Thứ Sáu, 1 tháng 2, 2008

68 - Tác giả bài „Hiệu ca” - Minh Phương, SRTKL2: 271-275



Tác giả bài “Hiệu ca”


MINH PHƯƠNG thực hiện

Thầy Hồng Tuyến

Thầy Hồng Tuyến


“Sinh ra trong khói lửa trường ta đã lớn lên,
Trường đẹp chói ngời tên anh Nguyễn Văn Trỗi...…”

Đó là mở đầu bài “Hiệu ca” đã theo chúng ta, những cựu học sinh trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi (1965-1970), suốt 40 năm qua. Nhớ lại những ngày cả nước cùng đánh Mỹ, anh em ta mới chỉ là những “chú bé loắt choắt”. Vì cha mẹ đang bận chiến đấu ngoài mặt trận và để chuẩn bị cho ngày mai, chúng ta đã được tuyển chọn vào trường. Năm học đầu, trường đóng quân ở vùng rừng núi Việt Bắc. Tại đây, không chỉ được học văn hoá mà chúng ta còn phải rèn luyện như những người lính. Những buổi đào hàng trăm mét hào phòng không quanh doanh trại, những đêm co ro trong tấm áo bông, vai khoác khẩu súng cao vượt đầu đi tuần tra canh gác, bảo vệ đơn vị, những giờ tập đội ngũ “ắc ê” giữa nắng hè, những chiều hành quân xuyên rừng Tam Đảo, những tiết học xạ kích bắn súng CKC, AK ngoài thao trường… đã tạo nên bản lĩnh người lính cách mạng trong mỗi chúng ta. Trong chương trình được học cả thể thao, hội họa và âm nhạc. Tuy chỉ là môn phụ nhưng nhờ được học mà chúng ta có được sức khỏe và có được những cảm xúc, những cái nhìn thẩm mỹ về cuộc sống.

Bạn Chỉnh Huấn còn giữ mãi ấn tượng với thầy giáo Hồng Tuyến. Ngày ở Suối Chì, một buổi sáng tháng 10 năm 1966, giờ đại số, khi cả lớp B1 (Tấn Lợi làm lớp trưởng) đang trật tự nghe giảng thì bỗng nghe một giọng hát vút lên: “Dốc núi cao cao nhưng lòng quyết tâm còn cao hơn núi…”. Lạ lắm, tiếng hát không phải phát từ loa đại đội vì không có nhạc đệm. Cả lớp ngơ ngác nhìn nhau thì thầy Trực nói: “Các em mới có thầy dạy Nhạc vốn là ca sĩ từ Đoàn Văn công Tổng cục về, thầy Hồng Tuyến. Sáng nay, thầy có giờ ở lớp B2”. Nghe đến đây, cả bọn lè lưỡi vì lớp học của B2 nằm ngay dốc đại đội, cách B1 cả trăm mét. Thấy giọng thầy khỏe và vang xa như vậy làm đứa nào cũng mong cho hết giờ để chạy sang B2 xem mặt. Đây là lần đầu tiên, lũ học sinh chúng ta được nghe trực tiếp một ca sĩ có chất giọng ô-pê-ra. Cái chất “hàn lâm” này có phải học sinh trường phổ thông nào trên miền Bắc cũng được tiếp xúc(?), đây là một vinh hạnh cho lính trường Trỗi. Sau này mỗi giờ học của thầy, khi mô phỏng cho phần thanh nhạc, thầy luôn cầm cái “thanh la mẫu” gõ nhẹ đưa lên tai nghe lấy chuẩn, rồi mới hát. Giọng thầy đựơc dày công luyện, có cộng minh, cộng hưởng. Cả bọn phục lăn.

Trong lần họp mặt gần đây, thầy nhớ lại: “Năm học 1966- 1967, vừa chân ướt chân ráo khoác ba-lô lên tới An Mỹ, vào một đêm đầu đông, khoảng 12 giờ, Chính ủy Bùi Khắc Quỳnh đã gọi lên giao nhiệm vụ: “Trường ta đảm nhận nhiệm vụ giáo dục thế hệ kế cận cho quân đội, cần phải có một bài hát truyền thống. Bài hát phải mang nhịp điệu quân hành, hùng mạnh, thể hiện sự ra đời của trường trong khói lửa chiến tranh và sự rèn luyện của các em tiếp bước cha anh. Đây cũng là một nhiệm vụ quan trọng đối với đồng chí”. Thật là khó, vì tuy là trường quân sự nhưng đối tượng lại là những em học sinh mà lớp nhỏ nhất, tuổi mới 12-13. Trong không gian hùng vĩ của núi rừng Việt Bắc - Căn cứ địa cách mạng năm xưa; trong sự tĩnh lặng, sương đêm luồn qua khe cửa làm thầy càng tỉnh táo. Với cảm xúc từ trái tim người giáo viên, thầy hình dung trước mắt những chú bé tí hon, sau năm tháng học tập, rèn luyện dưới mái trường quân đội, sẽ trở thành những người lính chững chạc, nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ Đảng giao. Và những nốt nhạc, những giai điệu dần hiện lên trên trang bản thảo. Viết rồi lại xóa. Cái tứ “Sinh ra trong khói lửa chiến tranh” đã gây một ấn tượng rất mạnh. Đã khuya, sợ đồng nghiệp mất ngủ, thầy chỉ khẽ hát trong miệng. Sau hai đêm miệt mài lao động, thầy xách bản thảo và cây đàn ghi-ta lên Hiệu bộ, báo cáo kết quả. Chính ủy Quỳnh, Hiệu trưởng Tuấn cùng Phòng Chính trị nghe đi nghe lại, bắt giải thích từng đoạn rồi thông qua. Thật là sung sướng! Ngay sau đó, thầy đã tập trung quản ca các lớp lên dạy để kịp phổ biến cho toàn trường…”

Thế là, những chú thiếu sinh quân chúng ta đã có một bài hát truyền thống. Mỗi sáng trước giờ lên lớp với đội ngũ chỉnh tề vừa đi đều vừa hát vang bài “Hiệu ca”. Rồi mỗi tối, trước giờ sinh hoạt báo chí, chúng ta lại cùng nhau vỗ tay hát tập thể: “Sinh ra trong khói lửa…”. Bài ca đã làm chúng ta thêm tự hào về mái trường thân yêu!

Những năm tháng ở trường, qua mỗi đợt hội diễn văn nghệ, thầy đã phát hiện ra chất giọng bẩm sinh của Dương Minh Đức. Ngồi trước đàn pi-a-nô thầy đã gõ những nốt nhạc hướng dẫn Đức luyện những bài thanh nhạc đầu tiên. Sau này, khi tốt nghiệp Đại học quân sự, Minh Đức đã thi vào Nhạc viện Hà Nội và được đặc cách vào học Thanh nhạc hệ đại học không qua trung cấp. Năm 1993, anh được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú và hiện là đại tá, Hiệu phó trường Cao đẳng nghệ thuật quân đội.

Thầy không quên lần đưa học trò về thu thanh ở Đài Tiếng nói Việt Nam: “Khi trường ta về nước, nhân Ngày thành lập quân đội 22 tháng 12 năm 1969, thầy còn được giao nhiệm vụ đưa các em về 28 Quán Sứ thu một chương trình văn nghệ. Từ sáng sớm, thầy, trò cùng nhạc cụ từ Trung Hà lên xe về Hà Nội. Đây là lần đầu tiên, các em được thu thanh ở một phòng thu quốc gia nên em nào cũng hồi hộp, các thầy phải luôn động viên. Trong chương trình thu kéo dài nửa tiếng, hợp ca nam nữ hát bài “Hiệu ca” và “Nghe lời Bác, chúng em thi đua”; riêng em Bích Hà được thu tiết mục đơn ca “Vừ A Dính”… Vì danh dự nhà trường, các em đã dũng cảm biểu diễn một chương trình tuyệt hảo.”

Sau khi trường ta kết thúc nhiệm vụ đào tạo, hè năm 1970, thầy trở về trường Văn hoá nghệ thuật quân đội tiếp tục đào tạo những chiến sĩ trên mặt trận văn hoá. Cùng nhà trường, thầy đã tham gia các buổi biểu diễn phục vụ đơn vị trong suốt những năm tháng chống Mỹ. Sau đó, thầy về Nhạc viện Hà Nội hoàn thành chương trình đại học.

 * * *

 … Cầm trên tay quyết định nghỉ hưu, đại úy Hồng Tuyến về với thành phố biển Vũng Tầu. Dù phải bươn chải với cuộc sống đời thường nhưng thầy không bị mất đi cái “máu văn nghệ”. Đăng ký sinh hoạt xong, thầy tham gia ngay vào việc dàn dựng các tiết mục văn nghệ. Không kể nắng mưa, hễ đã lên lịch tập là có mặt. Với chất giọng khỏe đầy chất lính, thầy đã đóng góp vào thành công của các đợt hội diễn quần chúng. Năm 1995, thầy dẫn đội Văn nghệ Cựu chiến binh Bà Rịa- Vũng Tàu ra Hà Nội biểu diễn. Không chỉ hoạt động trong đội văn nghệ Cựu chiến binh mà các xí nghiệp, nhà trường có phong trào cần dàn dựng là thầy sẵn sàng giúp đỡ. Thầy làm việc hết sức vô tư với trách nhiệm của một người lính.

Sau những giờ phút hoạt động sôi nổi, thời gian tĩnh lặng trong đêm, nghe tiếng sóng biển rì rào cùng những đợt gió mát kèm theo vị mặn chát của biển, là lúc thầy thả hồn sáng tác những ca khúc về người lính từ mặt trận trở về, về những người cao tuổi, về các em thơ, về thầy, về cô, về những dàn khoan thắm tình hữu nghị Việt – Xô… Cầm trên tay tập ca khúc chọn lọc với hàng chục bài của nhạc sĩ Hồng Tuyến trong những năm gần đây, tôi không khỏi cảm phục sức lao động sáng tạo và tình yêu nghệ thuật ở thầy.

Nhân họp mặt của khóa 5 tại thành phố Hồ Chí Minh tổ chức tại Khách sạn Ba Son vào sáng chủ nhật, 23 tháng 12 năm 2001, thầy trò chúng tôi thực sự cảm động vì vừa mới ra viện một thời gian, không quản đường sá xa xôi, thầy vẫn có mặt. Trên nền nhạc organ do Phạm Minh Nghĩa đệm, đứng trên sân khấu, một tay chống ba-toong, một tay cầm micrô, thầy vẫn cất cao giọng cùng chúng tôi hát vang bài “Hiệu ca”:

“...Vinh quang thay trường Nguyễn Văn Trỗi!
Ngời chói tương lai muôn vì sao sáng,
Dưới quân kì tươi mầu chiến thắng
Từng bước ta đi lớn mạnh không ngừng
Lực lượng ta như sóng triều dâng
Trọn đời ta hiến dâng cho Tổ quốc
Tiến lên đoàn thiếu sinh ta quyết chiến thắng!”

Xin cảm ơn thầy - tác giả của bài hát về trường mà chúng em đã hát suốt 40 năm qua!

 

M.P




Tác giả bài “Hiệu ca”


MINH PHƯƠNG thực hiện

Thầy Hồng Tuyến

Thầy Hồng Tuyến


“Sinh ra trong khói lửa trường ta đã lớn lên,
Trường đẹp chói ngời tên anh Nguyễn Văn Trỗi...…”

Đó là mở đầu bài “Hiệu ca” đã theo chúng ta, những cựu học sinh trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi (1965-1970), suốt 40 năm qua. Nhớ lại những ngày cả nước cùng đánh Mỹ, anh em ta mới chỉ là những “chú bé loắt choắt”. Vì cha mẹ đang bận chiến đấu ngoài mặt trận và để chuẩn bị cho ngày mai, chúng ta đã được tuyển chọn vào trường. Năm học đầu, trường đóng quân ở vùng rừng núi Việt Bắc. Tại đây, không chỉ được học văn hoá mà chúng ta còn phải rèn luyện như những người lính. Những buổi đào hàng trăm mét hào phòng không quanh doanh trại, những đêm co ro trong tấm áo bông, vai khoác khẩu súng cao vượt đầu đi tuần tra canh gác, bảo vệ đơn vị, những giờ tập đội ngũ “ắc ê” giữa nắng hè, những chiều hành quân xuyên rừng Tam Đảo, những tiết học xạ kích bắn súng CKC, AK ngoài thao trường… đã tạo nên bản lĩnh người lính cách mạng trong mỗi chúng ta. Trong chương trình được học cả thể thao, hội họa và âm nhạc. Tuy chỉ là môn phụ nhưng nhờ được học mà chúng ta có được sức khỏe và có được những cảm xúc, những cái nhìn thẩm mỹ về cuộc sống.

Bạn Chỉnh Huấn còn giữ mãi ấn tượng với thầy giáo Hồng Tuyến. Ngày ở Suối Chì, một buổi sáng tháng 10 năm 1966, giờ đại số, khi cả lớp B1 (Tấn Lợi làm lớp trưởng) đang trật tự nghe giảng thì bỗng nghe một giọng hát vút lên: “Dốc núi cao cao nhưng lòng quyết tâm còn cao hơn núi…”. Lạ lắm, tiếng hát không phải phát từ loa đại đội vì không có nhạc đệm. Cả lớp ngơ ngác nhìn nhau thì thầy Trực nói: “Các em mới có thầy dạy Nhạc vốn là ca sĩ từ Đoàn Văn công Tổng cục về, thầy Hồng Tuyến. Sáng nay, thầy có giờ ở lớp B2”. Nghe đến đây, cả bọn lè lưỡi vì lớp học của B2 nằm ngay dốc đại đội, cách B1 cả trăm mét. Thấy giọng thầy khỏe và vang xa như vậy làm đứa nào cũng mong cho hết giờ để chạy sang B2 xem mặt. Đây là lần đầu tiên, lũ học sinh chúng ta được nghe trực tiếp một ca sĩ có chất giọng ô-pê-ra. Cái chất “hàn lâm” này có phải học sinh trường phổ thông nào trên miền Bắc cũng được tiếp xúc(?), đây là một vinh hạnh cho lính trường Trỗi. Sau này mỗi giờ học của thầy, khi mô phỏng cho phần thanh nhạc, thầy luôn cầm cái “thanh la mẫu” gõ nhẹ đưa lên tai nghe lấy chuẩn, rồi mới hát. Giọng thầy đựơc dày công luyện, có cộng minh, cộng hưởng. Cả bọn phục lăn.

Trong lần họp mặt gần đây, thầy nhớ lại: “Năm học 1966- 1967, vừa chân ướt chân ráo khoác ba-lô lên tới An Mỹ, vào một đêm đầu đông, khoảng 12 giờ, Chính ủy Bùi Khắc Quỳnh đã gọi lên giao nhiệm vụ: “Trường ta đảm nhận nhiệm vụ giáo dục thế hệ kế cận cho quân đội, cần phải có một bài hát truyền thống. Bài hát phải mang nhịp điệu quân hành, hùng mạnh, thể hiện sự ra đời của trường trong khói lửa chiến tranh và sự rèn luyện của các em tiếp bước cha anh. Đây cũng là một nhiệm vụ quan trọng đối với đồng chí”. Thật là khó, vì tuy là trường quân sự nhưng đối tượng lại là những em học sinh mà lớp nhỏ nhất, tuổi mới 12-13. Trong không gian hùng vĩ của núi rừng Việt Bắc - Căn cứ địa cách mạng năm xưa; trong sự tĩnh lặng, sương đêm luồn qua khe cửa làm thầy càng tỉnh táo. Với cảm xúc từ trái tim người giáo viên, thầy hình dung trước mắt những chú bé tí hon, sau năm tháng học tập, rèn luyện dưới mái trường quân đội, sẽ trở thành những người lính chững chạc, nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ Đảng giao. Và những nốt nhạc, những giai điệu dần hiện lên trên trang bản thảo. Viết rồi lại xóa. Cái tứ “Sinh ra trong khói lửa chiến tranh” đã gây một ấn tượng rất mạnh. Đã khuya, sợ đồng nghiệp mất ngủ, thầy chỉ khẽ hát trong miệng. Sau hai đêm miệt mài lao động, thầy xách bản thảo và cây đàn ghi-ta lên Hiệu bộ, báo cáo kết quả. Chính ủy Quỳnh, Hiệu trưởng Tuấn cùng Phòng Chính trị nghe đi nghe lại, bắt giải thích từng đoạn rồi thông qua. Thật là sung sướng! Ngay sau đó, thầy đã tập trung quản ca các lớp lên dạy để kịp phổ biến cho toàn trường…”

Thế là, những chú thiếu sinh quân chúng ta đã có một bài hát truyền thống. Mỗi sáng trước giờ lên lớp với đội ngũ chỉnh tề vừa đi đều vừa hát vang bài “Hiệu ca”. Rồi mỗi tối, trước giờ sinh hoạt báo chí, chúng ta lại cùng nhau vỗ tay hát tập thể: “Sinh ra trong khói lửa…”. Bài ca đã làm chúng ta thêm tự hào về mái trường thân yêu!

Những năm tháng ở trường, qua mỗi đợt hội diễn văn nghệ, thầy đã phát hiện ra chất giọng bẩm sinh của Dương Minh Đức. Ngồi trước đàn pi-a-nô thầy đã gõ những nốt nhạc hướng dẫn Đức luyện những bài thanh nhạc đầu tiên. Sau này, khi tốt nghiệp Đại học quân sự, Minh Đức đã thi vào Nhạc viện Hà Nội và được đặc cách vào học Thanh nhạc hệ đại học không qua trung cấp. Năm 1993, anh được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú và hiện là đại tá, Hiệu phó trường Cao đẳng nghệ thuật quân đội.

Thầy không quên lần đưa học trò về thu thanh ở Đài Tiếng nói Việt Nam: “Khi trường ta về nước, nhân Ngày thành lập quân đội 22 tháng 12 năm 1969, thầy còn được giao nhiệm vụ đưa các em về 28 Quán Sứ thu một chương trình văn nghệ. Từ sáng sớm, thầy, trò cùng nhạc cụ từ Trung Hà lên xe về Hà Nội. Đây là lần đầu tiên, các em được thu thanh ở một phòng thu quốc gia nên em nào cũng hồi hộp, các thầy phải luôn động viên. Trong chương trình thu kéo dài nửa tiếng, hợp ca nam nữ hát bài “Hiệu ca” và “Nghe lời Bác, chúng em thi đua”; riêng em Bích Hà được thu tiết mục đơn ca “Vừ A Dính”… Vì danh dự nhà trường, các em đã dũng cảm biểu diễn một chương trình tuyệt hảo.”

Sau khi trường ta kết thúc nhiệm vụ đào tạo, hè năm 1970, thầy trở về trường Văn hoá nghệ thuật quân đội tiếp tục đào tạo những chiến sĩ trên mặt trận văn hoá. Cùng nhà trường, thầy đã tham gia các buổi biểu diễn phục vụ đơn vị trong suốt những năm tháng chống Mỹ. Sau đó, thầy về Nhạc viện Hà Nội hoàn thành chương trình đại học.

