Hiển thị các bài đăng có nhãn sinhratrongkhóilửa. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 10 tháng 2, 2015

"Sinh ra trong khói lửa" tập 3 lên mạng



Cái này là để phục vụ ACE chưa có tập 3, cũng là để "lấy đà" cho tập 4. Do bận nên anh KQ chưa gửi ảnh được, sẽ bổ sung, cảm phiền ACE "đọc" trước "xem" sau vậy - giữa các bữa nhậu trong dịp Tết :)

Mời xem Mục lục tập 3
Mời xem Mục lục 3 tập 1-2-3



Cái này là để phục vụ ACE chưa có tập 3, cũng là để "lấy đà" cho tập 4. Do bận nên anh KQ chưa gửi ảnh được, sẽ bổ sung, cảm phiền ACE "đọc" trước "xem" sau vậy - giữa các bữa nhậu trong dịp Tết :)

Mời xem Mục lục tập 3
Mời xem Mục lục 3 tập 1-2-3

Thứ Bảy, 27 tháng 11, 2010

Cảm xúc khi đọc SRTKL - hameok6




Cảm xúc khi đọc SRTKL

hameok6


Đọc xong cuốn SRTKL tập 3, tôi ngẫm nghĩ: mỗi tập mang lại cho mình một cảm xúc khác nhau.

SRTKL1
Tập 1: Có được cuốn SRTKL tập 1 trên tay sau mấy chục năm không có tin tức gì về các bạn Trỗi, tôi ngấu nghiến đọc như một thằng vớ được ly nước lã sau chặng đường vượt sa mạc khô cằn. Lời văn mộc mạc, những câu chuyện bình thường thời trẻ con gợi nhớ lại cả một đoạn cuộc đời nhiều hơn, nhiều hơn rất nhiều những gì có trong sách mà có những lúc tôi đã tưởng như không còn tồn tại. Vậy mà giờ đây nó được viết thành sách! Dù chỉ là cuốn sách nội bộ cho anh em mình.

SRTKL2
Tập 2: Một cuốn sách hoành tráng, trông như 1 tác phẩm văn học (chỉ trông như thôi). Tôi ôm nó, đọc một lèo thâu đêm suốt sáng, rồi lại nghiền ngẫm thêm 1 ngày nữa. Đóng sách lại, nhìn hình anh Lê Minh Tân ở trang bìa, người tôi nôn nao … Trỗi, lính Trỗi là thế đấy! Tôi vừa được thưởng thức 1 ly bia mát lạnh, ly bia của tình bạn được ấp ủ, lên men trong mấy chục năm cho dù thời gian pha chế không dài (5 năm).


SRTKL3

Tập 3: Nếu 2 tập trước là ly nước lã sau khi vượt sa mạc và ly bia mát lạnh lúc đang khát thì tập này là 1 bữa nhậu đàng hoàng. Bữa nhậu có đầy đủ đồ mồi thịt cá, rau cỏ được chế biến tại nhà hàng, bia ngon đủ loại, lựa chọn thoải mái. Hầu hết bài, ảnh, tin tức trong tập này đều đã được đăng trên các blog bantroi và đã được trao đổi, mổ xẻ kỹ càng trong các lần trà dư tửu hậu mà gần như tuần nào anh em Trỗi cũng gặp nhau. Một bữa nhậu như mọi bữa hàng tuần vẫn nhậu và được bạn nhậu chăm chút, soi mói từng cọng hành, từng mùi vị … cho tới miếng ớt hiểm cũng phải được để nguyên trái chớ không chịu xắc ra! Tôi đã nghiền ngẫm nó tới 2 tuần mà vẫn chưa “thuộc” hết các chi tiết.

SRTKL4?SRTKL4?
Vậy đó, nếu có tập 4 ắt phải là cao lương mỹ vị với rượu xịn tại nhà hàng 5 sao! Mà lúc này thì khó đây. Già hết rồi, người uống nhiều, người nhâm nhi. kẻ ăn thịt, kẻ ăn rau và chắc có đứa chỉ muốn … húp cháo? Nếu tập 4 không phải là 1 tác phẩm văn học thực thụ hấp dẫn thì chắc chẳng ai xem, hay có xem cũng là “để coi nó dở đến cỡ nào?”.

A hà! Bạn Trỗi bây giờ không chỉ cần nhớ lại những kỷ niệm mà cần 1 cuốn sách “để đời” cho con cháu mai sau (để làm gì thì chỉ có chúng nó biết!).

