 - Trung Liêm tại "Blog Bạn Trỗi".

Xem thêm:
1. "Tin giao ban" - Hà Chí Quang tại "Blog Bạn Trỗi".
2. Giao ban CN 25.5.2008 - HaMeoK6 tại "Blog Bạn Trỗi K6".
3. THÔNG TIN GIAO BAN CAFE THÁNG 5 - HaMeoK6 tại "Blog Bạn Trỗi".
4. Họp tháng 4 - cafe giao ban (TP HCM) - Hà Chí Quang.
5. Tin thời sự - cafe giao ban - Hà Chí Quang K4 (Về phiên khai mạc cafe giao ban 02/03/2008).


Thứ Sáu, 4 tháng 7, 2008

K3 (HN) gặp mặt hàng năm theo truyền thống, kỷ niệm 40 năm ngày nhập ngũ.

Start:     Aug 3, '08 08:30a
End:     Aug 3, '08 2:00p
Location:     Số 1 Trấn Vũ, Hà Nội


...Sự kiện đã được tổ chức trọng thể, thân mật, vui tung trời...

K3 gặp mặt hàng năm theo truyền thống nhân kỷ niệm
43 năm (1965-2008) ngày nhập Trường Trỗi và
40 năm (1968-2008) ngày nhập ngũ.

Thành phần: Ngoài Anh Chị Em K3, BLL sẽ làm giấy mời gửi đến các thầy cô giáo, đại diện BLL Nhà Trường, đại diện BLL các khóa 1234567 và 8.



Mời xem bài:
  1. 40 Năm quân ngũ - K3 Hà Nội.(Phần 1) - AMk3, 03/08/2008, Blog K3.
  2. Họp kỷ niệm 40 năm nhập ngũ của Khóa 3 trường Trỗi - ngcuong50, 07/08/2008, Blog K3.
  3. Phụ lục cho bài "40 Năm quân ngũ K3 HN" - AMk3, 08/08/2008, Blog K3.
  4. 40 Năm quân ngũ - K3 Hà nội.(Phần 2) - AMk3, 10/08/2008, Blog K3.
  5. Món quà của Út Trỗi - AMk3, 10/08/2008, Blog K3.
  6. K3 Kỷ niệm 40 năm ngày nhập ngũ - Vinh Nguyen Quang, 10/08/2008, Album Picasa Web.
  7. Thông báo (họp ngày 29/6/2008) - Blog K3.


Start:     Aug 3, '08 08:30a
End:     Aug 3, '08 2:00p
Location:     Số 1 Trấn Vũ, Hà Nội


...Sự kiện đã được tổ chức trọng thể, thân mật, vui tung trời...

K3 gặp mặt hàng năm theo truyền thống nhân kỷ niệm
43 năm (1965-2008) ngày nhập Trường Trỗi và
40 năm (1968-2008) ngày nhập ngũ.

Thành phần: Ngoài Anh Chị Em K3, BLL sẽ làm giấy mời gửi đến các thầy cô giáo, đại diện BLL Nhà Trường, đại diện BLL các khóa 1234567 và 8.



Mời xem bài:
  1. 40 Năm quân ngũ - K3 Hà Nội.(Phần 1) - AMk3, 03/08/2008, Blog K3.
  2. Họp kỷ niệm 40 năm nhập ngũ của Khóa 3 trường Trỗi - ngcuong50, 07/08/2008, Blog K3.
  3. Phụ lục cho bài "40 Năm quân ngũ K3 HN" - AMk3, 08/08/2008, Blog K3.
  4. 40 Năm quân ngũ - K3 Hà nội.(Phần 2) - AMk3, 10/08/2008, Blog K3.
  5. Món quà của Út Trỗi - AMk3, 10/08/2008, Blog K3.
  6. K3 Kỷ niệm 40 năm ngày nhập ngũ - Vinh Nguyen Quang, 10/08/2008, Album Picasa Web.
  7. Thông báo (họp ngày 29/6/2008) - Blog K3.


Thứ Năm, 3 tháng 7, 2008

Nhân cách 1 con người - Kiến Quốc

Trích đăng lại bài giới thiệu của Trần Kiến Quốc (đã đăng tại Blog "Trường VHQĐ Nguyễn Văn Trỗi" Thứ tư, ngày 02 tháng bảy năm 2008)


Truyện Tướng Độ (Võ Bá Cương - NXB QĐND 2007)
Đã từng giới thiệu "Truyện Tướng Độ" (Võ Bá Cương - NXB QĐND 2007) lên blog Bantroi. Nhưng để xuất bản được cuốn sách không phải việc đơn giản. Tác giả từng vào TpHCM gặp cụ Võ Văn Kiệt và ông đã nêu rõ chính kiến của mình trong 1 bài viết...
(...Xin mời xem tiếp tại Blog "Trường VHQĐ Nguyễn Văn Trỗi").