 * * *

 … Cầm trên tay quyết định nghỉ hưu, đại úy Hồng Tuyến về với thành phố biển Vũng Tầu. Dù phải bươn chải với cuộc sống đời thường nhưng thầy không bị mất đi cái “máu văn nghệ”. Đăng ký sinh hoạt xong, thầy tham gia ngay vào việc dàn dựng các tiết mục văn nghệ. Không kể nắng mưa, hễ đã lên lịch tập là có mặt. Với chất giọng khỏe đầy chất lính, thầy đã đóng góp vào thành công của các đợt hội diễn quần chúng. Năm 1995, thầy dẫn đội Văn nghệ Cựu chiến binh Bà Rịa- Vũng Tàu ra Hà Nội biểu diễn. Không chỉ hoạt động trong đội văn nghệ Cựu chiến binh mà các xí nghiệp, nhà trường có phong trào cần dàn dựng là thầy sẵn sàng giúp đỡ. Thầy làm việc hết sức vô tư với trách nhiệm của một người lính.

Sau những giờ phút hoạt động sôi nổi, thời gian tĩnh lặng trong đêm, nghe tiếng sóng biển rì rào cùng những đợt gió mát kèm theo vị mặn chát của biển, là lúc thầy thả hồn sáng tác những ca khúc về người lính từ mặt trận trở về, về những người cao tuổi, về các em thơ, về thầy, về cô, về những dàn khoan thắm tình hữu nghị Việt – Xô… Cầm trên tay tập ca khúc chọn lọc với hàng chục bài của nhạc sĩ Hồng Tuyến trong những năm gần đây, tôi không khỏi cảm phục sức lao động sáng tạo và tình yêu nghệ thuật ở thầy.

Nhân họp mặt của khóa 5 tại thành phố Hồ Chí Minh tổ chức tại Khách sạn Ba Son vào sáng chủ nhật, 23 tháng 12 năm 2001, thầy trò chúng tôi thực sự cảm động vì vừa mới ra viện một thời gian, không quản đường sá xa xôi, thầy vẫn có mặt. Trên nền nhạc organ do Phạm Minh Nghĩa đệm, đứng trên sân khấu, một tay chống ba-toong, một tay cầm micrô, thầy vẫn cất cao giọng cùng chúng tôi hát vang bài “Hiệu ca”:

“...Vinh quang thay trường Nguyễn Văn Trỗi!
Ngời chói tương lai muôn vì sao sáng,
Dưới quân kì tươi mầu chiến thắng
Từng bước ta đi lớn mạnh không ngừng
Lực lượng ta như sóng triều dâng
Trọn đời ta hiến dâng cho Tổ quốc
Tiến lên đoàn thiếu sinh ta quyết chiến thắng!”

Xin cảm ơn thầy - tác giả của bài hát về trường mà chúng em đã hát suốt 40 năm qua!

 

M.P


69 - Hiệu ca Trường thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi - Hồng Tuyến, SRTKL2: 276

 
Hiệu ca trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi
 
Hiệu ca trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi

72 - Thầy dạy vẽ - Nguyễn Hoàng Anh K6, SRTKL2: 284-285



Thầy dạy vẽ

Nhớ về một người thầy
mà tôi luôn ngưỡng mộ và kính trọng!



HOÀNG ANH
Học sinh khóa 6

Năm 1965, lần đầu tiên, chúng tôi được học vẽ bởi một ông thầy Họa hẳn hoi. Khác với tưởng tượng của tôi khi chưa gặp, bề ngoài của thầy có tướng dữ dữ giống Từ Hải: “râu hùm, hàm én, mày ngài”! Nhưng thực ra thầy lại cực hiền. Những điều chúng tôi học được ở thầy không chỉ là những đường cong, nét thẳng, cách bố cục, những mảng mầu ấn tượng mà còn là những kiến thức Hội họa của thời kì Phục Hưng ở châu Âu, hay những xuất xứ của những trường phái lập thể, trừu tượng… Rồi cách vẽ bức tranh sao cho có hồn.

Thầy Phạm Lực trước ngày xa Phong Khẩu về nước, hè 1968Thầy Phạm Lực trước ngày xa Phong Khẩu về nước, hè 1968

Có một điều nữa không phải ai cũng biết, tôi còn được thầy Lực dạy riêng cho một… bài hát (không biết có phải là sáng tác của thầy hay không). Cho đến bây giờ, tôi vẫn nhớ, vẫn hát và có thể ghi lại cho các bạn bài “Chú Tây” của thầy.

Chú Tây, chú muốn vô đây chơi
Làng tôi rào kín, chú vô đường nào?
Í hò dô ta, ta đào ta rào
Í dô đào hào giao thông,
Í dô đào hào giao thông (đào hào giao thông)
Mặc tàu bay chú cứ bắn đùng đùng
Dân bầy tôi xuống hầm, chú bắn người mô?
Chú mà đổ bộ, chú vô
Dân bầy tôi quyết đánh, quyết chẳng cho chú vào
Làng tôi nay đã kín rào,
Làng tôi nay đã có hào giao thông.

Hơn 35 năm xa thầy, xa mái trường thân yêu, dù khi còn phục vụ trong quân đội hay lúc đã chuyển ngành, tôi vẫn phát huy được cái vốn “hoa tay của dân Trỗi” quý giá mà thầy đã truyền cho như một nghề tay trái. Tài năng cũng rất đắc dụng trong công tác tuyên truyền, các cuộc thi báo tường của đơn vị, thậm chí còn được mời đi trang trí đám cưới cho anh chị em cơ quan.

Được sống gần gũi một thời gian và được sự chỉ bảo ân cần của thầy Lực, tôi tưởng đã hiểu hết các tài năng của thầy. Thế mà có lần khi xem một bộ phim truyện truyền hình chiều chủ nhật, tôi thấy thầy trong vai một họa sĩ. Tôi bàng hoàng thét lên như con trẻ: “Ôi trời, thầy Lực!”. Hóa ra, thầy còn là một tài tử Cinéma!

 

H.A

 



Thầy dạy vẽ

Nhớ về một người thầy
mà tôi luôn ngưỡng mộ và kính trọng!



HOÀNG ANH
Học sinh khóa 6

Năm 1965, lần đầu tiên, chúng tôi được học vẽ bởi một ông thầy Họa hẳn hoi. Khác với tưởng tượng của tôi khi chưa gặp, bề ngoài của thầy có tướng dữ dữ giống Từ Hải: “râu hùm, hàm én, mày ngài”! Nhưng thực ra thầy lại cực hiền. Những điều chúng tôi học được ở thầy không chỉ là những đường cong, nét thẳng, cách bố cục, những mảng mầu ấn tượng mà còn là những kiến thức Hội họa của thời kì Phục Hưng ở châu Âu, hay những xuất xứ của những trường phái lập thể, trừu tượng… Rồi cách vẽ bức tranh sao cho có hồn.

Thầy Phạm Lực trước ngày xa Phong Khẩu về nước, hè 1968Thầy Phạm Lực trước ngày xa Phong Khẩu về nước, hè 1968

Có một điều nữa không phải ai cũng biết, tôi còn được thầy Lực dạy riêng cho một… bài hát (không biết có phải là sáng tác của thầy hay không). Cho đến bây giờ, tôi vẫn nhớ, vẫn hát và có thể ghi lại cho các bạn bài “Chú Tây” của thầy.

Chú Tây, chú muốn vô đây chơi
Làng tôi rào kín, chú vô đường nào?
Í hò dô ta, ta đào ta rào
Í dô đào hào giao thông,
Í dô đào hào giao thông (đào hào giao thông)
Mặc tàu bay chú cứ bắn đùng đùng
Dân bầy tôi xuống hầm, chú bắn người mô?
Chú mà đổ bộ, chú vô
Dân bầy tôi quyết đánh, quyết chẳng cho chú vào
Làng tôi nay đã kín rào,
Làng tôi nay đã có hào giao thông.

Hơn 35 năm xa thầy, xa mái trường thân yêu, dù khi còn phục vụ trong quân đội hay lúc đã chuyển ngành, tôi vẫn phát huy được cái vốn “hoa tay của dân Trỗi” quý giá mà thầy đã truyền cho như một nghề tay trái. Tài năng cũng rất đắc dụng trong công tác tuyên truyền, các cuộc thi báo tường của đơn vị, thậm chí còn được mời đi trang trí đám cưới cho anh chị em cơ quan.

Được sống gần gũi một thời gian và được sự chỉ bảo ân cần của thầy Lực, tôi tưởng đã hiểu hết các tài năng của thầy. Thế mà có lần khi xem một bộ phim truyện truyền hình chiều chủ nhật, tôi thấy thầy trong vai một họa sĩ. Tôi bàng hoàng thét lên như con trẻ: “Ôi trời, thầy Lực!”. Hóa ra, thầy còn là một tài tử Cinéma!

 

H.A

 

79 - Vì sao tôi có biệt danh "Trọc"? - Nguyễn Đức Cảnh K6, SRTKL2: 315-317



refont.com - Glitter textì sao tôi có biệt danh “Trọc”?


NGUYỄN ĐỨC CẢNH *
Học sinh khóa 6

Đầu năm 1961, ba tôi đi “B”, đến năm 1964 thì ông hy sinh. Gia đình chỉ còn lại mấy má con. Ngày 5 tháng 8 năm 1964, bắt đầu chiến tranh phá hoại trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Năm 1965, anh em tôi sơ tán cùng má về Đông Triều theo trường Học sinh miền Nam. Hè năm ấy, các chú cho gọi tôi lên trường Văn hóa quân đội.
Từ Trại Hòe (Hà Bắc), trường ta hành quân về Đại Từ (Thái Nguyên). Ngày đó, còn bé tí mới 12-13 tuổi. Ở trường, các thầy giáo không chỉ là người thầy dạy học mà còn là người mẹ chăm sóc chúng tôi từ miếng ăn, giấc ngủ, lo thuốc lo thang khi ốm lúc đau. Ngoài sự chăm lo của các thầy thì chúng tôi cũng “tự chăm lo” cho nhau. Nghe đến đây, chắc hẳn ai cũng phải bật cười và khó có thể tưởng tuợng nổi. Nhưng sự thực là vậy!
Bạn nào ốm không đi ăn cơm được là tiểu đội phân công người xuống bếp mang cháo về. Nếu phải nằm liệt giường thì được bạn bón từng thìa cháo. (Mà mỗi lần được ăn cháo thịt thì quả là một hạnh phúc! Vì cơm bữa nào cũng độn ngô, độn sắn). Tối đi ngủ có bạn mắc màn hộ, quần áo thay ra có bạn mang xuống suối giặt giúp. Chưa kể các bài học phải nghỉ luôn được các bạn phân công chép lại đầy đủ. Đi rừng kiếm củi, nếu nặng quá thì bạn khỏe khiêng hộ bạn yếu. Chúng tôi đã giúp đỡ nhau một cách vô tư, lần hồi như vậy.
Đến cả chuyện cắt tóc, cắt tai mỗi lần quá lứa thì đều được thầy, được bạn giúp đỡ. Hết giờ học, xin mời tự giác mang ghế đẩu ra đầu nhà, choàng áo mưa lên mình và ngồi xuống! Có thầy – thợ chuyên nghiệp – thì có đầu đẹp như cắt ngoài hiệu. Vắng thầy thì đã có “thợ không chuyên”, đó chính là anh em chúng tôi. Vì mỗi lớp được trang bị một bộ tông-đơ, kéo, lược, gương nhưng không có dao cạo (vì trẻ con thì làm gì có ria mà cạo). Mà chẳng hiểu sao đứa nào cũng sẵn sàng thí đầu mình cho các bạn thử nghiệm. (Chắc là vì sống trong môi trường toàn con trai – lúc đó chưa có đại đội nữ C11 - nên đứa nào cũng bị “liệt” mất dây thần kinh xấu hổ!).
Lần đó tóc đã quá dài, ngứa ngáy khó chịu. Vì tóc quá rậm nên gầu rụng trắng cả cổ áo. Trong giờ tự tu buổi chiều, tôi đăng kí “lên thớt”. Hết giờ, anh em hí hửng mang đồ nghề ra vui như được đi ăn đại tiệc! Xung quanh “nạn nhân” là một lũ thợ, đứa thì cầm kéo, cầm lược, đứa cầm tông-đơ. Tôi ra điều kiện:
- Đứa nào biết kiểu “móng lừa” mời được cắt?
- Quá dễ. Tao cắt được. Tao cắt được… Nghe cả bọn nhâu nhâu, tôi đâm lo, vội chỉ định Vi Dân. Hắn nói:
- Không cần tông-đơ, chỉ cần kéo tao cũng làm đẹp cho mày.
Nghe tiếng đánh kéo lách cách ra dáng chuyên nghiệp, tôi liền gật đầu. Dân lấy lược chải cái đầu bù xù của tôi rồi đưa ngang kéo dọn từng lọn tóc dài xung quanh. Chả hiểu tài năng của cậu ra sao mà liếc vào cái gương cầm tay, tôi thấy đầu mình bị cắt từng lớp từng lớp như mái rạ lợp nhà bếp. Vừa đề nghị đổi thợ thì Chiến “ví” nhanh tay cầm tông-đơ ủi một đường thẳng từ gáy lên đến tận ót. Cậu dũi “tông” không đều tay, giật đau như đang bị nhổ từng đám tóc lên. Tôi kêu oai oái. Mặt đỏ lựng. Vừa hết “đường cày” cả bọn cười hô hố chê bai. Chiến “ví” được thể chạy ngay ra bờ suối.
Thế rồi, hết thằng này đến thằng khác, lúc cầm “tông”, lúc cầm kéo, cái đầu “đang ngon lành” của tôi bỗng trở thành vật thí nghiệm cho cả bọn. Đang hy vọng có kiểu đầu “I-a-cốp móng lừa” thì cả cái đầu trở nên nham nhở, mấp mô, chỗ trắng chỗ đen. Không thể hiểu lúc bấy giờ nên gọi tóc tôi là cái kiểu gì! Thầy Cừ đi đâu về thấy vậy liền trách:
- Chưa biết cắt thì phải học. Làm thế này thì “nát” hết đầu bạn. Thôi để thầy sửa cho!
Vì tóc đã bị cắt đi thì làm sao có thể “trồng” lại được như cũ để mà chữa. Thầy Cừ nhẹ nhàng ủi tông-đơ dọn sạch từng vết cắt nham nhở cho trắng đều. Cái đầu tôi trở nên trọc lốc. Từ ngày đó, bạn bè Trỗi gọi tôi là Cảnh “trọc”!
Nhưng… có một điều hay hơn nữa, cứ như vậy, bọn tôi đứa nào cũng tập làm thợ, đứa nào cũng lấy đầu của mình cho các bạn “thực tập”, và sau chừng ấy năm, đứa nào cũng biết cắt tóc. Quả, đời cũng là một trường học lớn!

Kỷ niệm nhắc lại sau 40 năm

Thành phố Hồ Chí Minh, 19-7-2003
N.Đ.C



* Chuyên viên Sở Lao động-Thương binh-Xã hội tỉnh Bình Định. Hiện sống với gia đình ở Quy Nhơn.




refont.com - Glitter textì sao tôi có biệt danh “Trọc”?


NGUYỄN ĐỨC CẢNH *
Học sinh khóa 6

Đầu năm 1961, ba tôi đi “B”, đến năm 1964 thì ông hy sinh. Gia đình chỉ còn lại mấy má con. Ngày 5 tháng 8 năm 1964, bắt đầu chiến tranh phá hoại trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Năm 1965, anh em tôi sơ tán cùng má về Đông Triều theo trường Học sinh miền Nam. Hè năm ấy, các chú cho gọi tôi lên trường Văn hóa quân đội.
Từ Trại Hòe (Hà Bắc), trường ta hành quân về Đại Từ (Thái Nguyên). Ngày đó, còn bé tí mới 12-13 tuổi. Ở trường, các thầy giáo không chỉ là người thầy dạy học mà còn là người mẹ chăm sóc chúng tôi từ miếng ăn, giấc ngủ, lo thuốc lo thang khi ốm lúc đau. Ngoài sự chăm lo của các thầy thì chúng tôi cũng “tự chăm lo” cho nhau. Nghe đến đây, chắc hẳn ai cũng phải bật cười và khó có thể tưởng tuợng nổi. Nhưng sự thực là vậy!
Bạn nào ốm không đi ăn cơm được là tiểu đội phân công người xuống bếp mang cháo về. Nếu phải nằm liệt giường thì được bạn bón từng thìa cháo. (Mà mỗi lần được ăn cháo thịt thì quả là một hạnh phúc! Vì cơm bữa nào cũng độn ngô, độn sắn). Tối đi ngủ có bạn mắc màn hộ, quần áo thay ra có bạn mang xuống suối giặt giúp. Chưa kể các bài học phải nghỉ luôn được các bạn phân công chép lại đầy đủ. Đi rừng kiếm củi, nếu nặng quá thì bạn khỏe khiêng hộ bạn yếu. Chúng tôi đã giúp đỡ nhau một cách vô tư, lần hồi như vậy.
Đến cả chuyện cắt tóc, cắt tai mỗi lần quá lứa thì đều được thầy, được bạn giúp đỡ. Hết giờ học, xin mời tự giác mang ghế đẩu ra đầu nhà, choàng áo mưa lên mình và ngồi xuống! Có thầy – thợ chuyên nghiệp – thì có đầu đẹp như cắt ngoài hiệu. Vắng thầy thì đã có “thợ không chuyên”, đó chính là anh em chúng tôi. Vì mỗi lớp được trang bị một bộ tông-đơ, kéo, lược, gương nhưng không có dao cạo (vì trẻ con thì làm gì có ria mà cạo). Mà chẳng hiểu sao đứa nào cũng sẵn sàng thí đầu mình cho các bạn thử nghiệm. (Chắc là vì sống trong môi trường toàn con trai – lúc đó chưa có đại đội nữ C11 - nên đứa nào cũng bị “liệt” mất dây thần kinh xấu hổ!).
Lần đó tóc đã quá dài, ngứa ngáy khó chịu. Vì tóc quá rậm nên gầu rụng trắng cả cổ áo. Trong giờ tự tu buổi chiều, tôi đăng kí “lên thớt”. Hết giờ, anh em hí hửng mang đồ nghề ra vui như được đi ăn đại tiệc! Xung quanh “nạn nhân” là một lũ thợ, đứa thì cầm kéo, cầm lược, đứa cầm tông-đơ. Tôi ra điều kiện:
- Đứa nào biết kiểu “móng lừa” mời được cắt?
- Quá dễ. Tao cắt được. Tao cắt được… Nghe cả bọn nhâu nhâu, tôi đâm lo, vội chỉ định Vi Dân. Hắn nói:
- Không cần tông-đơ, chỉ cần kéo tao cũng làm đẹp cho mày.
Nghe tiếng đánh kéo lách cách ra dáng chuyên nghiệp, tôi liền gật đầu. Dân lấy lược chải cái đầu bù xù của tôi rồi đưa ngang kéo dọn từng lọn tóc dài xung quanh. Chả hiểu tài năng của cậu ra sao mà liếc vào cái gương cầm tay, tôi thấy đầu mình bị cắt từng lớp từng lớp như mái rạ lợp nhà bếp. Vừa đề nghị đổi thợ thì Chiến “ví” nhanh tay cầm tông-đơ ủi một đường thẳng từ gáy lên đến tận ót. Cậu dũi “tông” không đều tay, giật đau như đang bị nhổ từng đám tóc lên. Tôi kêu oai oái. Mặt đỏ lựng. Vừa hết “đường cày” cả bọn cười hô hố chê bai. Chiến “ví” được thể chạy ngay ra bờ suối.
Thế rồi, hết thằng này đến thằng khác, lúc cầm “tông”, lúc cầm kéo, cái đầu “đang ngon lành” của tôi bỗng trở thành vật thí nghiệm cho cả bọn. Đang hy vọng có kiểu đầu “I-a-cốp móng lừa” thì cả cái đầu trở nên nham nhở, mấp mô, chỗ trắng chỗ đen. Không thể hiểu lúc bấy giờ nên gọi tóc tôi là cái kiểu gì! Thầy Cừ đi đâu về thấy vậy liền trách:
- Chưa biết cắt thì phải học. Làm thế này thì “nát” hết đầu bạn. Thôi để thầy sửa cho!
Vì tóc đã bị cắt đi thì làm sao có thể “trồng” lại được như cũ để mà chữa. Thầy Cừ nhẹ nhàng ủi tông-đơ dọn sạch từng vết cắt nham nhở cho trắng đều. Cái đầu tôi trở nên trọc lốc. Từ ngày đó, bạn bè Trỗi gọi tôi là Cảnh “trọc”!
Nhưng… có một điều hay hơn nữa, cứ như vậy, bọn tôi đứa nào cũng tập làm thợ, đứa nào cũng lấy đầu của mình cho các bạn “thực tập”, và sau chừng ấy năm, đứa nào cũng biết cắt tóc. Quả, đời cũng là một trường học lớn!