Đăng lại bài viết của hameok6 (đã đăng tại Blog K3: 15:06 Thứ bảy, ngày 27 tháng mười một năm 2010)

Xem thêm: Tâm sự bè bạn: Sự “để đời” - Chí Thọ, 07/12/2010, Blog k3




Free Web Counter



Cảm xúc khi đọc SRTKL

hameok6


Đọc xong cuốn SRTKL tập 3, tôi ngẫm nghĩ: mỗi tập mang lại cho mình một cảm xúc khác nhau.

SRTKL1
Tập 1: Có được cuốn SRTKL tập 1 trên tay sau mấy chục năm không có tin tức gì về các bạn Trỗi, tôi ngấu nghiến đọc như một thằng vớ được ly nước lã sau chặng đường vượt sa mạc khô cằn. Lời văn mộc mạc, những câu chuyện bình thường thời trẻ con gợi nhớ lại cả một đoạn cuộc đời nhiều hơn, nhiều hơn rất nhiều những gì có trong sách mà có những lúc tôi đã tưởng như không còn tồn tại. Vậy mà giờ đây nó được viết thành sách! Dù chỉ là cuốn sách nội bộ cho anh em mình.

SRTKL2
Tập 2: Một cuốn sách hoành tráng, trông như 1 tác phẩm văn học (chỉ trông như thôi). Tôi ôm nó, đọc một lèo thâu đêm suốt sáng, rồi lại nghiền ngẫm thêm 1 ngày nữa. Đóng sách lại, nhìn hình anh Lê Minh Tân ở trang bìa, người tôi nôn nao … Trỗi, lính Trỗi là thế đấy! Tôi vừa được thưởng thức 1 ly bia mát lạnh, ly bia của tình bạn được ấp ủ, lên men trong mấy chục năm cho dù thời gian pha chế không dài (5 năm).


SRTKL3

Tập 3: Nếu 2 tập trước là ly nước lã sau khi vượt sa mạc và ly bia mát lạnh lúc đang khát thì tập này là 1 bữa nhậu đàng hoàng. Bữa nhậu có đầy đủ đồ mồi thịt cá, rau cỏ được chế biến tại nhà hàng, bia ngon đủ loại, lựa chọn thoải mái. Hầu hết bài, ảnh, tin tức trong tập này đều đã được đăng trên các blog bantroi và đã được trao đổi, mổ xẻ kỹ càng trong các lần trà dư tửu hậu mà gần như tuần nào anh em Trỗi cũng gặp nhau. Một bữa nhậu như mọi bữa hàng tuần vẫn nhậu và được bạn nhậu chăm chút, soi mói từng cọng hành, từng mùi vị … cho tới miếng ớt hiểm cũng phải được để nguyên trái chớ không chịu xắc ra! Tôi đã nghiền ngẫm nó tới 2 tuần mà vẫn chưa “thuộc” hết các chi tiết.

SRTKL4?SRTKL4?
Vậy đó, nếu có tập 4 ắt phải là cao lương mỹ vị với rượu xịn tại nhà hàng 5 sao! Mà lúc này thì khó đây. Già hết rồi, người uống nhiều, người nhâm nhi. kẻ ăn thịt, kẻ ăn rau và chắc có đứa chỉ muốn … húp cháo? Nếu tập 4 không phải là 1 tác phẩm văn học thực thụ hấp dẫn thì chắc chẳng ai xem, hay có xem cũng là “để coi nó dở đến cỡ nào?”.

A hà! Bạn Trỗi bây giờ không chỉ cần nhớ lại những kỷ niệm mà cần 1 cuốn sách “để đời” cho con cháu mai sau (để làm gì thì chỉ có chúng nó biết!).

Đăng lại bài viết của hameok6 (đã đăng tại Blog K3: 15:06 Thứ bảy, ngày 27 tháng mười một năm 2010)

Xem thêm: Tâm sự bè bạn: Sự “để đời” - Chí Thọ, 07/12/2010, Blog k3




Free Web Counter

Thứ Tư, 13 tháng 10, 2010

Vài suy nghĩ về cuốn SRTKL3 - HMk6



Vài suy nghĩ về cuốn SRTKL3

 HMk6      

SRTKL3SRTKL3
Gần đây thấy mấy “pác” bình phẩm cuốn SRTKL3 nhiều quá làm tôi “ngứa ngáy” cũng muốn “sổ” ra theo.