Xem:
1. Sách mới "Chuyện tướng Độ" - Trần Kiến Quốc tại Blog "Trường VHQĐ Nguyễn Văn Trỗi"
2. Chuyện gẫu 28/8: Chúc mừng bạn già gặp nhau - Hữu Thành tại „Blog Bạn Trỗi”
3. Hồi ký Trần Độ - Trần Độ - VN Thu Quan - Thu vien Online
Trích đăng lại bài giới thiệu của Trần Kiến Quốc (đã đăng tại Blog "Trường VHQĐ Nguyễn Văn Trỗi" Thứ tư, ngày 02 tháng bảy năm 2008)


Truyện Tướng Độ (Võ Bá Cương - NXB QĐND 2007)
Đã từng giới thiệu "Truyện Tướng Độ" (Võ Bá Cương - NXB QĐND 2007) lên blog Bantroi. Nhưng để xuất bản được cuốn sách không phải việc đơn giản. Tác giả từng vào TpHCM gặp cụ Võ Văn Kiệt và ông đã nêu rõ chính kiến của mình trong 1 bài viết...
(...Xin mời xem tiếp tại Blog "Trường VHQĐ Nguyễn Văn Trỗi").


Xem:
1. Sách mới "Chuyện tướng Độ" - Trần Kiến Quốc tại Blog "Trường VHQĐ Nguyễn Văn Trỗi"
2. Chuyện gẫu 28/8: Chúc mừng bạn già gặp nhau - Hữu Thành tại „Blog Bạn Trỗi”
3. Hồi ký Trần Độ - Trần Độ - VN Thu Quan - Thu vien Online

Khúc tưởng niệm

Khúc tưởng niệm


Tháng bảy với ngày 27...



Trần Bắc Hải = tranbachai – BacHai – BaChai
Nhân Kỷ niệm Ngày Thương binh - Liệt sĩ 27-7 , K6 xin trân trọng giới thiệu với các Anh Chị Em một tác phẩm của anh Trần Bắc Hải – một Bạn Trỗi K5 mà mọi người thường biết đến với bút danh tranbachai – BacHai – BaChai.

Đây là một ca khúc tưởng niệm, mà anh Hải đã sáng tác sau phút giây sởn hết cả gai ốc khi đọc bài thơ “Lời người bên sông” của Nghệ sĩ Nhiếp ảnh, Nhà báo, Cựu chiến binh (Dũng sỹ diệt Mỹ cấp ưu tú) Lê Bá Dương. („Thực sự thì đó là tiếng lòng của một người lính ra đi cùng bạn bè. Ngày đi cùng nhau đầu xanh, háo hức với nhau. Nay mình về, còn bạn bè ở lại hoá thân vào sông núi chiến trường” – Lời tâm sự của anh Dương với anh Hải).


Trích đoạn từ bài “Ký ức màu hoa đỏ...” của tác giả Hà Đình Nguyên (Thanh Niên Online 12:57:00, 26/07/2007):

Xin được nêu thêm một ca khúc tuy chưa phổ biến nhưng có hoàn cảnh ra đời khá ly kỳ và cảm động.
Số là anh Trần Bắc Hải - hiện sống và làm việc tại London (Anh), trong một ngày đầu tháng 5.2007 khi vào mạng internet đã tình cờ đọc được 4 câu thơ của một cựu chiến binh QĐND VN:

"Đò lên Thạch Hãn ơi chèo nhẹ
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm
Có tuổi hai mươi thành sóng nước
Vỗ yên bờ bãi mãi ngàn năm"

("Lời gọi bên sông” - Lê Bá Dương).
4 câu thơ đã làm Trần Bắc Hải "sởn gai ốc" (nguyên văn của anh trên mạng). Anh nhờ các sinh viên Việt Nam đang du học tại Anh tìm được địa chỉ của tác giả bài thơ “Lời gọi bên sông”. Hai người: một ở Việt Nam, một ở Anh nhưng rất gần gũi qua sự đồng cảm và Trần Bắc Hải đã phổ nhạc bài thơ. Do bài thơ chỉ có 4 câu nên khi phổ nhạc được lặp lại hai lần. Đoạn A là solo, đoạn B hát 3 bè. Chưa biết hay hay dở nhưng chắc chắn không chỉ hai đồng tác giả này mới đồng cảm, mà còn có cả bạn và tôi!