Kỷ niệm nhắc lại sau 40 năm

Thành phố Hồ Chí Minh, 19-7-2003
N.Đ.C



* Chuyên viên Sở Lao động-Thương binh-Xã hội tỉnh Bình Định. Hiện sống với gia đình ở Quy Nhơn.


129 - Những bài học khó quên... - Nguyễn Hoàng Anh K6, SRTKL2: 500-503



Những bài học khó quên...


NGUYỄN HOÀNG ANH
Học sinh khóa 6


CÁI GIẾNG

refont.com - Glitter textồi mới lên Đại Từ, đại đội tôi đóng ngay dưới chân một đồi chè. Để lấy nước ăn cho đơn vị, phải đi rất xa; tiểu đoàn cấp tốc cho đào giếng ngay cạnh bếp. Khi thợ đào giếng, tuy chẳng phải việc của mình nhưng lũ trẻ bọn tôi vẫn thích ra nghiêng ngó, xem đến khi nào thì có nước. Cái giếng đã sâu tới 7-8m mà vẫn chưa gặp mạch.

Trưa hôm ấy, sắp tới giờ cơm, cả bọn nghe tin sét đánh: Vi Dân bị ngã xuống giếng! Thầy, cô thì lo cuống cuồng đưa ngay Dân đi cấp cứu, mặt khác, lại phải lo đừng cho em nào “té giếng” nữa… vv và vv…

Riêng tôi, tự rút ra bài học: Trẻ con hãy cẩn thận khi ra giếng!


THÊM CHO CÁC CHÚ MỘT QUẢ

Ngày ở Trung Hà, cứ mỗi buổi chiều sau bữa cơm, tôi hay cùng mấy đứa bạn thân - Nam Điện, Huy Thanh, Ngọc Sơn… đi dạo trên con đường chạy quanh trường. Tiết trời mát mẻ, nắng chiều sắp tắt còn hắt lên những chùm phượng vĩ đỏ rực, trông thật đẹp. Lũ ve sầu đón khách bộ hành bằng khúc nhạc rừng không biết mệt. Đi mãi cũng mỏi chân, gặp một quán nước ven đường, cả bọn rủ nhau vào mua chuối. Bà chủ quán trông mặt khó đăm đăm. Ngọc Sơn mau mắn vào trước chuyện trò hỏi han. Chả hiểu cậu ta trình bày những gì mà thấy bà chủ quán bật cười:

- Ừ, thì thêm cho các chú một quả!

Được nải chuối to lại thêm những một quả, cả bọn hí hửng xách ra bãi cỏ “trái thù trái tạc”. Chẳng mấy chốc đã hết veo cả nải.

Nghiệm lại thấy lời Bác dạy thật chí lí: Biết dân vận tốt thì việc khó mấy cũng xong!


CHỈ TRONG CUỘC MỚI BIẾT

Chẳng nhớ vì sao mà bữa ấy tụi tôi lại đi ăn muộn. Lý do thì nhiều, nào là đi tăng gia, nào tập văn nghệ, chơi xà, đá bóng… Đến khi xuống tới nhà ăn thì cơm đã bị dọn sạch, đành mò ra sau bếp tìm xem còn gì nhét vào bụng. Thật may mắn, vẫn còn một xoong cơm với đĩa thức ăn bỏ dở. Có cậu lại kiếm được cả một muôi mỡ (mỡ mà trộn với ít muối có thêm tí mì chính thì ngon tuyệt!). Riêng T. là thằng cuối cùng chẳng biết mò đâu ra cả một chậu canh. Dưới ánh trăng lúc tỏ, lúc mờ, cả lũ đói mèm, ăn nghiến ngấu, xì xụp chan húp… Một đứa khẽ ngoáy đũa tìm rau, vừa nhấc lên khỏi chậu canh đưa vào miệng… thì eo ôi, khiếp… một mảnh giẻ lau bàn đen thui, đang rỏ nước tong tỏng…

Cả bọn rùng mình, khạc nhổ nhưng nôn ọe hoài mà món canh quý hóa chẳng ra cho. Nó đã trôi tuột xuống ruột non, ruột già mất rồi!… Đúng là, chỉ những người trong cuộc mới biết!

(Riêng tôi xin hứa sẽ đãi những ai đã cùng ăn bữa tối hôm đó một bữa thịt chó ra trò, có kèm theo quà đặc biệt. Dĩ nhiên là hơn “nhất phong bì, nhì quản bút” của đơn vị ta ngày đó!).


GIỜ DÃ NGOẠI

Hồi ở trường Y Trung (Quế Lâm), chúng tôi thường được tổ chức dã ngoại. Có lần cả lớp được tập trung ra một bãi cỏ xem thầy Khóat, dạy Hóa, làm thí nghiệm. Lúc thì thầy bỏ vật này vào chai nước kia thấy một làn khói hồng bốc lên, khi thì lọ nước đang trong suốt bỗng hóa màu tím. Thật kỳ diệu! Mấy đứa bọn tôi cứ há hốc miệng xem.

- Và đây nữa… (thầy nói rồi thọc tay vào túi… từ túi khói bỗng bốc ra nghi ngút)… Cháy, cháy (thầy thất thanh la lên)…

Còn lũ ngố chúng tôi thì vẫn vỗ tay liên tục và nghĩ rằng thầy đang biểu diễn.


BẠN TÔI - LÊ QUỐC BÌNH

Trong đám bạn học, Bình là người để lại cho tôi nhiều ấn tượng. Ngày mới về lớp, với vóc dáng gầy gầy, nước da mai mái cùng với cách nói chuyện và dùng từ của cậu học sinh Sài Gòn làm lũ bạn phải trố cả mắt, lăn bò ra mà cười.

Tôi nhớ mãi, có lần thầy Lã Khắc Tiệp (dạy Toán) gọi Bình lên kiểm tra:

- Em hãy định nghĩa hình bình hành?

Bình ngẩn người một lúc rồi ê a: “Dạ thưa thầy, hình bình hành là hình chữ nhật… hình chữ nhật bị… bị xô méo ạ!”. Nghe cậu định nghĩa, cả bọn nằm bò ra bàn chết sặc vì cười.

Lần khác, thầy Tô Ngọc Cừ (dạy Sử) gọi đến tên cậu. Thầy từ tốn ra câu hỏi:

- Thế nào là ngành khảo cổ học?

Bình quay lại lườm bọn tôi một cái rồi đằng hắng trả lời: “Dạ thưa thầy, khảo cổ học là… là… khoa học búa rìu ạ!”. Thế là cả lớp lại được một phen như cái chợ vỡ…

Tuy vậy, sống với nhau khá lâu, anh em rất quý Bình vì lối sống chân thực, không bao giờ giả dối với bạn bè. Đến giờ, mỗi lần nghĩ đến Bình thì tôi lại nhớ tới giọng hát ồ ồ của hắn: “Quẳn... Bìn quê ta, chiều nay có đứa con xa nhớ bầm…”. Tự nhiên thấy thương hắn quá!


N.H.A




Những bài học khó quên...


NGUYỄN HOÀNG ANH
Học sinh khóa 6


CÁI GIẾNG

refont.com - Glitter textồi mới lên Đại Từ, đại đội tôi đóng ngay dưới chân một đồi chè. Để lấy nước ăn cho đơn vị, phải đi rất xa; tiểu đoàn cấp tốc cho đào giếng ngay cạnh bếp. Khi thợ đào giếng, tuy chẳng phải việc của mình nhưng lũ trẻ bọn tôi vẫn thích ra nghiêng ngó, xem đến khi nào thì có nước. Cái giếng đã sâu tới 7-8m mà vẫn chưa gặp mạch.

Trưa hôm ấy, sắp tới giờ cơm, cả bọn nghe tin sét đánh: Vi Dân bị ngã xuống giếng! Thầy, cô thì lo cuống cuồng đưa ngay Dân đi cấp cứu, mặt khác, lại phải lo đừng cho em nào “té giếng” nữa… vv và vv…

Riêng tôi, tự rút ra bài học: Trẻ con hãy cẩn thận khi ra giếng!


THÊM CHO CÁC CHÚ MỘT QUẢ

Ngày ở Trung Hà, cứ mỗi buổi chiều sau bữa cơm, tôi hay cùng mấy đứa bạn thân - Nam Điện, Huy Thanh, Ngọc Sơn… đi dạo trên con đường chạy quanh trường. Tiết trời mát mẻ, nắng chiều sắp tắt còn hắt lên những chùm phượng vĩ đỏ rực, trông thật đẹp. Lũ ve sầu đón khách bộ hành bằng khúc nhạc rừng không biết mệt. Đi mãi cũng mỏi chân, gặp một quán nước ven đường, cả bọn rủ nhau vào mua chuối. Bà chủ quán trông mặt khó đăm đăm. Ngọc Sơn mau mắn vào trước chuyện trò hỏi han. Chả hiểu cậu ta trình bày những gì mà thấy bà chủ quán bật cười:

- Ừ, thì thêm cho các chú một quả!

Được nải chuối to lại thêm những một quả, cả bọn hí hửng xách ra bãi cỏ “trái thù trái tạc”. Chẳng mấy chốc đã hết veo cả nải.

Nghiệm lại thấy lời Bác dạy thật chí lí: Biết dân vận tốt thì việc khó mấy cũng xong!


CHỈ TRONG CUỘC MỚI BIẾT

Chẳng nhớ vì sao mà bữa ấy tụi tôi lại đi ăn muộn. Lý do thì nhiều, nào là đi tăng gia, nào tập văn nghệ, chơi xà, đá bóng… Đến khi xuống tới nhà ăn thì cơm đã bị dọn sạch, đành mò ra sau bếp tìm xem còn gì nhét vào bụng. Thật may mắn, vẫn còn một xoong cơm với đĩa thức ăn bỏ dở. Có cậu lại kiếm được cả một muôi mỡ (mỡ mà trộn với ít muối có thêm tí mì chính thì ngon tuyệt!). Riêng T. là thằng cuối cùng chẳng biết mò đâu ra cả một chậu canh. Dưới ánh trăng lúc tỏ, lúc mờ, cả lũ đói mèm, ăn nghiến ngấu, xì xụp chan húp… Một đứa khẽ ngoáy đũa tìm rau, vừa nhấc lên khỏi chậu canh đưa vào miệng… thì eo ôi, khiếp… một mảnh giẻ lau bàn đen thui, đang rỏ nước tong tỏng…

Cả bọn rùng mình, khạc nhổ nhưng nôn ọe hoài mà món canh quý hóa chẳng ra cho. Nó đã trôi tuột xuống ruột non, ruột già mất rồi!… Đúng là, chỉ những người trong cuộc mới biết!

(Riêng tôi xin hứa sẽ đãi những ai đã cùng ăn bữa tối hôm đó một bữa thịt chó ra trò, có kèm theo quà đặc biệt. Dĩ nhiên là hơn “nhất phong bì, nhì quản bút” của đơn vị ta ngày đó!).


GIỜ DÃ NGOẠI

Hồi ở trường Y Trung (Quế Lâm), chúng tôi thường được tổ chức dã ngoại. Có lần cả lớp được tập trung ra một bãi cỏ xem thầy Khóat, dạy Hóa, làm thí nghiệm. Lúc thì thầy bỏ vật này vào chai nước kia thấy một làn khói hồng bốc lên, khi thì lọ nước đang trong suốt bỗng hóa màu tím. Thật kỳ diệu! Mấy đứa bọn tôi cứ há hốc miệng xem.

- Và đây nữa… (thầy nói rồi thọc tay vào túi… từ túi khói bỗng bốc ra nghi ngút)… Cháy, cháy (thầy thất thanh la lên)…

Còn lũ ngố chúng tôi thì vẫn vỗ tay liên tục và nghĩ rằng thầy đang biểu diễn.


BẠN TÔI - LÊ QUỐC BÌNH

Trong đám bạn học, Bình là người để lại cho tôi nhiều ấn tượng. Ngày mới về lớp, với vóc dáng gầy gầy, nước da mai mái cùng với cách nói chuyện và dùng từ của cậu học sinh Sài Gòn làm lũ bạn phải trố cả mắt, lăn bò ra mà cười.

Tôi nhớ mãi, có lần thầy Lã Khắc Tiệp (dạy Toán) gọi Bình lên kiểm tra:

- Em hãy định nghĩa hình bình hành?

Bình ngẩn người một lúc rồi ê a: “Dạ thưa thầy, hình bình hành là hình chữ nhật… hình chữ nhật bị… bị xô méo ạ!”. Nghe cậu định nghĩa, cả bọn nằm bò ra bàn chết sặc vì cười.

Lần khác, thầy Tô Ngọc Cừ (dạy Sử) gọi đến tên cậu. Thầy từ tốn ra câu hỏi:

- Thế nào là ngành khảo cổ học?

Bình quay lại lườm bọn tôi một cái rồi đằng hắng trả lời: “Dạ thưa thầy, khảo cổ học là… là… khoa học búa rìu ạ!”. Thế là cả lớp lại được một phen như cái chợ vỡ…

Tuy vậy, sống với nhau khá lâu, anh em rất quý Bình vì lối sống chân thực, không bao giờ giả dối với bạn bè. Đến giờ, mỗi lần nghĩ đến Bình thì tôi lại nhớ tới giọng hát ồ ồ của hắn: “Quẳn... Bìn quê ta, chiều nay có đứa con xa nhớ bầm…”. Tự nhiên thấy thương hắn quá!


N.H.A


138 - Chuyện xảy ra ở „CT 23” - Quang „chầy” K6, SRTKL2: 538-540



Chuyện xảy ra ở “CT 23”


QUANG “CHẦY”
Học sinh khóa 6

"refont.com - Glitter textT 23”! Có người bảo đó là viết tắt của mấy chữ “Cải tạo 23”!? Nhưng thực ra đó là hòm thư của Phân hiệu Thạch Thất của trường, thành lập từ năm 1969. Những bạn được chuyển sang học ở Phân hiệu này hầu hết là những học sinh hiếu động nhất hoặc nghịch ngầm nhất (còn gọi là “ngấm ngầm chết voi”) trong khóa 6, khóa 7. Sau này, có gặp nhau, nhắc lại chuyện xưa, anh em vẫn trêu bọn tôi là vì học “quá giỏi” nên được chọn để “học một năm lên hai lớp”, (đúng là một năm “giải quyết gọn” hai lớp thật vì trong chương trình có rút bớt một số môn). Riêng tôi nhớ mình rất hiền, không quá hiếu động, không quá nghịch ngầm, nhưng chẳng hiểu sao vẫn có trong danh sách chuyển về đây(?). Chuyện sắp kể, ngày ở CT 23 rất riêng tư, chả muốn nói ra. Nhưng mỗi lần gặp nhau, những bạn từng chứng kiến hay nhắc lại, có bạn bảo hãy viết cho tập 2 “Sinh ra trong khói lửa”.

Câu chuyện thế này: Đầu năm 1970, buổi chiều, trong một giờ tự tu, thầy Lã Khắc Tiệp bận, không có mặt. Tôi và T. “bò” ngồi ở cuối lớp cùng giải một bài toán Lượng giác thầy giao. Rồi cả hai xoay qua trao đổi cách giải. Tuy không ai xúc phạm ai nhưng chả hiểu sao, “không khí” giữa hai đứa nóng dần lên. Đến khi cái không khí ấy “trên mức ồn ào” thì hai đứa nảy ra “sáng kiến” ra “ngoài kia” xem ai đúng ai sai(!). Ý kiến này được cả lớp vỗ tay tán thưởng. Hơn thế nữa, anh em còn cử P.X. và L.V. làm trọng tài.

Chúng tôi kéo nhau ra một căn nhà bỏ hoang gần đó. Nhà tranh vách đất, nền nhà rộng chừng 30m2, vừa đủ làm một sân đấu. Thú thật, tôi có biết võ vẽ gì đâu nhưng vẫn cứ “lên đài”. Đã là lính Trỗi, ai cũng vậy, đều có trong máu một “thành phần đặc biệt” (theo tôi có lẽ là “lòng tự trọng”). Trước khi thách đấu, tôi rất tự tin vì ngoài hai bài “Võ thể dục tay không” do thầy Trần Sinh dạy trong chương trình, tôi còn được Q.B. và L.V. truyền cho vài đòn thế (nói là “dạy” nhưng thực ra là lấy thân làm bị cát cho mấy ông thầy này tập những lúc “ngứa ngáy” chân tay). Thường thì chúng tôi sống rất chan hòa (mà nay gọi là “hòa đồng”), nhưng trong giây phút này, hai đứa cảm thấy hai chữ “danh dự” lớn hơn tất cả. Thế là…

Là người trong cuộc, có lẽ hai chúng tôi là những thằng hiểu nhất những chú gà chọi đã nghĩ gì trước khi vào trận. Không cần biết xung quanh mình là ai, không cần biết là mình sẽ thua hay thắng. Chiến đấu đã! Hít một hơi, tôi vận nội công (sau này nghĩ lại có lẽ chỉ là “vận cơ”, vì trình độ đâu có cao siêu để mà vận nội công!), xuống tấn rồi nhẹ nhàng di chuyển tới gần đối thủ. Phải ra đòn trước, vì nghĩ “tiên hạ thủ vi cường”, tôi tung chân nhằm thẳng bộ hạ T. “bò”. Sau đó là “loạn đả”, cứ nhằm mặt đối phương ra đòn (hình như còn áp dụng được cả ngón “Tiên ông câu cá” mà Q.B. đã dạy). Chẳng phải tay vừa, T. “bò” cũng đánh liên tục. Cả hai vẫn trơ như đá. May mà hai đứa chẳng “nghề ngỗng” gì, cho dù biết bộ hạ và mặt là hai nơi hiểm nhưng đánh mãi chẳng trúng. Vừa định tung cú đá chệch để giật gót vào mạng sườn đối phương thì tôi nhận ngay được một cú đá gót của hắn vào mông. Tôi ngã sấp, ngượng chín cả người! Vụt đứng dậy lao vào ôm lấy hắn…

Cũng chẳng nhớ là trận đấu kéo dài bao lâu. Thấy bất phân thắng bại, nghe anh em can ngăn, hai trọng tài mặt đỏ gay kéo giật hai “võ sĩ” về phía sau. Trận đấu “xì-tốp”. Tôi và T. “bò” lẳng lặng đi về lớp. Lúc này mới cảm thấy rã rời, liếc mắt sang thấy mặt thằng bạn cũng tái dại như bị thiếu ôxy. Vừa ngồi vào bàn, thấy nhưng nhức ở môi dưới, đưa đầu lưỡi chạm vào thì thấy một mẩu thịt to bằng hạt gạo bám lủng liểng bên trong. Nước bọt có vị mặn và tanh của máu. Nhanh tay giật và búng mẩu thịt ra xa. Tôi lấy tay quệt ngay vệt máu còn dính ở miệng, chỉ sợ có ai nhìn thấy thì “mất điểm”! Riêng T. “bò”, tay vừa xoa bụng, còn miệng thì không hề dấu diếm: “Có dầu cù là không, cho tao một tí!”