Trước hết xin nói: tôi cũng là một “nạn nhân” trong cuốn SRTKL3. Một số bài của tôi được mang tên người khác, một số bài được sửa chữa, thậm chí biên tập lại mang ý nghĩa khác hẳn ban đầu. Tất nhiên là chẳng thích thú gì với chuyện đó. Song nghĩ đi thì cũng phải nghĩ lại.
Từ ngay sau khi tập 2 ra đời, tôi đã trực tiếp cũng như gián tiếp nghe nhiều bạn Trỗi (xin miễn nhắc tên ra đây) nói: Sách đ. gì chỉ có vài thằng viết mà cũng gọi là trường Trỗi. Tại sao không có bài của khóa này, khóa kia, của thằng này, thằng kia viết rất hay …. Và tôi được biết, ngay ở tập 2 đã có một số bài mang tên không đúng của tác giả, song không có ai thắc mắc gì. Hay là vì hồi đó chưa có blog, nên cũng chẳng ai biết, ngoài tác giả và BBT. Hay là vì các tác giả này cũng suy nghĩ như tôi thế này:
Như đã một lần giãi bày cùng AE trong bài “Tôi viết bài cho blog Trỗi” đã đăng cũng lâu rồi (không nhớ chính xác thời gian): tôi chẳng biết viết văn (hồi Trỗi vốn là học sinh dốt toàn diện mà!), nhưng vì bức xúc với những kỷ niệm xưa, kỷ niệm với những người bạn ba bốn chục năm trước mà nay vẫn là bạn (chứ đời nay, bạn bè người ta tính theo tuần là quá lâu rồi) nên mới viết ra những gì mình nghĩ mà chia sẻ với bạn bè. Tất nhiên văn nói (như tán gái) thì dễ, nhưng văn viết thì không dễ chút nào, mà văn trên blog chắc cũng không thể như văn trên sách (hay là vì tôi dốt nên mới nghĩ thế?). Bởi vậy nếu “người ta” đưa “văn mình” lên sách chắc chắn phải “tút” lại thì mới thành “vợ người” được chớ. Âu cũng là chuyện thường.
Với cái thằng dốt như tôi được nhìn thấy văn của mình in thành sách thì đã là tự hào lắm rồi dù cho đó chỉ là sách nội bộ AE mình nên dẫu có “bị” hay “được” sửa thế nào thì cũng thấy “đã” lắm chứ không phải như mấy “pác” văn nghệ sỹ “pro” có đủ “trình” để làm “cần câu cơm”. À, mà các “pác” muốn “câu cơm” thì cứ “câu” đi chứ sao lại phải đăng “nháp” lên blog để AE góp ý cho hoàn chỉnh rồi mới “câu”. Vậy “cái cần câu” của “pác” có bản quyền đứng tên ai? Theo luật là tên tập thể đó. Vậy khi “câu” nhớ xin phép tập thể nha(?). Mà có một số bài khi đăng lên, thấy có người bình: hay quá, xin được đưa bài vào tập 3 – Chẳng thấy tác giả nào trả lời. hay là theo thuyết “im lặng là đồng tình”?
Thôi lại nói bậy rồi. Xin quay lại chuyện AE mình. Tôi đang đặt địa vị mình vào vị trí người biên soạn cái tập 3 này (tất nhiên chỉ là tưởng tượng vì tôi không có đủ khả năng và trên hết là không đủ nhiệt tình để làm “chùa” như vậy). Trước hết tôi kêu gọi AE viết bài để biên soạn. Kêu gọi mãi, chẳng thằng đ. nào gửi bài mà chỉ toàn bình phẩm, nhận xét cái cuốn sách mà lúc đó thậm chí còn chưa được “thụ thai”! Vậy là “xù”? Nhưng mở mấy cái blog “bán trời” thấy có quá nhiều bài hay, chuyện xưa, chuyện nay, chuyện trời, chuyện đất … chẳng thiếu gì, mà toàn theo đúng giọng “bán trời” tụi mình cả! Hỏi thăm lại, thì số AE xem blog chưa tới 100 người. Vậy còn khoảng 1000 nữa không biết. Ô là là! Chuyện Trỗi, văn Trỗi mà lính Trỗi không biết! Làm nhiều khi đi nhậu, nói dóc chuyện blog chẳng ai biết. Chán thật!
Rồi lên blog thì … ôi, cả ngàn bài, hoa mắt! Thế là đành mò mẫm 6 trang blog từ mấy năm nay đến giờ rồi chọn lọc. Bài này chọn - bài này bỏ - Chọn – Bỏ - Chọn … Xong! Đọc lướt lại khoảng năm sáu trăm bài để lấy ra 300 bài cho đủ khoảng 1000 trang (vì tính tương đương T2 mà!). Đang đọc mới nhớ: mẹ, có bài giống thế này mà còn hay hơn, nhưng mà ở blog nào nhỉ? Vậy là lật lại tìm hết 6 blog trong 3 năm mới sực ra: bài này thằng kia gửi mail cho mình chớ đâu có đăng blog…. Xong! Nhưng thế đêk nào, mấy trăm bài cũng chỉ loanh quanh vài chục thằng. Bỏ mẹ! Lại có chuyện “sách riêng của mấy người!”. Thế là đổi tên, gắn tên,… tùm lum cả. Gọi điện cho thằng này, nhắn tin cho thằng kia, rồi lại gọi điện lại, rồi… chết mẹ lại quên thằng này,…. Trong khi “đại lễ 45 năm” đã đến gần, mà còn xin phép, in ấn, ứng tiền, xin tài trợ, tinh toán số lượng, vận chuyển …thượng vàng hạ cám. Nhờ thằng HM thì: em đ. biết! Nhờ thằng XYZ thì: mày cứ làm đi! Rối cả lên, nhầm lẫn lung tung mà chẳng có ai kiểm tra lại cho. Vậy là đành tặc lưỡi: thôi thì AE mình cả. Nó chửi thì mình nghe. Sori! Vậy là sori liên tục ….
Vậy đó, cứ tưởng tượng ra chuyện đó là thấy ngán rồi. Ai làm thì làm, chớ em xin lỗi: ai làm em xem, em vỗ tay … và nếu “ngứa mồm”, em “góp ý” vài lời nếu có sai thì là “tại thiên tai”, mà lỡ đúng “là nhờ thiên tài …” của em! Ha ha!!!