Hà Đình Nguyên”


Xin mời các anh chị em vào trang WEB của anh Trần Bắc Hải (và trang WEB của anh LÊ BÁ DƯƠNG) để thưởng thức tác phẩm và xem thêm về sáng tác này.

Và lại một lần nữa xin hãy cùng nhau tưởng nhớ đến các Anh hùng, Liệt sĩ của chúng ta.


(Bài có sử dụng ảnh và tư liệu từ trang WEB tranbachai. Xin cảm ơn anh Hải).


Sưu tầm trên mạng: Quảng Trị - Mảnh đất bi hùng - Video Clip.


Bản nhạc bài hát


Nghe hay tải bài hát về máy của bạn




Hit Counter
Khúc tưởng niệm


Tháng bảy với ngày 27...



Trần Bắc Hải = tranbachai – BacHai – BaChai
Nhân Kỷ niệm Ngày Thương binh - Liệt sĩ 27-7 , K6 xin trân trọng giới thiệu với các Anh Chị Em một tác phẩm của anh Trần Bắc Hải – một Bạn Trỗi K5 mà mọi người thường biết đến với bút danh tranbachai – BacHai – BaChai.

Đây là một ca khúc tưởng niệm, mà anh Hải đã sáng tác sau phút giây sởn hết cả gai ốc khi đọc bài thơ “Lời người bên sông” của Nghệ sĩ Nhiếp ảnh, Nhà báo, Cựu chiến binh (Dũng sỹ diệt Mỹ cấp ưu tú) Lê Bá Dương. („Thực sự thì đó là tiếng lòng của một người lính ra đi cùng bạn bè. Ngày đi cùng nhau đầu xanh, háo hức với nhau. Nay mình về, còn bạn bè ở lại hoá thân vào sông núi chiến trường” – Lời tâm sự của anh Dương với anh Hải).


Trích đoạn từ bài “Ký ức màu hoa đỏ...” của tác giả Hà Đình Nguyên (Thanh Niên Online 12:57:00, 26/07/2007):

Xin được nêu thêm một ca khúc tuy chưa phổ biến nhưng có hoàn cảnh ra đời khá ly kỳ và cảm động.
Số là anh Trần Bắc Hải - hiện sống và làm việc tại London (Anh), trong một ngày đầu tháng 5.2007 khi vào mạng internet đã tình cờ đọc được 4 câu thơ của một cựu chiến binh QĐND VN:

"Đò lên Thạch Hãn ơi chèo nhẹ
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm
Có tuổi hai mươi thành sóng nước
Vỗ yên bờ bãi mãi ngàn năm"

("Lời gọi bên sông” - Lê Bá Dương).
4 câu thơ đã làm Trần Bắc Hải "sởn gai ốc" (nguyên văn của anh trên mạng). Anh nhờ các sinh viên Việt Nam đang du học tại Anh tìm được địa chỉ của tác giả bài thơ “Lời gọi bên sông”. Hai người: một ở Việt Nam, một ở Anh nhưng rất gần gũi qua sự đồng cảm và Trần Bắc Hải đã phổ nhạc bài thơ. Do bài thơ chỉ có 4 câu nên khi phổ nhạc được lặp lại hai lần. Đoạn A là solo, đoạn B hát 3 bè. Chưa biết hay hay dở nhưng chắc chắn không chỉ hai đồng tác giả này mới đồng cảm, mà còn có cả bạn và tôi!

Hà Đình Nguyên”


Xin mời các anh chị em vào trang WEB của anh Trần Bắc Hải (và trang WEB của anh LÊ BÁ DƯƠNG) để thưởng thức tác phẩm và xem thêm về sáng tác này.

Và lại một lần nữa xin hãy cùng nhau tưởng nhớ đến các Anh hùng, Liệt sĩ của chúng ta.


(Bài có sử dụng ảnh và tư liệu từ trang WEB tranbachai. Xin cảm ơn anh Hải).


Sưu tầm trên mạng: Quảng Trị - Mảnh đất bi hùng - Video Clip.


Bản nhạc bài hát


Nghe hay tải bài hát về máy của bạn




Hit Counter