Anh em cả lớp ồn ào bình luận. Mặc, hai đứa không quan tâm. Có ai đó lên giọng làm tôi nhớ mãi: “Thế là tất cả đã tỉnh ngủ, bây giờ thì làm bài đi!”

Gần đây, tôi đã kể lại chuyện này cho con T. “bò” nghe. Các cháu tròn mắt vừa lạ lẫm vừa thích thú. Tôi kết luận: “Bố các cháu là một người bạn học tốt làm chú nhớ suốt đời”.

 

Q.C

 


Chuyện xảy ra ở “CT 23”


QUANG “CHẦY”
Học sinh khóa 6

"refont.com - Glitter textT 23”! Có người bảo đó là viết tắt của mấy chữ “Cải tạo 23”!? Nhưng thực ra đó là hòm thư của Phân hiệu Thạch Thất của trường, thành lập từ năm 1969. Những bạn được chuyển sang học ở Phân hiệu này hầu hết là những học sinh hiếu động nhất hoặc nghịch ngầm nhất (còn gọi là “ngấm ngầm chết voi”) trong khóa 6, khóa 7. Sau này, có gặp nhau, nhắc lại chuyện xưa, anh em vẫn trêu bọn tôi là vì học “quá giỏi” nên được chọn để “học một năm lên hai lớp”, (đúng là một năm “giải quyết gọn” hai lớp thật vì trong chương trình có rút bớt một số môn). Riêng tôi nhớ mình rất hiền, không quá hiếu động, không quá nghịch ngầm, nhưng chẳng hiểu sao vẫn có trong danh sách chuyển về đây(?). Chuyện sắp kể, ngày ở CT 23 rất riêng tư, chả muốn nói ra. Nhưng mỗi lần gặp nhau, những bạn từng chứng kiến hay nhắc lại, có bạn bảo hãy viết cho tập 2 “Sinh ra trong khói lửa”.

Câu chuyện thế này: Đầu năm 1970, buổi chiều, trong một giờ tự tu, thầy Lã Khắc Tiệp bận, không có mặt. Tôi và T. “bò” ngồi ở cuối lớp cùng giải một bài toán Lượng giác thầy giao. Rồi cả hai xoay qua trao đổi cách giải. Tuy không ai xúc phạm ai nhưng chả hiểu sao, “không khí” giữa hai đứa nóng dần lên. Đến khi cái không khí ấy “trên mức ồn ào” thì hai đứa nảy ra “sáng kiến” ra “ngoài kia” xem ai đúng ai sai(!). Ý kiến này được cả lớp vỗ tay tán thưởng. Hơn thế nữa, anh em còn cử P.X. và L.V. làm trọng tài.

Chúng tôi kéo nhau ra một căn nhà bỏ hoang gần đó. Nhà tranh vách đất, nền nhà rộng chừng 30m2, vừa đủ làm một sân đấu. Thú thật, tôi có biết võ vẽ gì đâu nhưng vẫn cứ “lên đài”. Đã là lính Trỗi, ai cũng vậy, đều có trong máu một “thành phần đặc biệt” (theo tôi có lẽ là “lòng tự trọng”). Trước khi thách đấu, tôi rất tự tin vì ngoài hai bài “Võ thể dục tay không” do thầy Trần Sinh dạy trong chương trình, tôi còn được Q.B. và L.V. truyền cho vài đòn thế (nói là “dạy” nhưng thực ra là lấy thân làm bị cát cho mấy ông thầy này tập những lúc “ngứa ngáy” chân tay). Thường thì chúng tôi sống rất chan hòa (mà nay gọi là “hòa đồng”), nhưng trong giây phút này, hai đứa cảm thấy hai chữ “danh dự” lớn hơn tất cả. Thế là…

Là người trong cuộc, có lẽ hai chúng tôi là những thằng hiểu nhất những chú gà chọi đã nghĩ gì trước khi vào trận. Không cần biết xung quanh mình là ai, không cần biết là mình sẽ thua hay thắng. Chiến đấu đã! Hít một hơi, tôi vận nội công (sau này nghĩ lại có lẽ chỉ là “vận cơ”, vì trình độ đâu có cao siêu để mà vận nội công!), xuống tấn rồi nhẹ nhàng di chuyển tới gần đối thủ. Phải ra đòn trước, vì nghĩ “tiên hạ thủ vi cường”, tôi tung chân nhằm thẳng bộ hạ T. “bò”. Sau đó là “loạn đả”, cứ nhằm mặt đối phương ra đòn (hình như còn áp dụng được cả ngón “Tiên ông câu cá” mà Q.B. đã dạy). Chẳng phải tay vừa, T. “bò” cũng đánh liên tục. Cả hai vẫn trơ như đá. May mà hai đứa chẳng “nghề ngỗng” gì, cho dù biết bộ hạ và mặt là hai nơi hiểm nhưng đánh mãi chẳng trúng. Vừa định tung cú đá chệch để giật gót vào mạng sườn đối phương thì tôi nhận ngay được một cú đá gót của hắn vào mông. Tôi ngã sấp, ngượng chín cả người! Vụt đứng dậy lao vào ôm lấy hắn…

Cũng chẳng nhớ là trận đấu kéo dài bao lâu. Thấy bất phân thắng bại, nghe anh em can ngăn, hai trọng tài mặt đỏ gay kéo giật hai “võ sĩ” về phía sau. Trận đấu “xì-tốp”. Tôi và T. “bò” lẳng lặng đi về lớp. Lúc này mới cảm thấy rã rời, liếc mắt sang thấy mặt thằng bạn cũng tái dại như bị thiếu ôxy. Vừa ngồi vào bàn, thấy nhưng nhức ở môi dưới, đưa đầu lưỡi chạm vào thì thấy một mẩu thịt to bằng hạt gạo bám lủng liểng bên trong. Nước bọt có vị mặn và tanh của máu. Nhanh tay giật và búng mẩu thịt ra xa. Tôi lấy tay quệt ngay vệt máu còn dính ở miệng, chỉ sợ có ai nhìn thấy thì “mất điểm”! Riêng T. “bò”, tay vừa xoa bụng, còn miệng thì không hề dấu diếm: “Có dầu cù là không, cho tao một tí!”

Anh em cả lớp ồn ào bình luận. Mặc, hai đứa không quan tâm. Có ai đó lên giọng làm tôi nhớ mãi: “Thế là tất cả đã tỉnh ngủ, bây giờ thì làm bài đi!”

Gần đây, tôi đã kể lại chuyện này cho con T. “bò” nghe. Các cháu tròn mắt vừa lạ lẫm vừa thích thú. Tôi kết luận: “Bố các cháu là một người bạn học tốt làm chú nhớ suốt đời”.

 

Q.C

 

164 - Ký ức người đi xa - Nguyễn Anh Minh K6, SRTKL2: 640-645



Ký ức người đi xa


NGUYỄN ANH MINH
Học sinh khóa 6

Đội bóng trường Chu Văn An năm học 1970 - 1971.Đội bóng trường Chu Văn An năm học 1970 - 1971.

Sau ngày trường Trỗi giải thể, anh em khóa 6 về Hà Nội học tiếp năm lớp 10 (năm cuối chương trình phổ thông). Cánh về trường Chu Văn An có Phạm Ngọc Chỉnh, Cao Tuấn Anh, Vũ Biên Hoà, Trần Tuấn Quảng, Hồ Trí Dũng, Nguyễn Văn Hòa, Trần Đăng Sơn, Vũ Việt Hưng, Phạm Hoàng Hưng cùng tôi và nhiều bạn khác nữa ở đủ các khối 8, 9, 10…

Có lẽ bạn sẽ thắc mắc: tôi liệt kê ra đây tên nhiều bạn thế để làm gì? Vì rằng, trường Chu Văn An là nơi tụ họp của rất nhiều bạn Trỗi sau ngày trường Trỗi giải thể, năm 1970. Có lẽ là trường Chu Văn An là trường đông lính Trỗi học “nhất Việt Nam”, chỉ sau chính trường Trỗi! Mỗi khi nhắc lại tên từng bạn, trước mắt tôi lại hiện lên những hình ảnh nghịch ngợm thủa nào. Nhớ những hôm cả bọn cùng trốn học, rủ nhau ra bờ Hồ Tây, ngay sau trường để tào lao. Rồi những buổi quần nhau với trái bóng giữa trưa hè oi ả. Đặc biệt, cuối năm học 1970-1971, đội bóng đá trường Chu Văn An (có hơn nửa là lính Trỗi) đã thay mặt học sinh Hà Nội thi đấu với đội Đường Sắt Trẻ (có tăng cường thêm ba cầu thủ đội hình chính thức). Đội chúng tôi có mời thêm một số bạn của các trường, trong đó có Ngô Việt Sơn, Nguyễn Văn Nam (lính Trỗi học trường Ba Đình). Trận đó, chúng tôi đã chiến thắng với tỷ số 3-1. Có lẽ đó là những kỷ niệm cuối cùng của thời học sinh vô tư.

Hè năm 1971, nhiều bạn được tuyển chọn vào quân đội, lên Đại học quân sự. Sau một năm, một số đi học tại các trường sĩ quan kĩ thuật ở các nước thuộc Khối quân sự Hiệp ước Vác-xô-vi. Khi tôi và Võ Điện Biên sang Liên xô, vào học trường Pháo binh Pen-za thì gặp anh Chu Kì Minh, Nguyễn Nhật Minh, Lữ Thái, Từ Linh… (lính Trỗi khóa 2, 3) đang học năm cuối. Vì cùng là lính Trỗi, lại gặp nhau nơi đất khách quê người, chúng tôi rất mừng. Nhờ vậy mà nỗi nhớ nhà, nỗi nhớ quê hương dịu đi phần nào, chúng tôi nhanh chóng hoà nhập vào cuộc sống mới.

Năm 1973, hoà bình về trên đất Bắc; sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, đất nước thống nhất, chế độ với học viên sĩ quan Việt Nam ở nước ngoài cũng được cải thiện. Trong 6 năm học được về phép hai lần, cứ 2 năm một lần. Nhờ chính sách này mà mỗi chuyến hồi hương, anh em chúng tôi từ bốn phương lại có dịp gặp nhau, khi cùng đi trên những chuyến tầu liên vận quốc tế. Cả bọn tập trung về Mat-xcơ-va, từ đây Phòng Tuỳ viên quân sự sẽ mua vé, sắp xếp các đoàn lên tầu về Bắc Kinh. Thật thú vị vì trong khi con tầu lao vun vút qua những cánh rừng tai-ga rậm rạp ở miền Xi-bê-ri, hay hàng trăm cây số bên bờ hồ nước ngọt lớn nhất thế giới Bai-can, rồi những cánh đồng bông bạt ngàn tới tận chân trời vùng Mãn Châu Lý, gần biên giới Trung-Xô… thì chúng tôi lại len từ toa này sang toa nọ, tay xách thêm chai Vod-ka Nga, tìm đến với nhau hàn huyên. Vì mỗi đứa mỗi trường, mỗi thành phố khác nhau, thậm chí đứa thì học ở Liên xô, nhưng có đứa lại từ Ba lan, Tiệp Khắc… trở về, nên khi gặp nhau có đủ thứ chuyện để kể. Tầu liên vận chạy cả tuần lễ mới tới Bắc Kinh, anh em vừa ngắm nhìn phong cảnh qua cửa sổ, vừa hít hà mùi chua chua của bánh mì đen, nhâm nhi với li rượu trắng, vừa kể cho nhau nghe chuyện học tập chuyên môn, chuyện rèn luyện quân sự, luyện tập binh đao, sinh hoạt văn nghệ, thể thao, chuyện gia đình, thậm chí cả chuyện “đã nắm được tay bạn gái”… Chuyện dông dài cho tới bữa ăn mới tạm dừng, có khi đêm đã khuya mà chưa muốn trở về cu-pê (phòng) mình để ngủ.

Gặp nhau tại khách sạn Bắc Vĩ, Bắc Kinh, Hè 1976.Gặp nhau tại khách sạn Bắc Vĩ, Bắc Kinh, Hè 1976.

Từ Bắc Kinh lên tầu đi tiếp về Bằng Tường cũng mất ba, bốn ngày. Cảm động nhất là mỗi lần tầu chạy qua thành phố Quế Lâm, dù vào ban đêm hay ban ngày, chúng tôi đều í ới gọi nhau ra đứng bên cửa sổ, ngắm nhìn phố xá. Chỉ thấy nhà cửa, xe cộ, cây cối loang loáng trước mắt, vì tầu không dừng. Mặc dù vậy, trong lòng đứa nào cũng nao nao! Trung Quốc đã qua khỏi cái thời kì ác liệt của Cách mạng Văn hoá, nhịp sống thanh bình đang trở về với người dân Quế Lâm. Những dãy núi đá xanh ngắt, ôm lấy thành phố, dòng Ly Giang trong xanh vẫn lững lờ trôi. Nhìn thấy cảnh xưa mà trong tâm mong có ngày về lại Quế Lâm, để được dừng chân bên bờ sông Ly ngắm nhìn chú voi già đang hút nước, hay leo lên tầng trên Bách hoá Đại Lầu tìm mua đủ thứ kẹo tẩm va-ni ngọt giọng; phải có những phút giây bách bộ từ trung tâm về khu trường Y Trung, nơi thầy, trò ta đã tá túc trong năm học đầu tiên, xa hơn nữa là tới thăm khu trường mới ở Phong Khẩu hay ngắm nhìn quần thể tượng thiên tạo bằng nhũ thạch, được chiếu ánh sáng màu, trong hàng trăm mét hang động của công viên Thất Tinh Nham nổi tiếng… Đúng là những gì đã gắn bó với những năm tháng của tuổi thơ thật khó quên!

Hết thời gian nghỉ phép, chúng tôi chia tay gia đình, bạn bè, ra ga Hàng Cỏ lên tầu ngược về phía bắc. Đoàn tầu liên vận quốc tế chạy suốt đêm, cho đến mờ sáng hôm sau thì vượt qua cột mốc biên giới. Khi nghe trưởng tầu thông báo trên loa: Tầu đang qua cột “cây số 0” giữa biên giới hai nước Việt Nam, Trung Quốc, trong lòng dâng lên những cảm xúc khó tả. Đứa nào cũng nhớ lại cái buổi sớm ngày mùng Một tháng giêng năm 1967, cũng trên một chuyến tầu liên vận, chúng tôi - những chú bé thiếu sinh quân, khoác trên mình cái áo bông dày sụ, đầu đội mũ bông có tai của lính biên phòng - lần đầu vượt biên giới sang đất bạn. Tranh thủ quãng thời gian hai bên tạm ngừng bắn trong đợt nghỉ lễ Noel và đón năm mới 1967, cuộc hành quân đưa toàn trường sang Trung Quốc được tổ chức hết sức khẩn trương, bí mật, bất ngờ, để chuẩn bị một giai đoạn đào tạo mới. Nói đúng ra là ta đã “biết tận dụng khoảnh khắc tĩnh lặng của chiến tranh” để làm một cuộc “chuyển quân ngoạn mục” mà kẻ địch không thể ngờ tới!

… Rừng biên giới mờ mờ trong sương sớm, xa xa đâu đây nghe thấy tiếng gà gáy hay tiếng tác của nai rừng. Đoàn tầu hổn hển vượt dốc biên giới, đầu máy xì hơi nước ra hai vách ta-luy, tiếng bánh xe nghiến ken két vào đường ray, tiếng va chạm kim khí của những móc toa… làm chúng tôi thêm xao xuyến. Đây là ga Bằng Tường... Nhớ năm nào, khi đoàn tầu liên vận Việt Nam vừa dừng bánh, đã thấy hàng nghìn người dân cùng học sinh thị trấn Bằng Tường trống giong, cờ mở ra đón “những chiến sĩ từ tiền tuyến lớn trở về”. Tiếng thanh la, tiếng chiêng trống náo nhiệt, cờ xí rợp trời. Đúng là không khí của một đất nước thanh bình. Vậy mà chỉ cách về phía nam chục cây số, nơi ấy là quê hương chúng tôi, nơi ấy đang có chiến tranh. Có khi chỉ ít phút nữa thôi là bên ấy nghe thấy tiếng gầm rú của máy bay Mỹ, rồi tiếng bom nổ, rồi khói lửa, chết chóc. Khi vừa đặt chân lên mảnh đất Bằng Tường, bọn trẻ chúng tôi đã cảm nhận được giới hạn giữa chiến tranh và hoà bình chỉ gần nhau trong tấc gang! Đúng là ngay bên “ranh giới địa lý giữa hai quốc gia” lại rất gần cái “ranh giới của sự sống và cái chết”. Và cái cảm nhận ấy mãi khắc ghi trong tâm khảm chúng tôi, để rồi mỗi khi qua biên giới, qua thị trấn Bằng Tường, nó lại được khuấy động lên.

Hè năm 1976, từ Việt Nam sang, khi tầu dừng ở Bắc Kinh, chúng tôi được đưa vào nghỉ ở khách sạn Bắc Vĩ, nơi dừng chân của hầu hết các đoàn lưu học sinh Việt Nam, trên đường “Tây Du”. Cánh học viên hải quân ở Ba-cu có Phạm Ngọc Chỉnh, Phạm Hoàng Hưng, Trần Tuấn Quảng, Nguyễn Quốc Thắng (khoá 6), Bùi Chuẩn (khóa 8), cánh Pháo binh Pen-za có tôi. Bạn Tạ Xuân Sơn (“Tu la”) từ Học viện quân sự Warsava (Ba Lan) về cùng các bạn Trung, Minh, Ninh… một thời cùng học trên Đại học quân sự. Ngay tại sảnh khách sạn, chúng tôi đã rủ nhau chụp một tấm ảnh kỉ niệm. Đã mấy chục năm trôi qua, cuộc đời có nhiều biến động với mỗi người, nhưng những kí ức của một thời trường Trỗi thật khó quên. Chính nó đã góp phần tạo nên bản ngã của mỗi chúng ta!