Đăng lại bài viết của hameok6 (đã đăng tại Blog K3: Thứ tư, ngày 13 tháng mười năm 2010)




Xem thêm:
  1. Cảm xúc khi đọc SRTKL - hameok6, 27/11/2010, Blog k3
  2. Comments 3-13 của bài "Câu trả lời hay nhất " - Tualinh, 15/11/2010, Blog k3
  3. Cảm xúc về Tập 3 - Trần Kiến Quốc, 13/11/2010, Blog bantroi5
  4. Về việc làm sách - Trần Kiến Quốc, 22/10/2010, Blog K5
  5. Lời xin lỗi đầu tuần - HữuThành.Nguyễn, 18/10/2010 tại Blog K4.
  6. Những người đốt lửa - Trung Liêm, 18/10/2010 tại Blog K4.
  7. Không đề - Trung Liêm, 18/10/2010 tại Blog K4.
  8. Sinh ra trong tội lỗi - HữuThành.Nguyễn, 14/10/2010 tại Blog K4.
  9. SUY NGHĨ VỀ CUỐN SÁCH VỪA XUẤT BẢN - Trần Kiến Quốc,13/10/2010, Blog K5
  10. Đôi lời về "Hoa tóc tiên" trên blog và trong ấn phẩm SRTKL t3 - Quang Trung, 09/10/2010, Blog K4
  11. Gia đình tôi đón nhận SRTKL tập 3 - Cao Thị Minh Hải, 08/10/2010, Blog K5
  12. Xung quanh những "lời góp" về Sách 'Sinh ra trong khói lửa" T3 - Quang Trung, 07/10/2010, Blog K4
  13. Về "SINH RA TRONG KHÓI LỬA" TẬP 3 - Khắc Việt, 06/10/2010, Blog K8
  14. Thông báo bán sách SRTKL Tập III - BBT SRTKL3, 17/09/2010, Blog K6
  15. Về Tập 3 Sinh ra trong khói lửa - TranKienQuoc, 23/03/2010 tại Blog K4.




Free Web Counter



Vài suy nghĩ về cuốn SRTKL3

 HMk6      

SRTKL3SRTKL3
Gần đây thấy mấy “pác” bình phẩm cuốn SRTKL3 nhiều quá làm tôi “ngứa ngáy” cũng muốn “sổ” ra theo.

Trước hết xin nói: tôi cũng là một “nạn nhân” trong cuốn SRTKL3. Một số bài của tôi được mang tên người khác, một số bài được sửa chữa, thậm chí biên tập lại mang ý nghĩa khác hẳn ban đầu. Tất nhiên là chẳng thích thú gì với chuyện đó. Song nghĩ đi thì cũng phải nghĩ lại.
Từ ngay sau khi tập 2 ra đời, tôi đã trực tiếp cũng như gián tiếp nghe nhiều bạn Trỗi (xin miễn nhắc tên ra đây) nói: Sách đ. gì chỉ có vài thằng viết mà cũng gọi là trường Trỗi. Tại sao không có bài của khóa này, khóa kia, của thằng này, thằng kia viết rất hay …. Và tôi được biết, ngay ở tập 2 đã có một số bài mang tên không đúng của tác giả, song không có ai thắc mắc gì. Hay là vì hồi đó chưa có blog, nên cũng chẳng ai biết, ngoài tác giả và BBT. Hay là vì các tác giả này cũng suy nghĩ như tôi thế này:
Như đã một lần giãi bày cùng AE trong bài “Tôi viết bài cho blog Trỗi” đã đăng cũng lâu rồi (không nhớ chính xác thời gian): tôi chẳng biết viết văn (hồi Trỗi vốn là học sinh dốt toàn diện mà!), nhưng vì bức xúc với những kỷ niệm xưa, kỷ niệm với những người bạn ba bốn chục năm trước mà nay vẫn là bạn (chứ đời nay, bạn bè người ta tính theo tuần là quá lâu rồi) nên mới viết ra những gì mình nghĩ mà chia sẻ với bạn bè. Tất nhiên văn nói (như tán gái) thì dễ, nhưng văn viết thì không dễ chút nào, mà văn trên blog chắc cũng không thể như văn trên sách (hay là vì tôi dốt nên mới nghĩ thế?). Bởi vậy nếu “người ta” đưa “văn mình” lên sách chắc chắn phải “tút” lại thì mới thành “vợ người” được chớ. Âu cũng là chuyện thường.
Với cái thằng dốt như tôi được nhìn thấy văn của mình in thành sách thì đã là tự hào lắm rồi dù cho đó chỉ là sách nội bộ AE mình nên dẫu có “bị” hay “được” sửa thế nào thì cũng thấy “đã” lắm chứ không phải như mấy “pác” văn nghệ sỹ “pro” có đủ “trình” để làm “cần câu cơm”. À, mà các “pác” muốn “câu cơm” thì cứ “câu” đi chứ sao lại phải đăng “nháp” lên blog để AE góp ý cho hoàn chỉnh rồi mới “câu”. Vậy “cái cần câu” của “pác” có bản quyền đứng tên ai? Theo luật là tên tập thể đó. Vậy khi “câu” nhớ xin phép tập thể nha(?). Mà có một số bài khi đăng lên, thấy có người bình: hay quá, xin được đưa bài vào tập 3 – Chẳng thấy tác giả nào trả lời. hay là theo thuyết “im lặng là đồng tình”?
Thôi lại nói bậy rồi. Xin quay lại chuyện AE mình. Tôi đang đặt địa vị mình vào vị trí người biên soạn cái tập 3 này (tất nhiên chỉ là tưởng tượng vì tôi không có đủ khả năng và trên hết là không đủ nhiệt tình để làm “chùa” như vậy). Trước hết tôi kêu gọi AE viết bài để biên soạn. Kêu gọi mãi, chẳng thằng đ. nào gửi bài mà chỉ toàn bình phẩm, nhận xét cái cuốn sách mà lúc đó thậm chí còn chưa được “thụ thai”! Vậy là “xù”? Nhưng mở mấy cái blog “bán trời” thấy có quá nhiều bài hay, chuyện xưa, chuyện nay, chuyện trời, chuyện đất … chẳng thiếu gì, mà toàn theo đúng giọng “bán trời” tụi mình cả! Hỏi thăm lại, thì số AE xem blog chưa tới 100 người. Vậy còn khoảng 1000 nữa không biết. Ô là là! Chuyện Trỗi, văn Trỗi mà lính Trỗi không biết! Làm nhiều khi đi nhậu, nói dóc chuyện blog chẳng ai biết. Chán thật!
Rồi lên blog thì … ôi, cả ngàn bài, hoa mắt! Thế là đành mò mẫm 6 trang blog từ mấy năm nay đến giờ rồi chọn lọc. Bài này chọn - bài này bỏ - Chọn – Bỏ - Chọn … Xong! Đọc lướt lại khoảng năm sáu trăm bài để lấy ra 300 bài cho đủ khoảng 1000 trang (vì tính tương đương T2 mà!). Đang đọc mới nhớ: mẹ, có bài giống thế này mà còn hay hơn, nhưng mà ở blog nào nhỉ? Vậy là lật lại tìm hết 6 blog trong 3 năm mới sực ra: bài này thằng kia gửi mail cho mình chớ đâu có đăng blog…. Xong! Nhưng thế đêk nào, mấy trăm bài cũng chỉ loanh quanh vài chục thằng. Bỏ mẹ! Lại có chuyện “sách riêng của mấy người!”. Thế là đổi tên, gắn tên,… tùm lum cả. Gọi điện cho thằng này, nhắn tin cho thằng kia, rồi lại gọi điện lại, rồi… chết mẹ lại quên thằng này,…. Trong khi “đại lễ 45 năm” đã đến gần, mà còn xin phép, in ấn, ứng tiền, xin tài trợ, tinh toán số lượng, vận chuyển …thượng vàng hạ cám. Nhờ thằng HM thì: em đ. biết! Nhờ thằng XYZ thì: mày cứ làm đi! Rối cả lên, nhầm lẫn lung tung mà chẳng có ai kiểm tra lại cho. Vậy là đành tặc lưỡi: thôi thì AE mình cả. Nó chửi thì mình nghe. Sori! Vậy là sori liên tục ….
Vậy đó, cứ tưởng tượng ra chuyện đó là thấy ngán rồi. Ai làm thì làm, chớ em xin lỗi: ai làm em xem, em vỗ tay … và nếu “ngứa mồm”, em “góp ý” vài lời nếu có sai thì là “tại thiên tai”, mà lỡ đúng “là nhờ thiên tài …” của em! Ha ha!!!