Ngày đón Ngô Sơn, 4-2005
N.A.M

 



Ký ức người đi xa


NGUYỄN ANH MINH
Học sinh khóa 6

Đội bóng trường Chu Văn An năm học 1970 - 1971.Đội bóng trường Chu Văn An năm học 1970 - 1971.

Sau ngày trường Trỗi giải thể, anh em khóa 6 về Hà Nội học tiếp năm lớp 10 (năm cuối chương trình phổ thông). Cánh về trường Chu Văn An có Phạm Ngọc Chỉnh, Cao Tuấn Anh, Vũ Biên Hoà, Trần Tuấn Quảng, Hồ Trí Dũng, Nguyễn Văn Hòa, Trần Đăng Sơn, Vũ Việt Hưng, Phạm Hoàng Hưng cùng tôi và nhiều bạn khác nữa ở đủ các khối 8, 9, 10…

Có lẽ bạn sẽ thắc mắc: tôi liệt kê ra đây tên nhiều bạn thế để làm gì? Vì rằng, trường Chu Văn An là nơi tụ họp của rất nhiều bạn Trỗi sau ngày trường Trỗi giải thể, năm 1970. Có lẽ là trường Chu Văn An là trường đông lính Trỗi học “nhất Việt Nam”, chỉ sau chính trường Trỗi! Mỗi khi nhắc lại tên từng bạn, trước mắt tôi lại hiện lên những hình ảnh nghịch ngợm thủa nào. Nhớ những hôm cả bọn cùng trốn học, rủ nhau ra bờ Hồ Tây, ngay sau trường để tào lao. Rồi những buổi quần nhau với trái bóng giữa trưa hè oi ả. Đặc biệt, cuối năm học 1970-1971, đội bóng đá trường Chu Văn An (có hơn nửa là lính Trỗi) đã thay mặt học sinh Hà Nội thi đấu với đội Đường Sắt Trẻ (có tăng cường thêm ba cầu thủ đội hình chính thức). Đội chúng tôi có mời thêm một số bạn của các trường, trong đó có Ngô Việt Sơn, Nguyễn Văn Nam (lính Trỗi học trường Ba Đình). Trận đó, chúng tôi đã chiến thắng với tỷ số 3-1. Có lẽ đó là những kỷ niệm cuối cùng của thời học sinh vô tư.

Hè năm 1971, nhiều bạn được tuyển chọn vào quân đội, lên Đại học quân sự. Sau một năm, một số đi học tại các trường sĩ quan kĩ thuật ở các nước thuộc Khối quân sự Hiệp ước Vác-xô-vi. Khi tôi và Võ Điện Biên sang Liên xô, vào học trường Pháo binh Pen-za thì gặp anh Chu Kì Minh, Nguyễn Nhật Minh, Lữ Thái, Từ Linh… (lính Trỗi khóa 2, 3) đang học năm cuối. Vì cùng là lính Trỗi, lại gặp nhau nơi đất khách quê người, chúng tôi rất mừng. Nhờ vậy mà nỗi nhớ nhà, nỗi nhớ quê hương dịu đi phần nào, chúng tôi nhanh chóng hoà nhập vào cuộc sống mới.

Năm 1973, hoà bình về trên đất Bắc; sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, đất nước thống nhất, chế độ với học viên sĩ quan Việt Nam ở nước ngoài cũng được cải thiện. Trong 6 năm học được về phép hai lần, cứ 2 năm một lần. Nhờ chính sách này mà mỗi chuyến hồi hương, anh em chúng tôi từ bốn phương lại có dịp gặp nhau, khi cùng đi trên những chuyến tầu liên vận quốc tế. Cả bọn tập trung về Mat-xcơ-va, từ đây Phòng Tuỳ viên quân sự sẽ mua vé, sắp xếp các đoàn lên tầu về Bắc Kinh. Thật thú vị vì trong khi con tầu lao vun vút qua những cánh rừng tai-ga rậm rạp ở miền Xi-bê-ri, hay hàng trăm cây số bên bờ hồ nước ngọt lớn nhất thế giới Bai-can, rồi những cánh đồng bông bạt ngàn tới tận chân trời vùng Mãn Châu Lý, gần biên giới Trung-Xô… thì chúng tôi lại len từ toa này sang toa nọ, tay xách thêm chai Vod-ka Nga, tìm đến với nhau hàn huyên. Vì mỗi đứa mỗi trường, mỗi thành phố khác nhau, thậm chí đứa thì học ở Liên xô, nhưng có đứa lại từ Ba lan, Tiệp Khắc… trở về, nên khi gặp nhau có đủ thứ chuyện để kể. Tầu liên vận chạy cả tuần lễ mới tới Bắc Kinh, anh em vừa ngắm nhìn phong cảnh qua cửa sổ, vừa hít hà mùi chua chua của bánh mì đen, nhâm nhi với li rượu trắng, vừa kể cho nhau nghe chuyện học tập chuyên môn, chuyện rèn luyện quân sự, luyện tập binh đao, sinh hoạt văn nghệ, thể thao, chuyện gia đình, thậm chí cả chuyện “đã nắm được tay bạn gái”… Chuyện dông dài cho tới bữa ăn mới tạm dừng, có khi đêm đã khuya mà chưa muốn trở về cu-pê (phòng) mình để ngủ.

Gặp nhau tại khách sạn Bắc Vĩ, Bắc Kinh, Hè 1976.Gặp nhau tại khách sạn Bắc Vĩ, Bắc Kinh, Hè 1976.

Từ Bắc Kinh lên tầu đi tiếp về Bằng Tường cũng mất ba, bốn ngày. Cảm động nhất là mỗi lần tầu chạy qua thành phố Quế Lâm, dù vào ban đêm hay ban ngày, chúng tôi đều í ới gọi nhau ra đứng bên cửa sổ, ngắm nhìn phố xá. Chỉ thấy nhà cửa, xe cộ, cây cối loang loáng trước mắt, vì tầu không dừng. Mặc dù vậy, trong lòng đứa nào cũng nao nao! Trung Quốc đã qua khỏi cái thời kì ác liệt của Cách mạng Văn hoá, nhịp sống thanh bình đang trở về với người dân Quế Lâm. Những dãy núi đá xanh ngắt, ôm lấy thành phố, dòng Ly Giang trong xanh vẫn lững lờ trôi. Nhìn thấy cảnh xưa mà trong tâm mong có ngày về lại Quế Lâm, để được dừng chân bên bờ sông Ly ngắm nhìn chú voi già đang hút nước, hay leo lên tầng trên Bách hoá Đại Lầu tìm mua đủ thứ kẹo tẩm va-ni ngọt giọng; phải có những phút giây bách bộ từ trung tâm về khu trường Y Trung, nơi thầy, trò ta đã tá túc trong năm học đầu tiên, xa hơn nữa là tới thăm khu trường mới ở Phong Khẩu hay ngắm nhìn quần thể tượng thiên tạo bằng nhũ thạch, được chiếu ánh sáng màu, trong hàng trăm mét hang động của công viên Thất Tinh Nham nổi tiếng… Đúng là những gì đã gắn bó với những năm tháng của tuổi thơ thật khó quên!

Hết thời gian nghỉ phép, chúng tôi chia tay gia đình, bạn bè, ra ga Hàng Cỏ lên tầu ngược về phía bắc. Đoàn tầu liên vận quốc tế chạy suốt đêm, cho đến mờ sáng hôm sau thì vượt qua cột mốc biên giới. Khi nghe trưởng tầu thông báo trên loa: Tầu đang qua cột “cây số 0” giữa biên giới hai nước Việt Nam, Trung Quốc, trong lòng dâng lên những cảm xúc khó tả. Đứa nào cũng nhớ lại cái buổi sớm ngày mùng Một tháng giêng năm 1967, cũng trên một chuyến tầu liên vận, chúng tôi - những chú bé thiếu sinh quân, khoác trên mình cái áo bông dày sụ, đầu đội mũ bông có tai của lính biên phòng - lần đầu vượt biên giới sang đất bạn. Tranh thủ quãng thời gian hai bên tạm ngừng bắn trong đợt nghỉ lễ Noel và đón năm mới 1967, cuộc hành quân đưa toàn trường sang Trung Quốc được tổ chức hết sức khẩn trương, bí mật, bất ngờ, để chuẩn bị một giai đoạn đào tạo mới. Nói đúng ra là ta đã “biết tận dụng khoảnh khắc tĩnh lặng của chiến tranh” để làm một cuộc “chuyển quân ngoạn mục” mà kẻ địch không thể ngờ tới!

… Rừng biên giới mờ mờ trong sương sớm, xa xa đâu đây nghe thấy tiếng gà gáy hay tiếng tác của nai rừng. Đoàn tầu hổn hển vượt dốc biên giới, đầu máy xì hơi nước ra hai vách ta-luy, tiếng bánh xe nghiến ken két vào đường ray, tiếng va chạm kim khí của những móc toa… làm chúng tôi thêm xao xuyến. Đây là ga Bằng Tường... Nhớ năm nào, khi đoàn tầu liên vận Việt Nam vừa dừng bánh, đã thấy hàng nghìn người dân cùng học sinh thị trấn Bằng Tường trống giong, cờ mở ra đón “những chiến sĩ từ tiền tuyến lớn trở về”. Tiếng thanh la, tiếng chiêng trống náo nhiệt, cờ xí rợp trời. Đúng là không khí của một đất nước thanh bình. Vậy mà chỉ cách về phía nam chục cây số, nơi ấy là quê hương chúng tôi, nơi ấy đang có chiến tranh. Có khi chỉ ít phút nữa thôi là bên ấy nghe thấy tiếng gầm rú của máy bay Mỹ, rồi tiếng bom nổ, rồi khói lửa, chết chóc. Khi vừa đặt chân lên mảnh đất Bằng Tường, bọn trẻ chúng tôi đã cảm nhận được giới hạn giữa chiến tranh và hoà bình chỉ gần nhau trong tấc gang! Đúng là ngay bên “ranh giới địa lý giữa hai quốc gia” lại rất gần cái “ranh giới của sự sống và cái chết”. Và cái cảm nhận ấy mãi khắc ghi trong tâm khảm chúng tôi, để rồi mỗi khi qua biên giới, qua thị trấn Bằng Tường, nó lại được khuấy động lên.

Hè năm 1976, từ Việt Nam sang, khi tầu dừng ở Bắc Kinh, chúng tôi được đưa vào nghỉ ở khách sạn Bắc Vĩ, nơi dừng chân của hầu hết các đoàn lưu học sinh Việt Nam, trên đường “Tây Du”. Cánh học viên hải quân ở Ba-cu có Phạm Ngọc Chỉnh, Phạm Hoàng Hưng, Trần Tuấn Quảng, Nguyễn Quốc Thắng (khoá 6), Bùi Chuẩn (khóa 8), cánh Pháo binh Pen-za có tôi. Bạn Tạ Xuân Sơn (“Tu la”) từ Học viện quân sự Warsava (Ba Lan) về cùng các bạn Trung, Minh, Ninh… một thời cùng học trên Đại học quân sự. Ngay tại sảnh khách sạn, chúng tôi đã rủ nhau chụp một tấm ảnh kỉ niệm. Đã mấy chục năm trôi qua, cuộc đời có nhiều biến động với mỗi người, nhưng những kí ức của một thời trường Trỗi thật khó quên. Chính nó đã góp phần tạo nên bản ngã của mỗi chúng ta!

Ngày đón Ngô Sơn, 4-2005
N.A.M

 

165 - Điều hiếm thấy - Võ Điện Biên K6, SRTKL2: 646-650



Điều hiếm thấy


VÕ ĐIỆN BIÊN
Học sinh khoá 6

Có lẽ hiếm có trường nào mà học sinh học với nhau từ lứa tuổi “đánh bi đánh đáo” cho đến khi tốt nghiệp đại học, trưởng thành; hiếm có trường nào học trò lại cùng chơi với nhau từ khóa bé nhất đến khóa lớn nhất, lạ hơn chỉ lệch nhau có một khóa (chênh nhau có một tuổi) cũng “gọi nhau bằng anh xưng em” với tất cả sự kính trọng. Thật hiếm có bạn bè, học sinh trường nào “thương yêu nhau hơn cả anh em ruột” như ở trường Nguyễn Văn Trỗi!

Sau khi học xong năm thứ nhất Đại học quân sự tại Cầu Đá, Vĩnh Yên, tôi cùng một số bạn Trỗi khóa 6 (Phạm Ngọc Chỉnh, Tạ Xuân Sơn, Trần Tuấn Quảng, Lưu Minh Sơn, Nguyễn Quốc Thắng, Phạm Hoàng Hưng, Võ Mai Nhân, Nguyễn Anh Minh, Nguyễn Nam Điện…) được cử đi đào tạo ở nước ngoài. Đó là giữa năm 1972, Mỹ vẫn còn ném bom miền Bắc rất ác liệt. Chúng tôi tập trung học chính trị tại trường Văn hoá Lạng Sơn. Tại đây, chúng tôi được sơ tán về các bản của đồng bào người Tày. Cũng tại đây, chúng tôi được gặp lại các thầy, cô trường Trỗi, đang là giáo viên của trường. Vui hơn, gặp lại cả anh Cần “điếc” chuyên mổ lợn, giết trâu thời còn ở trường Trỗi.

Học viên quân sự Việt Nam tại trường Pháo binh Pen-zaHọc viên quân sự Việt Nam tại trường Pháo binh Pen-za.

Sau một tháng chỉnh quân, chúng tôi được phân đi các nước, học các ngành nghề khác nhau. Đi Liên xô có tôi và Anh Minh về trường Pháo binh Pen-za; Ngọc Chỉnh, Tuấn Quảng, Phạm Hưng, Nhân, Thắng “híp” về Ba-cu học tên lửa Hải quân, Đăng Sơn về trường Công binh Kaliningrad, Hoàng Tam Châu học ở Học viện thiết giáp Matxcơva; Nguyễn Văn Nam, Lê Kiên Thành về học lái tại Krasnodar… Riêng một số anh em trong đó có Tạ Xuân Sơn sang Ba lan đến Học viện Kỹ thuật quân sự Warsava, Lưu Minh Sơn sang Hungary học ở Đại học Bách khoa Budapest, Nam Điện sang Leipzig (Cộng hoà Dân chủ Đức) học in ấn...

Chúng tôi lên tầu từ Bằng Tường. Lại gặp lại đất nước Trung Hoa vĩ đại. Chuyến đi rất vui vì được đi cùng những bạn từ thủa “mặc quần đùi”. Khi qua các địa danh quen thuộc như Nam Ninh, Quế Lâm… gợi lại những kỷ niệm của những năm sống tại Y Trung, Phong Khẩu. Ở Việt Nam đang “quen” ăn đói, khi lên tầu liên vận quốc tế được “ăn cơm Tàu”, ai cũng khoái. Đến bữa có cô nhân viên rất xinh, mặc đồng phục, đội mũ kê-pi đến từng cu-pê mời đi ăn, mà lại nói bằng tiếng Việt mới sướng! Đến Bắc Kinh, chúng tôi nghỉ vài ngày tại khách sạn Bắc Vĩ, được đi tham quan Cố cung, Di Hoà Viên... Trước khi rời Lạng Sơn, mọi người rủ nhau mua vài kí thuốc lá cuốn Lạng Sơn, vàng ươm, để “làm lương khô” đi đường. Trên tầu liên vận Trung Quốc có nhiều họa báo, tạp chí tuyên truyền, trong đó có tạp chí Pekin Review in trên giấy pô-luya mỏng tang, dùng cuốn thuốc lá rất tuyệt. (Tuy vậy không ai dám “đọc nhiều”, mỗi người chỉ thủ vài cuốn để sang đất Nga dùng dần). Sau đó, tiếp tục hành trình lên phương bắc sang Liên xô qua đường Mãn Châu Lý. Sang đất Nga, đoàn tầu đổi bánh ở Kur-scơ, lần đầu tiên vào “toa bếp” ăn cơm Tây, phải dùng tới dao, dĩa. Thật phiền toái! Đứa nào cũng lóng ngóng, cả bọn vừa ăn vừa nhìn nhau cười khúc khích. Do tiếng tăm chưa thạo, khi gọi món có đứa vừa xì xồ thì bếp đã mang ra hai đĩa xúp, có bạn lại được những hai đĩa xa-lat. Mỗi khi tàu dừng ở các ga trên đất Nga, chúng tôi xuống ga, cánh “ghiền thuốc” mang thuốc lá cuốn ra mời bạn, còn dân Nga thì mời lại “thuốc có cán”. Hai bên hút phì phèo và nói cười vui vẻ, (nhẩm tính, có lẽ bạn thiệt hơn mình!). Tầu về đến Matxcơva, chúng tôi được chú Hải, tuỳ viên quân sự, ra đón và phân về các trường. Anh em Trỗi tạm chia tay nhau.

Riêng tôi và Anh Minh, khi về đến trường Pháo binh Penza thì thật may vì gặp ngay những khuôn mặt quen thuộc của mấy ông anh Trỗi. Khoá 2 có các anh Chu Kỳ Minh, Phạm Gia Lương, Nhật Minh, Phạm Sơn, Duy…; khóa 3 có các anh Từ Linh, Lữ Thái, Vương Minh Sách, Chính, Hoàng… Đang buồn và lớ ngớ vì mới xa nhà, chúng tôi liền nhận được sự giúp đỡ của các ông anh; từ những việc rất nhỏ như mua một tuýp thuốc đánh răng, sắm bộ quần áo chống rét, cho đến cách học hành, giao tiếp. Thời gian đó tại trường Pen-za có khoảng 100 học viên Việt Nam, trong đó có đến vài chục anh em Trỗi các khóa 2, 3 và 6.

Ngày nghỉ, các anh hay rủ chúng tôi đi xem phim, chơi bóng đá, chơi cờ vua hay hoạt động những môn thể thao mùa đông như trượt băng, trượt tuyết. Lâu lâu lại đi chợ mua thực phẩm về nấu các món ăn dân tộc (nem rán, chân giò nấu măng…) để cải thiện và nguôi đi nỗi nhớ nhà. Mỗi khi ai có thư nhà sang thì chẳng kém gì ngày hội, đọc rồi chuyền tay nhau xem. Thời đó đất nước còn chiến tranh nên kỷ luật tại các trường quân sự tại Liên xô rất nghiêm. Phòng Tuỳ viên quy định khi ra ngoài doanh trại, đi chơi phố, phải theo “tổ tam tam”. Vốn có tinh thần đồng đội, đi đâu mấy anh em Trỗi cũng rủ nhau nên không vi phạm nội quy lại rất thoải mái vì bạn bè tâm đầu ý hợp. Mùa hè, các anh còn rủ chúng tôi xuống nông trang thu hoạch lê, táo giúp dân hoặc đi “pic-níc” câu cá. Đây cũng là dịp để tìm hiểu thêm đời sống văn hoá, xã hội của dân bản địa và trau dồi thêm vốn tiếng Nga. Quả thật nhờ gần các em gái Nga nên đứa nào cũng “nói sõi hẳn ra”.

Kết quả học tập của cánh lính Trỗi rất khá. Tôi nhớ mãi năm 1973, 1974 trong hai kì bảo vệ tốt nghiệp được mời đi dự, các anh Chu Kì Minh, Từ Linh, Lữ Thái được nhà trường trao bằng đỏ, còn anh Nhật Minh được trao huy chương vàng - phần thưởng cao quý nhất cho những học viên trong 5 năm học đạt toàn điểm 5 (điểm cao nhất)! Từ đó trở đi, học viên các nước rất khâm phục học viên Việt Nam. Còn chúng tôi rất tự hào và lấy đó làm tấm gương để tự phấn đấu vươn lên.

Sau này, tốt nghiệp về nước, chúng tôi thường xuống công tác tại các đơn vị nên cũng có điều kiện để gặp nhau. Cho đến nay, nhiều người đã chuyển ngành, giải ngũ, thậm chí về hưu nhưng mỗi khi gặp lại vẫn nhận ra nhau và sống thân thiết như thủa cách đây mấy chục năm về trước. Chỉ tiếc rằng thời gian trôi qua không chỉ làm cho tóc ta thêm bạc mà còn làm cho tửu lượng ngày một giảm đi. Xin tạm dùng lời một bài hát mà ca sĩ Mỹ Tâm hay hát để kết: Ước gì cho thời gian trở lại! Ước gì…...

V.Đ.B

 


Điều hiếm thấy


VÕ ĐIỆN BIÊN
Học sinh khoá 6

Có lẽ hiếm có trường nào mà học sinh học với nhau từ lứa tuổi “đánh bi đánh đáo” cho đến khi tốt nghiệp đại học, trưởng thành; hiếm có trường nào học trò lại cùng chơi với nhau từ khóa bé nhất đến khóa lớn nhất, lạ hơn chỉ lệch nhau có một khóa (chênh nhau có một tuổi) cũng “gọi nhau bằng anh xưng em” với tất cả sự kính trọng. Thật hiếm có bạn bè, học sinh trường nào “thương yêu nhau hơn cả anh em ruột” như ở trường Nguyễn Văn Trỗi!

Sau khi học xong năm thứ nhất Đại học quân sự tại Cầu Đá, Vĩnh Yên, tôi cùng một số bạn Trỗi khóa 6 (Phạm Ngọc Chỉnh, Tạ Xuân Sơn, Trần Tuấn Quảng, Lưu Minh Sơn, Nguyễn Quốc Thắng, Phạm Hoàng Hưng, Võ Mai Nhân, Nguyễn Anh Minh, Nguyễn Nam Điện…) được cử đi đào tạo ở nước ngoài. Đó là giữa năm 1972, Mỹ vẫn còn ném bom miền Bắc rất ác liệt. Chúng tôi tập trung học chính trị tại trường Văn hoá Lạng Sơn. Tại đây, chúng tôi được sơ tán về các bản của đồng bào người Tày. Cũng tại đây, chúng tôi được gặp lại các thầy, cô trường Trỗi, đang là giáo viên của trường. Vui hơn, gặp lại cả anh Cần “điếc” chuyên mổ lợn, giết trâu thời còn ở trường Trỗi.

Học viên quân sự Việt Nam tại trường Pháo binh Pen-zaHọc viên quân sự Việt Nam tại trường Pháo binh Pen-za.

Sau một tháng chỉnh quân, chúng tôi được phân đi các nước, học các ngành nghề khác nhau. Đi Liên xô có tôi và Anh Minh về trường Pháo binh Pen-za; Ngọc Chỉnh, Tuấn Quảng, Phạm Hưng, Nhân, Thắng “híp” về Ba-cu học tên lửa Hải quân, Đăng Sơn về trường Công binh Kaliningrad, Hoàng Tam Châu học ở Học viện thiết giáp Matxcơva; Nguyễn Văn Nam, Lê Kiên Thành về học lái tại Krasnodar… Riêng một số anh em trong đó có Tạ Xuân Sơn sang Ba lan đến Học viện Kỹ thuật quân sự Warsava, Lưu Minh Sơn sang Hungary học ở Đại học Bách khoa Budapest, Nam Điện sang Leipzig (Cộng hoà Dân chủ Đức) học in ấn...

Chúng tôi lên tầu từ Bằng Tường. Lại gặp lại đất nước Trung Hoa vĩ đại. Chuyến đi rất vui vì được đi cùng những bạn từ thủa “mặc quần đùi”. Khi qua các địa danh quen thuộc như Nam Ninh, Quế Lâm… gợi lại những kỷ niệm của những năm sống tại Y Trung, Phong Khẩu. Ở Việt Nam đang “quen” ăn đói, khi lên tầu liên vận quốc tế được “ăn cơm Tàu”, ai cũng khoái. Đến bữa có cô nhân viên rất xinh, mặc đồng phục, đội mũ kê-pi đến từng cu-pê mời đi ăn, mà lại nói bằng tiếng Việt mới sướng! Đến Bắc Kinh, chúng tôi nghỉ vài ngày tại khách sạn Bắc Vĩ, được đi tham quan Cố cung, Di Hoà Viên... Trước khi rời Lạng Sơn, mọi người rủ nhau mua vài kí thuốc lá cuốn Lạng Sơn, vàng ươm, để “làm lương khô” đi đường. Trên tầu liên vận Trung Quốc có nhiều họa báo, tạp chí tuyên truyền, trong đó có tạp chí Pekin Review in trên giấy pô-luya mỏng tang, dùng cuốn thuốc lá rất tuyệt. (Tuy vậy không ai dám “đọc nhiều”, mỗi người chỉ thủ vài cuốn để sang đất Nga dùng dần). Sau đó, tiếp tục hành trình lên phương bắc sang Liên xô qua đường Mãn Châu Lý. Sang đất Nga, đoàn tầu đổi bánh ở Kur-scơ, lần đầu tiên vào “toa bếp” ăn cơm Tây, phải dùng tới dao, dĩa. Thật phiền toái! Đứa nào cũng lóng ngóng, cả bọn vừa ăn vừa nhìn nhau cười khúc khích. Do tiếng tăm chưa thạo, khi gọi món có đứa vừa xì xồ thì bếp đã mang ra hai đĩa xúp, có bạn lại được những hai đĩa xa-lat. Mỗi khi tàu dừng ở các ga trên đất Nga, chúng tôi xuống ga, cánh “ghiền thuốc” mang thuốc lá cuốn ra mời bạn, còn dân Nga thì mời lại “thuốc có cán”. Hai bên hút phì phèo và nói cười vui vẻ, (nhẩm tính, có lẽ bạn thiệt hơn mình!). Tầu về đến Matxcơva, chúng tôi được chú Hải, tuỳ viên quân sự, ra đón và phân về các trường. Anh em Trỗi tạm chia tay nhau.

Riêng tôi và Anh Minh, khi về đến trường Pháo binh Penza thì thật may vì gặp ngay những khuôn mặt quen thuộc của mấy ông anh Trỗi. Khoá 2 có các anh Chu Kỳ Minh, Phạm Gia Lương, Nhật Minh, Phạm Sơn, Duy…; khóa 3 có các anh Từ Linh, Lữ Thái, Vương Minh Sách, Chính, Hoàng… Đang buồn và lớ ngớ vì mới xa nhà, chúng tôi liền nhận được sự giúp đỡ của các ông anh; từ những việc rất nhỏ như mua một tuýp thuốc đánh răng, sắm bộ quần áo chống rét, cho đến cách học hành, giao tiếp. Thời gian đó tại trường Pen-za có khoảng 100 học viên Việt Nam, trong đó có đến vài chục anh em Trỗi các khóa 2, 3 và 6.

Ngày nghỉ, các anh hay rủ chúng tôi đi xem phim, chơi bóng đá, chơi cờ vua hay hoạt động những môn thể thao mùa đông như trượt băng, trượt tuyết. Lâu lâu lại đi chợ mua thực phẩm về nấu các món ăn dân tộc (nem rán, chân giò nấu măng…) để cải thiện và nguôi đi nỗi nhớ nhà. Mỗi khi ai có thư nhà sang thì chẳng kém gì ngày hội, đọc rồi chuyền tay nhau xem. Thời đó đất nước còn chiến tranh nên kỷ luật tại các trường quân sự tại Liên xô rất nghiêm. Phòng Tuỳ viên quy định khi ra ngoài doanh trại, đi chơi phố, phải theo “tổ tam tam”. Vốn có tinh thần đồng đội, đi đâu mấy anh em Trỗi cũng rủ nhau nên không vi phạm nội quy lại rất thoải mái vì bạn bè tâm đầu ý hợp. Mùa hè, các anh còn rủ chúng tôi xuống nông trang thu hoạch lê, táo giúp dân hoặc đi “pic-níc” câu cá. Đây cũng là dịp để tìm hiểu thêm đời sống văn hoá, xã hội của dân bản địa và trau dồi thêm vốn tiếng Nga. Quả thật nhờ gần các em gái Nga nên đứa nào cũng “nói sõi hẳn ra”.

Kết quả học tập của cánh lính Trỗi rất khá. Tôi nhớ mãi năm 1973, 1974 trong hai kì bảo vệ tốt nghiệp được mời đi dự, các anh Chu Kì Minh, Từ Linh, Lữ Thái được nhà trường trao bằng đỏ, còn anh Nhật Minh được trao huy chương vàng - phần thưởng cao quý nhất cho những học viên trong 5 năm học đạt toàn điểm 5 (điểm cao nhất)! Từ đó trở đi, học viên các nước rất khâm phục học viên Việt Nam. Còn chúng tôi rất tự hào và lấy đó làm tấm gương để tự phấn đấu vươn lên.

Sau này, tốt nghiệp về nước, chúng tôi thường xuống công tác tại các đơn vị nên cũng có điều kiện để gặp nhau. Cho đến nay, nhiều người đã chuyển ngành, giải ngũ, thậm chí về hưu nhưng mỗi khi gặp lại vẫn nhận ra nhau và sống thân thiết như thủa cách đây mấy chục năm về trước. Chỉ tiếc rằng thời gian trôi qua không chỉ làm cho tóc ta thêm bạc mà còn làm cho tửu lượng ngày một giảm đi. Xin tạm dùng lời một bài hát mà ca sĩ Mỹ Tâm hay hát để kết: Ước gì cho thời gian trở lại! Ước gì…...

V.Đ.B

 

166 - Từ báo tường tới chiến trường – Vũ Hòa Bình, Nguyễn Xuân Lộc K6, SRTKL2: 651-658



Từ báo tường
tới chiến trường

“Hình ảnh người chiến sĩ giải phóng
với khẩu B40 trên vai…”



Ghi theo lời kể của Vũ Hòa Bình (khóa 6)
NGUYỄN XUÂN LỘC
Học sinh khóa 6

refont.com - Glitter textà học sinh trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi, không ai trong chúng ta có thể quên được những tờ bích báo, báo liếp, báo tường, được “xuất bản” vào đầu mỗi năm học mới. Ngày ở Đại Từ, trường ta đã có Ngày Hội báo toàn trường; khá rầm rộ, quy mô. Các “cây vẽ” của các lớp tha hồ khoe “hoa” tay, có bạn còn được bố trí nghỉ tăng gia buổi chiều để ở nhà sáng tác… Khi sang Quế Lâm, việc ra báo được tổ chức quy củ hơn. Báo được nâng cả về nội dung lẫn hình thức.

Hình ảnh người chiến sĩ giải phóng miền Nam: đầu đội mũ tai bèo, chân xỏ dép cao su, áo nhét trong quần, tấm vải dù ngụy trang bay phấp phới sau lưng, khẩu B40 vác trên vai sẵn sàng bắn cháy xe tăng địch được các “họa sĩ tí hon” thể hiện rất nhiều trên mặt báo. Có chân trong nhóm làm báo của trung đội, tôi cũng đã từng hai lần vẽ hình ảnh này.

Và thật bất ngờ, tại chiến trường đỏ lửa Quảng Trị năm 1972, tôi lại chính là người nâng khẩu B40 trên vai, mắt ngắm vào chiếc xe thiết giáp của địch, bóp cò… và xe địch bốc cháy! Thế là hình ảnh trên báo tường ngày nào nay đã trở thành chuyện có thật trong đời!

Thật là thú vị! Kỷ niệm về đời lính có biết bao vui buồn sâu đậm, nay xin kể theo lối tản văn để cùng tâm sự.

 

CHUYỆN SAU KHI RỜI TRƯỜNG TRỖI

Giữa năm 1970, trường ta kết thúc đào tạo. Khóa 6 cũng vừa hoàn thành chương trình lớp 9 phổ thông. Tôi cùng nhiều bạn được trả về gia đình, tiếp tục học lớp 10 tại Hà nội. Niên khóa 1970-1971 trôi qua rất nhanh. Chưa kịp hết tính nhát gái (do sống nhiều năm với toàn các bạn trai), thì đã phải đối mặt với kỳ thi đại học năm 1971. Ba tôi khuyên: “Nước ta là nước nông nghiệp, nên chọn ngành chế biến thực phẩm, con ạ!”. “Vâng, con sẽ thi vào Đại học Công nghiệp nhẹ”. Thi đỗ, tôi nhập học. trường sơ tán trên Thái Nguyên. Loáng một cái đã gần hết năm thứ nhất. Năm 1972 sắp đến sẽ là năm bản lề, năm bầu cử Tổng thống Mỹ. Bộ Chính trị quyết định tung ra những cú đấm chiến lược, nhằm xoay chuyển tình thế trên bàn đàm phán. Nhưng hầu hết thanh niên miền Bắc, trước đó, đã dồn ra mặt trận, số còn lại hơi mỏng, nói chính xác hơn là thiếu quân trầm trọng. Vậy là, đợt này phải huy động cả sinh viên, học sinh cấp III (lực lượng mà trước đây chưa phải động đến). Cùng anh em trong lớp, tôi viết đơn tình nguyện vào quân đội. Đời lính thực sự bắt đầu!

 

LÀ TÂN BINH HAY CỰU BINH ?

Tháng 5 năm 1972, tôi nhập ngũ. Vậy tôi là “tân binh” ư? Không! Qua 5 năm rèn luyện dưới mái trường Thiếu sinh quân, tôi đã là một người lính thực thụ. Ngay cả khi đi ăn cơm cũng phải xếp hàng đi đều cơ mà. Nói là “tái ngũ” nghe có vẻ chuẩn hơn! Cũng nhờ những buổi chiều tập xà đơn, xà kép và đá bóng thường xuyên ngày còn ở trường mà sức tôi khá dẻo dai. Cánh thư sinh Hà Nội còn gọi tôi bằng “anh” ngọt xớt, dù ngang tuổi. Tôi là cái đầu tầu kéo băng băng mọi việc trong đơn vị. Bếp Hoàng Cầm - tôi đào. Vác gạo đạn - tôi lãnh. Thu dung 1 giáo dục - tôi lên lớp. Động viên lính mới lúc hành quân - tôi pha trò, kể chuyện. “Đạ là lính Trội thì cải chi cụng mần được hết tròi!” 2

Ba tôi là chiến sĩ Nam tiến 1945, cán bộ cao cấp ngành Công an. Vậy tôi có được ưu tiên gì không? Xin trả lời: Có và không! Nhớ những ngày hành quân và chiến đấu tại mặt trâïn Quảng Trị, có lẽ tôi đã được cấp trên ưu tiên khi giao nhiệm vụ làm trung đội trưởng vận tải trợ chiến, không phải cắm trên chốt liên tục. Còn tháng 4 năm 1975, một trợ lý cán bộ đã hỏi xem tôi có đi học 7 năm về quân báo tại Cộng hòa Dân chủ Đức không. Tôi đã từ chối vì đang là người lính tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Ngoài những điều đó, tôi đã phải trải qua mọi thử thách như với những chiến sĩ bộ binh khác. Suốt một thời gian từ tháng 9 năm 1972 đến tháng 9 năm 1975, tôi luôn là lính của tiểu đoàn 3, trung đoàn 101, sư đoàn 325, quân đoàn 2.

 

ĐÊM CHIẾN TRƯỜNG
GIỐNG NHỮNG ĐÊM BẮC THÁI

n tượng sâu sắc của những ngày đầu mới nhập trường có nhiều, nhưng đặc biệt nhất là bầu trời đêm. Mới rời Thủ đô mà những buổi tối chỉ ở trong bốn bức tường sáng điện; đến khi lên trường thì màn đêm sát ngay cạnh cửa sổ, chỉ giới hạn bởi ngọn đèn dầu. Nhìn qua mái lá đã là bầu trời. Trong các buổi sinh hoạt trung đội, đại đội, tha hồ mà ngắm các vì sao lung linh. Tôi còn nhớ trong một bài báo liếp, một bạn cùng lớp đã trích dẫn một câu rất hay: “Tuổi trẻ là cảm được sự tươi mới”. Đúng quá! Trời đêm rừng Tam Đảo trong lành dễ thấm vào tâm hồn chú chiến sĩ 11-12 tuổi, để chú bồi hồi khắc khoải mỗi lần ngẫm đến nó.

Sau này vào chiến trường, có nhiều đêm nằm chờ đến giờ G – giờ hành động. Rừng Trường Sơn cũng hao hao giống rừng Bắc Thái. Và cái cảm giác chờ đợi phút giây lịch sử, chuyển trạng thái cũng hệt như cảm giác ngày mới lên rừng. Bâng khuâng, khắc khoải, chờ đợi! Số phận của từng người đã gắn liền với vận mệnh của dân tộc. Nó làm chúng ta gắn kết lại - lớn lên - tự hào và hạnh phúc!

 

SỰ ÁC LIỆT CỦA MẶT TRẬN QUẢNG TRỊ

Thật không bút nào tả xiết sự ác liệt ấy! Cái thời trẻ con, chúng ta có lẽ chỉ vài lần liều mạng trèo me, trèo sấu mà kể đi kể lại suốt cho chúng bạn cùng nghe. Còn khi chúng tôi ở Quảng Trị năm 1972 thì phải đối chọi và như chơi “ú tim” với thần chết, hầu như mỗi ngày. Phải tiếp tế cho chốt, mỗi ngày một lần. Khi đi: đeo trên vai lương thực, vũ khí, thuốc men; khi về: cáng, cõng thương binh, liệt sĩ. Quãng đường chỉ độ hai cây số mà phải hứng đủ loại bom đạn, dồn dập và ác liệt. Tôi đã gọi là “ú tim” vì phải đoán quy luật mà đi. Hôm nay nó bắn pháo bên phải hay bên trái, nó ném bom tọa độ hay cường kích, nó tung biệt kích hay chỉ có máy bay trinh sát, pháo bầy bắn ngẫu nhiên hay quãng cách theo thời gian? Mà đoán trúng cũng chỉ là 70%, còn thì phải liều mà đi(!). Bây giờ ngẫm lại, thấy mình thoát được ngần ấy bom đạn vẫn không lí giải nổi vì sao?!

Đã có lần tôi suýt bị bắt làm tù binh. Chính thói quen nghi binh do hay chơi đánh trận giả hồi bé đã cứu thoát. Lần ấy, trước khi đưa tiểu đội vận tải lên chốt, tôi đã chọn một cây cao làm vật chuẩn. Lúc về, tôi cùng một đồng đội cáng một thương binh. Do vũ khí cồng kềnh nên nhóm chúng tôi rút về cứ cuối cùng. Nhìn sang cây cao làm vật chuẩn thấy mất tiêu rồi! Bom đạn đã tiện ngang thân nó. Trời gần tối và ba chúng tôi đã bị lạc sang phía địch. Gay quá! Đang bò sau một bụi cây thì thấy tiểu liên địch nã liên hồi về phía chúng tôi. Chờ tới khi tối trời mới tìm đường về (như trong các bộ phim chiến đấu “hồi hộp”) thì bị bắt là cái chắc. Tôi đoán địch đã quan sát rõ chúng tôi, nhưng chưa dám xông ra vì trời còn sáng, sợ ăn đạn. Chúng sẽ đợi đến tối mới cất vó. Quan sát lại thật kỹ, tôi đã nhận ra một hố bom quen thuộc. Đáng lẽ phải đi từ chốt về phía sau thì lòng vòng thế nào, chúng tôi lại ra phía trước chốt quân ta, cách khoảng 100m. Địa hình hoàn toàn trống trải. Lúc này là lúc cần có óc sáng tạo. Tôi lấy chiếc mũ tai bèo và một chiếc áo quân phục khoác lên một chạc cây, buộc dây dù vào thân cây rồi thòng dây bò đi. Tôi bế xốc đồng chí thương binh lên vai rồi nói với cậu chiến sĩ đi theo: “Bây giờ cậu sẽ rung dây, khi địch bắn vào hình nộm thì tôi sẽ vọt tiến vào hố bom. Cậu phải nhanh tay ném một quả lựu đạn rồi vọt theo tôi vào hố bom”. Đợi cho trời nhá nhem tối, tôi hạ lệnh: “Rung!”, rồi chạy thật nhanh ra hố bom. May quá, cả ba chui tọt vào hố bom mà không ai việc gì. Đang tính cách đi tiếp vì từ hố bom về đến chốt của ta chỉ còn 40m thì đồng đội trên chốt đã nhìn thấy, nã đạn liên tiếp về phía địch và đón được chúng tôi về tới. Hú vía!

 

TRẬN THẮNG ĐÃ ĐỜI NHẤT!

Đó chính là trận Cửa Việt, vào dịp trước Tết Nguyên đán 1973. Sau này, cuộc hành quân thần tốc táo bạo truy kích địch suốt ven biển miền Trung cũng vui nhưng trận Cửa Việt, với tôi, đáng nhớ nhất! Đó là trận đầu tiên đánh ngụy mà không phải hứng chịu hỏa lực bom pháo của Mỹ vì Hiệp định Paris đã kí kết. Trận này ta đã chuẩn bị kỹ. Đo phần tử pháo sẵn sàng. Nấp kín, ngụy trang kỹ như hổ sắp vồ mồi. Hằng trăm xe địch nằm ngâm trong cát, không lên bờ được, bị trúng hàng trăm phát đạn pháo của ta. Pháo binh giã thoải mái! Cả một lữ đoàn cơ giới tăng cường bị tiêu diệt hoàn toàn. Cảnh chiến trường trông như trong bộ phim “Giải phóng” của Điện ảnh Xô Viết quay về Chiến tranh thế giới lần thứ Hai. Trận này đơn vị tôi bố trí ở xa, biết là bắn chẳng tới nhưng vẫn nã AK thoải mái về phía địch(!).


CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ

Bây giờ xin kể về trận đánh xe địch. Đó là ngày 29 tháng 12 năm 1972, cùng với thời gian Chiến dịch 12 ngày đêm đang diễn ra trên miền Bắc. Đã hai tuần nay, hầu như địch không hề ném bom vào khu vực đơn vị tôi đóng quân. Với lính vận tải, đây thật là một dịp may! Gặp thời cơ ít bị phi pháo, trung đội vận tải nhỏ bé của tôi tranh thủ tăng chuyến tăng hàng. Thường là một ngày một chuyến, bây giờ thì ngày hai, ba chuyến. Hôm ấy, tôi vác một chùm đầu đạn B40 trên vai, một chiến sĩ mới đi kèm vác bó thân súng. Đã gần đến trân địa, trời còn sớm, nhưng không thấy ai. Tôi hơi lo lo. Bỗng thấy một cái đầu nhô lên từ công sự, một chiến sĩ trẻ gọi to: “Anh Bình, các anh bảo lên đường lớn ngay, tăng cường lực lượng đánh địch mới nống ra”. Thì ra, bọn ngụy thấy quan thầy Mỹ ném bom Hà Nội và nghĩ “thời cơ” của chúng đã đến, liền điều một đoàn cả tăng lẫn thiết giáp “chọc” vào tuyến phòng ngự của tiểu đoàn tôi. Tôi hạ ngay đạn trên vai xuống, lắp vào thân súng rồi vận động ra đường lớn. Ra tới nơi đã thấy lính ta nằm rải dọc vệ đường. Một đoàn 15 chiếc xe sắp vào tầm ngắm. Sao ngon lành quá vậy? Sau này mới biết, trinh sát kỹ thuật của ta đã dò sóng đàm thoại và bắt được tin địch truyền lệnh hành quân. Lập tức ta đã tổ chức đón lõng. Đại đội trưởng từ xa ra ký ám hiệu phân công tôi đánh chiếc xe thiết giáp M113 chạy ngay sau xe tăng M41. Vừa gật đầu đã thấy phía đó đạn chống tăng nổ ầm ầm. Tôi giương súng lên ngắm thật cẩn thận, khi xe địch vừa dừng lại, tôi bóp cò. Trúng rồi! Nếu bạn hỏi cảm giác lúc nhìn xe địch cháy như thế nào thì tôi xin trả lời: Vừa nhìn thấy xác nó tung ra như làm bằng cac-tông chứ không phải bằng thép, lòng tôi bỗng rạo rực! Sau đó tôi còn bắn hai quả đạn nữa, nhưng khi về bình công thì không được tính. (Có lẽ nó đã trúng đạn của chiến sĩ khác trước rồi). Đoàn xe địch bị tiêu diệt hoàn toàn!


TÌNH BÈ BẠN, TÌNH ĐỒNG CHÍ

Khóa 6 là khóa có nhiều bạn trực tiếp cầm súng chiến đấu như Nguyễn Duy Đảo, Vũ Hòa Bình – lính bộ binh Quảng Trị; Đinh Ngọc Quân, Cao Tuấn Anh – lính cao xạ phòng không Trường Sơn (1971-1972); Trần Thành Công, Nguyễn Anh Tuấn – trắc thủ tên lửa; Chu Tấn Quang, Nguyễn Việt Thành (Thành “vẹo”) - cùng là bộ binh mặt trận Tây nguyên (1971-1972), Võ Nguyên Trọng – lính bộ binh sư đoàn 1 (mặt trận Tây Nam Bộ), cả ba đều đã hy sinh; Lê Quốc Bình - lính pháo cao xạ tham gia trận “Điện Biên Phủ trên không”; Ngô Việt Trung, Nguyễn Tiến Quân - lính pháo tham gia chiến tranh biên giới; Dương Thái Biên, Nguyễn Văn Nam, Võ Hồng Thế tham gia đánh Pôn Pốt cùng nhiều bạn khác…

Sinh ra từ những gia đình có cha mẹ đã từng khoác áo lính, cho đến khi được tập trung về học tập, rèn luyện dưới mái trường quân đội, tất cả chúng ta đã “sinh ra trong khói lửa”, đã chiến đấu hy sinh vì Tổ quốc Việt Nam, vì màu cờ đỏ “Bách chiến, Bách thắng” của Quân đội Nhân dân Việt Nam anh hùng. Cho đến giờ, khi tóc trên đầu đã điểm bạc, trong trái tim chúng ta vẫn giữ một tình yêu thiêng liêng với màu xanh của lính - màu xanh thân thương rất đỗi Việt Nam!

Thành phố, tháng 7-2003
N.X.L




1.  Những bộ đội yếu kém, đào ngũ.
2.  “Đã là lính Trỗi thì cái chi cũng mần được hết trọi!”




Từ báo tường
tới chiến trường

“Hình ảnh người chiến sĩ giải phóng
với khẩu B40 trên vai…”



Ghi theo lời kể của Vũ Hòa Bình (khóa 6)
NGUYỄN XUÂN LỘC
Học sinh khóa 6

refont.com - Glitter textà học sinh trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi, không ai trong chúng ta có thể quên được những tờ bích báo, báo liếp, báo tường, được “xuất bản” vào đầu mỗi năm học mới. Ngày ở Đại Từ, trường ta đã có Ngày Hội báo toàn trường; khá rầm rộ, quy mô. Các “cây vẽ” của các lớp tha hồ khoe “hoa” tay, có bạn còn được bố trí nghỉ tăng gia buổi chiều để ở nhà sáng tác… Khi sang Quế Lâm, việc ra báo được tổ chức quy củ hơn. Báo được nâng cả về nội dung lẫn hình thức.

Hình ảnh người chiến sĩ giải phóng miền Nam: đầu đội mũ tai bèo, chân xỏ dép cao su, áo nhét trong quần, tấm vải dù ngụy trang bay phấp phới sau lưng, khẩu B40 vác trên vai sẵn sàng bắn cháy xe tăng địch được các “họa sĩ tí hon” thể hiện rất nhiều trên mặt báo. Có chân trong nhóm làm báo của trung đội, tôi cũng đã từng hai lần vẽ hình ảnh này.

Và thật bất ngờ, tại chiến trường đỏ lửa Quảng Trị năm 1972, tôi lại chính là người nâng khẩu B40 trên vai, mắt ngắm vào chiếc xe thiết giáp của địch, bóp cò… và xe địch bốc cháy! Thế là hình ảnh trên báo tường ngày nào nay đã trở thành chuyện có thật trong đời!

Thật là thú vị! Kỷ niệm về đời lính có biết bao vui buồn sâu đậm, nay xin kể theo lối tản văn để cùng tâm sự.

 

CHUYỆN SAU KHI RỜI TRƯỜNG TRỖI

Giữa năm 1970, trường ta kết thúc đào tạo. Khóa 6 cũng vừa hoàn thành chương trình lớp 9 phổ thông. Tôi cùng nhiều bạn được trả về gia đình, tiếp tục học lớp 10 tại Hà nội. Niên khóa 1970-1971 trôi qua rất nhanh. Chưa kịp hết tính nhát gái (do sống nhiều năm với toàn các bạn trai), thì đã phải đối mặt với kỳ thi đại học năm 1971. Ba tôi khuyên: “Nước ta là nước nông nghiệp, nên chọn ngành chế biến thực phẩm, con ạ!”. “Vâng, con sẽ thi vào Đại học Công nghiệp nhẹ”. Thi đỗ, tôi nhập học. trường sơ tán trên Thái Nguyên. Loáng một cái đã gần hết năm thứ nhất. Năm 1972 sắp đến sẽ là năm bản lề, năm bầu cử Tổng thống Mỹ. Bộ Chính trị quyết định tung ra những cú đấm chiến lược, nhằm xoay chuyển tình thế trên bàn đàm phán. Nhưng hầu hết thanh niên miền Bắc, trước đó, đã dồn ra mặt trận, số còn lại hơi mỏng, nói chính xác hơn là thiếu quân trầm trọng. Vậy là, đợt này phải huy động cả sinh viên, học sinh cấp III (lực lượng mà trước đây chưa phải động đến). Cùng anh em trong lớp, tôi viết đơn tình nguyện vào quân đội. Đời lính thực sự bắt đầu!

 

LÀ TÂN BINH HAY CỰU BINH ?

Tháng 5 năm 1972, tôi nhập ngũ. Vậy tôi là “tân binh” ư? Không! Qua 5 năm rèn luyện dưới mái trường Thiếu sinh quân, tôi đã là một người lính thực thụ. Ngay cả khi đi ăn cơm cũng phải xếp hàng đi đều cơ mà. Nói là “tái ngũ” nghe có vẻ chuẩn hơn! Cũng nhờ những buổi chiều tập xà đơn, xà kép và đá bóng thường xuyên ngày còn ở trường mà sức tôi khá dẻo dai. Cánh thư sinh Hà Nội còn gọi tôi bằng “anh” ngọt xớt, dù ngang tuổi. Tôi là cái đầu tầu kéo băng băng mọi việc trong đơn vị. Bếp Hoàng Cầm - tôi đào. Vác gạo đạn - tôi lãnh. Thu dung 1 giáo dục - tôi lên lớp. Động viên lính mới lúc hành quân - tôi pha trò, kể chuyện. “Đạ là lính Trội thì cải chi cụng mần được hết tròi!” 2

Ba tôi là chiến sĩ Nam tiến 1945, cán bộ cao cấp ngành Công an. Vậy tôi có được ưu tiên gì không? Xin trả lời: Có và không! Nhớ những ngày hành quân và chiến đấu tại mặt trâïn Quảng Trị, có lẽ tôi đã được cấp trên ưu tiên khi giao nhiệm vụ làm trung đội trưởng vận tải trợ chiến, không phải cắm trên chốt liên tục. Còn tháng 4 năm 1975, một trợ lý cán bộ đã hỏi xem tôi có đi học 7 năm về quân báo tại Cộng hòa Dân chủ Đức không. Tôi đã từ chối vì đang là người lính tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Ngoài những điều đó, tôi đã phải trải qua mọi thử thách như với những chiến sĩ bộ binh khác. Suốt một thời gian từ tháng 9 năm 1972 đến tháng 9 năm 1975, tôi luôn là lính của tiểu đoàn 3, trung đoàn 101, sư đoàn 325, quân đoàn 2.

 

ĐÊM CHIẾN TRƯỜNG
GIỐNG NHỮNG ĐÊM BẮC THÁI

n tượng sâu sắc của những ngày đầu mới nhập trường có nhiều, nhưng đặc biệt nhất là bầu trời đêm. Mới rời Thủ đô mà những buổi tối chỉ ở trong bốn bức tường sáng điện; đến khi lên trường thì màn đêm sát ngay cạnh cửa sổ, chỉ giới hạn bởi ngọn đèn dầu. Nhìn qua mái lá đã là bầu trời. Trong các buổi sinh hoạt trung đội, đại đội, tha hồ mà ngắm các vì sao lung linh. Tôi còn nhớ trong một bài báo liếp, một bạn cùng lớp đã trích dẫn một câu rất hay: “Tuổi trẻ là cảm được sự tươi mới”. Đúng quá! Trời đêm rừng Tam Đảo trong lành dễ thấm vào tâm hồn chú chiến sĩ 11-12 tuổi, để chú bồi hồi khắc khoải mỗi lần ngẫm đến nó.

Sau này vào chiến trường, có nhiều đêm nằm chờ đến giờ G – giờ hành động. Rừng Trường Sơn cũng hao hao giống rừng Bắc Thái. Và cái cảm giác chờ đợi phút giây lịch sử, chuyển trạng thái cũng hệt như cảm giác ngày mới lên rừng. Bâng khuâng, khắc khoải, chờ đợi! Số phận của từng người đã gắn liền với vận mệnh của dân tộc. Nó làm chúng ta gắn kết lại - lớn lên - tự hào và hạnh phúc!

 

SỰ ÁC LIỆT CỦA MẶT TRẬN QUẢNG TRỊ

Thật không bút nào tả xiết sự ác liệt ấy! Cái thời trẻ con, chúng ta có lẽ chỉ vài lần liều mạng trèo me, trèo sấu mà kể đi kể lại suốt cho chúng bạn cùng nghe. Còn khi chúng tôi ở Quảng Trị năm 1972 thì phải đối chọi và như chơi “ú tim” với thần chết, hầu như mỗi ngày. Phải tiếp tế cho chốt, mỗi ngày một lần. Khi đi: đeo trên vai lương thực, vũ khí, thuốc men; khi về: cáng, cõng thương binh, liệt sĩ. Quãng đường chỉ độ hai cây số mà phải hứng đủ loại bom đạn, dồn dập và ác liệt. Tôi đã gọi là “ú tim” vì phải đoán quy luật mà đi. Hôm nay nó bắn pháo bên phải hay bên trái, nó ném bom tọa độ hay cường kích, nó tung biệt kích hay chỉ có máy bay trinh sát, pháo bầy bắn ngẫu nhiên hay quãng cách theo thời gian? Mà đoán trúng cũng chỉ là 70%, còn thì phải liều mà đi(!). Bây giờ ngẫm lại, thấy mình thoát được ngần ấy bom đạn vẫn không lí giải nổi vì sao?!

Đã có lần tôi suýt bị bắt làm tù binh. Chính thói quen nghi binh do hay chơi đánh trận giả hồi bé đã cứu thoát. Lần ấy, trước khi đưa tiểu đội vận tải lên chốt, tôi đã chọn một cây cao làm vật chuẩn. Lúc về, tôi cùng một đồng đội cáng một thương binh. Do vũ khí cồng kềnh nên nhóm chúng tôi rút về cứ cuối cùng. Nhìn sang cây cao làm vật chuẩn thấy mất tiêu rồi! Bom đạn đã tiện ngang thân nó. Trời gần tối và ba chúng tôi đã bị lạc sang phía địch. Gay quá! Đang bò sau một bụi cây thì thấy tiểu liên địch nã liên hồi về phía chúng tôi. Chờ tới khi tối trời mới tìm đường về (như trong các bộ phim chiến đấu “hồi hộp”) thì bị bắt là cái chắc. Tôi đoán địch đã quan sát rõ chúng tôi, nhưng chưa dám xông ra vì trời còn sáng, sợ ăn đạn. Chúng sẽ đợi đến tối mới cất vó. Quan sát lại thật kỹ, tôi đã nhận ra một hố bom quen thuộc. Đáng lẽ phải đi từ chốt về phía sau thì lòng vòng thế nào, chúng tôi lại ra phía trước chốt quân ta, cách khoảng 100m. Địa hình hoàn toàn trống trải. Lúc này là lúc cần có óc sáng tạo. Tôi lấy chiếc mũ tai bèo và một chiếc áo quân phục khoác lên một chạc cây, buộc dây dù vào thân cây rồi thòng dây bò đi. Tôi bế xốc đồng chí thương binh lên vai rồi nói với cậu chiến sĩ đi theo: “Bây giờ cậu sẽ rung dây, khi địch bắn vào hình nộm thì tôi sẽ vọt tiến vào hố bom. Cậu phải nhanh tay ném một quả lựu đạn rồi vọt theo tôi vào hố bom”. Đợi cho trời nhá nhem tối, tôi hạ lệnh: “Rung!”, rồi chạy thật nhanh ra hố bom. May quá, cả ba chui tọt vào hố bom mà không ai việc gì. Đang tính cách đi tiếp vì từ hố bom về đến chốt của ta chỉ còn 40m thì đồng đội trên chốt đã nhìn thấy, nã đạn liên tiếp về phía địch và đón được chúng tôi về tới. Hú vía!

 

TRẬN THẮNG ĐÃ ĐỜI NHẤT!

Đó chính là trận Cửa Việt, vào dịp trước Tết Nguyên đán 1973. Sau này, cuộc hành quân thần tốc táo bạo truy kích địch suốt ven biển miền Trung cũng vui nhưng trận Cửa Việt, với tôi, đáng nhớ nhất! Đó là trận đầu tiên đánh ngụy mà không phải hứng chịu hỏa lực bom pháo của Mỹ vì Hiệp định Paris đã kí kết. Trận này ta đã chuẩn bị kỹ. Đo phần tử pháo sẵn sàng. Nấp kín, ngụy trang kỹ như hổ sắp vồ mồi. Hằng trăm xe địch nằm ngâm trong cát, không lên bờ được, bị trúng hàng trăm phát đạn pháo của ta. Pháo binh giã thoải mái! Cả một lữ đoàn cơ giới tăng cường bị tiêu diệt hoàn toàn. Cảnh chiến trường trông như trong bộ phim “Giải phóng” của Điện ảnh Xô Viết quay về Chiến tranh thế giới lần thứ Hai. Trận này đơn vị tôi bố trí ở xa, biết là bắn chẳng tới nhưng vẫn nã AK thoải mái về phía địch(!).


CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ

Bây giờ xin kể về trận đánh xe địch. Đó là ngày 29 tháng 12 năm 1972, cùng với thời gian Chiến dịch 12 ngày đêm đang diễn ra trên miền Bắc. Đã hai tuần nay, hầu như địch không hề ném bom vào khu vực đơn vị tôi đóng quân. Với lính vận tải, đây thật là một dịp may! Gặp thời cơ ít bị phi pháo, trung đội vận tải nhỏ bé của tôi tranh thủ tăng chuyến tăng hàng. Thường là một ngày một chuyến, bây giờ thì ngày hai, ba chuyến. Hôm ấy, tôi vác một chùm đầu đạn B40 trên vai, một chiến sĩ mới đi kèm vác bó thân súng. Đã gần đến trân địa, trời còn sớm, nhưng không thấy ai. Tôi hơi lo lo. Bỗng thấy một cái đầu nhô lên từ công sự, một chiến sĩ trẻ gọi to: “Anh Bình, các anh bảo lên đường lớn ngay, tăng cường lực lượng đánh địch mới nống ra”. Thì ra, bọn ngụy thấy quan thầy Mỹ ném bom Hà Nội và nghĩ “thời cơ” của chúng đã đến, liền điều một đoàn cả tăng lẫn thiết giáp “chọc” vào tuyến phòng ngự của tiểu đoàn tôi. Tôi hạ ngay đạn trên vai xuống, lắp vào thân súng rồi vận động ra đường lớn. Ra tới nơi đã thấy lính ta nằm rải dọc vệ đường. Một đoàn 15 chiếc xe sắp vào tầm ngắm. Sao ngon lành quá vậy? Sau này mới biết, trinh sát kỹ thuật của ta đã dò sóng đàm thoại và bắt được tin địch truyền lệnh hành quân. Lập tức ta đã tổ chức đón lõng. Đại đội trưởng từ xa ra ký ám hiệu phân công tôi đánh chiếc xe thiết giáp M113 chạy ngay sau xe tăng M41. Vừa gật đầu đã thấy phía đó đạn chống tăng nổ ầm ầm. Tôi giương súng lên ngắm thật cẩn thận, khi xe địch vừa dừng lại, tôi bóp cò. Trúng rồi! Nếu bạn hỏi cảm giác lúc nhìn xe địch cháy như thế nào thì tôi xin trả lời: Vừa nhìn thấy xác nó tung ra như làm bằng cac-tông chứ không phải bằng thép, lòng tôi bỗng rạo rực! Sau đó tôi còn bắn hai quả đạn nữa, nhưng khi về bình công thì không được tính. (Có lẽ nó đã trúng đạn của chiến sĩ khác trước rồi). Đoàn xe địch bị tiêu diệt hoàn toàn!


TÌNH BÈ BẠN, TÌNH ĐỒNG CHÍ

Khóa 6 là khóa có nhiều bạn trực tiếp cầm súng chiến đấu như Nguyễn Duy Đảo, Vũ Hòa Bình – lính bộ binh Quảng Trị; Đinh Ngọc Quân, Cao Tuấn Anh – lính cao xạ phòng không Trường Sơn (1971-1972); Trần Thành Công, Nguyễn Anh Tuấn – trắc thủ tên lửa; Chu Tấn Quang, Nguyễn Việt Thành (Thành “vẹo”) - cùng là bộ binh mặt trận Tây nguyên (1971-1972), Võ Nguyên Trọng – lính bộ binh sư đoàn 1 (mặt trận Tây Nam Bộ), cả ba đều đã hy sinh; Lê Quốc Bình - lính pháo cao xạ tham gia trận “Điện Biên Phủ trên không”; Ngô Việt Trung, Nguyễn Tiến Quân - lính pháo tham gia chiến tranh biên giới; Dương Thái Biên, Nguyễn Văn Nam, Võ Hồng Thế tham gia đánh Pôn Pốt cùng nhiều bạn khác…

Sinh ra từ những gia đình có cha mẹ đã từng khoác áo lính, cho đến khi được tập trung về học tập, rèn luyện dưới mái trường quân đội, tất cả chúng ta đã “sinh ra trong khói lửa”, đã chiến đấu hy sinh vì Tổ quốc Việt Nam, vì màu cờ đỏ “Bách chiến, Bách thắng” của Quân đội Nhân dân Việt Nam anh hùng. Cho đến giờ, khi tóc trên đầu đã điểm bạc, trong trái tim chúng ta vẫn giữ một tình yêu thiêng liêng với màu xanh của lính - màu xanh thân thương rất đỗi Việt Nam!

Thành phố, tháng 7-2003
N.X.L




1.  Những bộ đội yếu kém, đào ngũ.
2.  “Đã là lính Trỗi thì cái chi cũng mần được hết trọi!”


176 - Đi tìm viếng mộ Karl Marx - Nguyễn Nam Điện K6, SRTKL2: 698-701



Phần VII:
... BỐN MƯƠI NĂM SAU




Đi tìm viếng mộ
Karl Marx


NGUYỄN NAM ĐIỆN
Học sinh khoá 6

Đã từ lâu trong thâm tâm tôi ước ao được đến thăm mộ Karl Marx, vị lãnh tụ vĩ đại, người thầy của giai cấp vô sản toàn thế giới. Khi còn nhỏ, tôi luôn được chiêm ngưỡng bức ảnh của ông mà bố tôi treo ngay trong phòng làm việc. Thời gian học ở trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi, tôi còn nhớ như in những bài giảng của thầy Thích về lịch sử đấu tranh của giai cấp công nhân, về thiên tài và vai trò của Karl Marx trong cuộc đấu tranh đó. Từ những bài giảng của thầy, bọn trẻ chúng tôi luôn kính yêu, ngưỡng mộ ông như kính yêu, ngưỡng mộ Lênin, Bác Hồ. Khi tôi vào đại học thì sách “gối đầu giường” chính là “Tuổi trẻ Karl Marx”, “Jenny Marx” và “Tình bạn vĩ đại và cảm động” - những cuốn sách kể về cuộc đời huyền thoại của Người. Còn nhớ hồi là sinh viên, tình cờ trong một bài học tiếng Anh tôi biết Karl Marx được yên nghỉ tại một nghĩa trang ở Luân đôn. Đối với lãnh tụ khác như Bác Hồ hoặc Lênin, ta cảm thấy có gì đó thật gần gũi vì được nghe, đọc nhiều thông tin với những kỷ vật hiện hữu; còn Karl Marx sống và mất ở Anh - một nước tư bản, lại rất ít thông tin về cuộc sống của Người, nên thế hệ chúng tôi luôn cảm thấy Karl Marx như một huyền thoại. Nhân chuyến công tác sang Anh, tôi quyết tâm đi tìm viếng mộ Karl Marx.

Đến Luân đôn, sau khi làm việc, có được ba ngày tự do, tôi và anh Thể (Giám đốc nhà máy in Báo Nhân dân) rủ nhau cùng đi tìm mộ Karl Marx. Hai anh em đến Đại sứ quán Việt Nam hỏi thông tin thì cán bộ ở đây tỏ ra ngạc nhiên về ý định này. Theo chỉ dẫn, chúng tôi thuê taxi đến một nghĩa trang lớn ở Luân-đôn, nhưng kiếm mãi không thấy, đành tìm gặp Ban quản trang. Phụ trách quản trang là một phụ nữ lịch sự và nhiệt tình, bà thông báo Karl Marx không được chôn ở nghĩa trang này. Nhìn ánh mắt thất vọng của chúng tôi, bà lên ngay mạng dò tìm danh sách, xem các nhân vật nổi tiếng được chôn cất ở đâu. Cuối cùng, bà cho biết tên nghĩa trang và địa chỉ nơi an táng Karl Marx. Một ngày hiếm hoi và quý báu trôi qua, chúng tôi chỉ có trong tay những thông tin ngắn ngủi như vậy.

Hôm sau, chúng tôi vẫn quyết lên đường. Mua một bó hoa đến viếng Người, khi trả tiền, tôi nói vui: “Hôm qua, ta quên không mang hoa thăm Cụ, chắc Cụ giận không cho gặp mặt!”. Ôm bó hoa một cách trang trọng, chúng tôi ra đứng đón taxi. Ở Luân-đôn đón taxi chạy ngang đường là một việc cực kỳ khó. Sau đúng hai tiếng đồng hồ, vẫy mỏi cả tay mà chẳng thể dừng được một chiếc taxi chạy không, chúng tôi đành quay về khách sạn. Chẳng biết có phải Luân-đôn ít hãng taxi hay sao mà kiếm một cái khó như thuê máy bay! Cuối cùng, tiếp tân cũng gọi được một anh chạy “xe dù” quen. Vậy là có xe để đi nhưng với giá cắt cổ - 70 bảng Anh (tính ra tiền Việt khoảng triệu rưỡi)!

Tác giả bên mộ Karl Marx.Tác giả bên mộ Karl Marx.

Xe đưa chúng tôi đến nghĩa trang Highgate ở ngoại ô Luân Đôn. Cô gái coi nghĩa trang có mái tóc vàng, xinh xắn, ra mở cổng và chỉ lối cho chúng tôi. Nghĩa trang Highgate nằm trong một cánh rừng rộng lớn, âm u, quạnh hiu. Dưới những tán cây rậm rạp là những bia mộ nằm sát mặt đất. Không khí lành lạnh của đất nước sương mù càng làm cho nghĩa trang thêm hiu quạnh. Mèo hoang và sóc nhiều vô kể, chúng tôi đi đến đâu là chúng rào rào chạy theo, chắc là bọn này đói và đã quen có người đến là sẽ có thức ăn cho chúng. Còn cụ Marx có lẽ cảm động trước sự chân tình của các cháu, nên chỉ một lúc là chúng tôi đã tìm thấy phần mộ của Người.

Mộ phần gia đình Karl Marx nằm gọn trong một khuôn viên rộng chừng tám mét vuông, được bao quanh bằng một hàng rào sắt cao 40cm. Mộ của Người chỉ với một phiến đá giản dị, bên cạnh là bia mộ của bà Jenny và các con. Phía sau là một bệ đá cao 2m có gắn tượng bán thân với vầng trán cao, thông minh, bộ râu quai nón rậm, Người nhìn thẳng về phía trước. Mặt bệ đá gắn dòng chữ “Công nhân các nước hãy đoàn kết lại!”. (Mà ngày xưa ta quen đọc là “Vô sản toàn thế giới liên hiệp lại!”). Phần mộ giản dị quá, thật tương phản với tầm vóc vĩ đại của Người, làm trào dâng trong tôi một cảm xúc mạnh mẽ. “Chao ôi! Lúc này sao mà ta được gần Người đến thế! Đã hơn nửa thế kỷ, Karl Marx như một vị thánh trong tâm tưởng của chính ta!”. Bó hoa lay-ơn đỏ rực chói chang, khi đặt bên mộ Karl Marx dường như nó đỏ hơn, dường như đang ứa máu! Người đã sống và cống hiến cả cuộc đời cho lý tưởng Cộng sản, nhưng Người không được hưởng hạnh phúc đón nhận vinh quang chiến thắng. “Hạnh phúc là đấu tranh” - đó là triết lí sống của Người. Người suốt đời sống theo phương châm ấy, luôn đấu tranh cho hạnh phúc của nhân loại. Đến khi nhắm mắt, Người vẫn sống trong thiếu thốn, khổ hạnh và đau đớn trong bệnh tật. Nhưng tư tưởng vĩ đại của Người đã thức tỉnh hàng triệu triệu công nhân và những người cần lao trên toàn thế giới, nhiều đất nước đã đi theo con đường mà Người khai sáng.

Đứng trước mộ Karl Marx, chúng tôi lặng đi trong niềm xúc cảm vô biên, quên cả thời gian, quên cả không gian...

 

Luân Đôn tháng 5-2000
Thành phố Hồ Chí Minh, 5-2004
N.N.Đ

 


Phần VII:
... BỐN MƯƠI NĂM SAU




Đi tìm viếng mộ
Karl Marx


NGUYỄN NAM ĐIỆN
Học sinh khoá 6

Đã từ lâu trong thâm tâm tôi ước ao được đến thăm mộ Karl Marx, vị lãnh tụ vĩ đại, người thầy của giai cấp vô sản toàn thế giới. Khi còn nhỏ, tôi luôn được chiêm ngưỡng bức ảnh của ông mà bố tôi treo ngay trong phòng làm việc. Thời gian học ở trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi, tôi còn nhớ như in những bài giảng của thầy Thích về lịch sử đấu tranh của giai cấp công nhân, về thiên tài và vai trò của Karl Marx trong cuộc đấu tranh đó. Từ những bài giảng của thầy, bọn trẻ chúng tôi luôn kính yêu, ngưỡng mộ ông như kính yêu, ngưỡng mộ Lênin, Bác Hồ. Khi tôi vào đại học thì sách “gối đầu giường” chính là “Tuổi trẻ Karl Marx”, “Jenny Marx” và “Tình bạn vĩ đại và cảm động” - những cuốn sách kể về cuộc đời huyền thoại của Người. Còn nhớ hồi là sinh viên, tình cờ trong một bài học tiếng Anh tôi biết Karl Marx được yên nghỉ tại một nghĩa trang ở Luân đôn. Đối với lãnh tụ khác như Bác Hồ hoặc Lênin, ta cảm thấy có gì đó thật gần gũi vì được nghe, đọc nhiều thông tin với những kỷ vật hiện hữu; còn Karl Marx sống và mất ở Anh - một nước tư bản, lại rất ít thông tin về cuộc sống của Người, nên thế hệ chúng tôi luôn cảm thấy Karl Marx như một huyền thoại. Nhân chuyến công tác sang Anh, tôi quyết tâm đi tìm viếng mộ Karl Marx.

Đến Luân đôn, sau khi làm việc, có được ba ngày tự do, tôi và anh Thể (Giám đốc nhà máy in Báo Nhân dân) rủ nhau cùng đi tìm mộ Karl Marx. Hai anh em đến Đại sứ quán Việt Nam hỏi thông tin thì cán bộ ở đây tỏ ra ngạc nhiên về ý định này. Theo chỉ dẫn, chúng tôi thuê taxi đến một nghĩa trang lớn ở Luân-đôn, nhưng kiếm mãi không thấy, đành tìm gặp Ban quản trang. Phụ trách quản trang là một phụ nữ lịch sự và nhiệt tình, bà thông báo Karl Marx không được chôn ở nghĩa trang này. Nhìn ánh mắt thất vọng của chúng tôi, bà lên ngay mạng dò tìm danh sách, xem các nhân vật nổi tiếng được chôn cất ở đâu. Cuối cùng, bà cho biết tên nghĩa trang và địa chỉ nơi an táng Karl Marx. Một ngày hiếm hoi và quý báu trôi qua, chúng tôi chỉ có trong tay những thông tin ngắn ngủi như vậy.

Hôm sau, chúng tôi vẫn quyết lên đường. Mua một bó hoa đến viếng Người, khi trả tiền, tôi nói vui: “Hôm qua, ta quên không mang hoa thăm Cụ, chắc Cụ giận không cho gặp mặt!”. Ôm bó hoa một cách trang trọng, chúng tôi ra đứng đón taxi. Ở Luân-đôn đón taxi chạy ngang đường là một việc cực kỳ khó. Sau đúng hai tiếng đồng hồ, vẫy mỏi cả tay mà chẳng thể dừng được một chiếc taxi chạy không, chúng tôi đành quay về khách sạn. Chẳng biết có phải Luân-đôn ít hãng taxi hay sao mà kiếm một cái khó như thuê máy bay! Cuối cùng, tiếp tân cũng gọi được một anh chạy “xe dù” quen. Vậy là có xe để đi nhưng với giá cắt cổ - 70 bảng Anh (tính ra tiền Việt khoảng triệu rưỡi)!

Tác giả bên mộ Karl Marx.Tác giả bên mộ Karl Marx.

Xe đưa chúng tôi đến nghĩa trang Highgate ở ngoại ô Luân Đôn. Cô gái coi nghĩa trang có mái tóc vàng, xinh xắn, ra mở cổng và chỉ lối cho chúng tôi. Nghĩa trang Highgate nằm trong một cánh rừng rộng lớn, âm u, quạnh hiu. Dưới những tán cây rậm rạp là những bia mộ nằm sát mặt đất. Không khí lành lạnh của đất nước sương mù càng làm cho nghĩa trang thêm hiu quạnh. Mèo hoang và sóc nhiều vô kể, chúng tôi đi đến đâu là chúng rào rào chạy theo, chắc là bọn này đói và đã quen có người đến là sẽ có thức ăn cho chúng. Còn cụ Marx có lẽ cảm động trước sự chân tình của các cháu, nên chỉ một lúc là chúng tôi đã tìm thấy phần mộ của Người.

Mộ phần gia đình Karl Marx nằm gọn trong một khuôn viên rộng chừng tám mét vuông, được bao quanh bằng một hàng rào sắt cao 40cm. Mộ của Người chỉ với một phiến đá giản dị, bên cạnh là bia mộ của bà Jenny và các con. Phía sau là một bệ đá cao 2m có gắn tượng bán thân với vầng trán cao, thông minh, bộ râu quai nón rậm, Người nhìn thẳng về phía trước. Mặt bệ đá gắn dòng chữ “Công nhân các nước hãy đoàn kết lại!”. (Mà ngày xưa ta quen đọc là “Vô sản toàn thế giới liên hiệp lại!”). Phần mộ giản dị quá, thật tương phản với tầm vóc vĩ đại của Người, làm trào dâng trong tôi một cảm xúc mạnh mẽ. “Chao ôi! Lúc này sao mà ta được gần Người đến thế! Đã hơn nửa thế kỷ, Karl Marx như một vị thánh trong tâm tưởng của chính ta!”. Bó hoa lay-ơn đỏ rực chói chang, khi đặt bên mộ Karl Marx dường như nó đỏ hơn, dường như đang ứa máu! Người đã sống và cống hiến cả cuộc đời cho lý tưởng Cộng sản, nhưng Người không được hưởng hạnh phúc đón nhận vinh quang chiến thắng. “Hạnh phúc là đấu tranh” - đó là triết lí sống của Người. Người suốt đời sống theo phương châm ấy, luôn đấu tranh cho hạnh phúc của nhân loại. Đến khi nhắm mắt, Người vẫn sống trong thiếu thốn, khổ hạnh và đau đớn trong bệnh tật. Nhưng tư tưởng vĩ đại của Người đã thức tỉnh hàng triệu triệu công nhân và những người cần lao trên toàn thế giới, nhiều đất nước đã đi theo con đường mà Người khai sáng.

Đứng trước mộ Karl Marx, chúng tôi lặng đi trong niềm xúc cảm vô biên, quên cả thời gian, quên cả không gian...

 

Luân Đôn tháng 5-2000
Thành phố Hồ Chí Minh, 5-2004
N.N.Đ