Đăng lại bài viết của hameok6 (đã đăng tại Blog K3: Thứ tư, ngày 13 tháng mười năm 2010)




Xem thêm:
  1. Cảm xúc khi đọc SRTKL - hameok6, 27/11/2010, Blog k3
  2. Comments 3-13 của bài "Câu trả lời hay nhất " - Tualinh, 15/11/2010, Blog k3
  3. Cảm xúc về Tập 3 - Trần Kiến Quốc, 13/11/2010, Blog bantroi5
  4. Về việc làm sách - Trần Kiến Quốc, 22/10/2010, Blog K5
  5. Lời xin lỗi đầu tuần - HữuThành.Nguyễn, 18/10/2010 tại Blog K4.
  6. Những người đốt lửa - Trung Liêm, 18/10/2010 tại Blog K4.
  7. Không đề - Trung Liêm, 18/10/2010 tại Blog K4.
  8. Sinh ra trong tội lỗi - HữuThành.Nguyễn, 14/10/2010 tại Blog K4.
  9. SUY NGHĨ VỀ CUỐN SÁCH VỪA XUẤT BẢN - Trần Kiến Quốc,13/10/2010, Blog K5
  10. Đôi lời về "Hoa tóc tiên" trên blog và trong ấn phẩm SRTKL t3 - Quang Trung, 09/10/2010, Blog K4
  11. Gia đình tôi đón nhận SRTKL tập 3 - Cao Thị Minh Hải, 08/10/2010, Blog K5
  12. Xung quanh những "lời góp" về Sách 'Sinh ra trong khói lửa" T3 - Quang Trung, 07/10/2010, Blog K4
  13. Về "SINH RA TRONG KHÓI LỬA" TẬP 3 - Khắc Việt, 06/10/2010, Blog K8
  14. Thông báo bán sách SRTKL Tập III - BBT SRTKL3, 17/09/2010, Blog K6
  15. Về Tập 3 Sinh ra trong khói lửa - TranKienQuoc, 23/03/2010 tại Blog K4.




Free Web Counter

Thứ Sáu, 17 tháng 9, 2010

Thông báo bán sách SRTKL Tập III + Tranh luận

 

Thông báo bán sách SRTKL Tập III




SRTKL3SRTKL3

1. BLL trường quyết định xuất bản sách SRTKL tập III,
ngoài số tặng gia đình LS, thầy cô và khách quý,
sẽ bán trực tiếp trong ngày Hội trường. Giá cả: 120.000đ/cuốn.


2. Về thanh toán việc in ấn:
BBT đã vận động các nguồn tài trợ của các Mạnh Thường Quân NVT, đã chuẩn bị được 50% số tiền chi phí in ấn (không kể nhuận bút, nhuận ảnh...).
GĐ Nguyễn Nam Điện k6 (Cty In QĐ2) cho phép trả chậm, sau khi nhận sách. Tuy nhiên, BBT thấy việc thanh toán càng sớm càng tốt. Vì vậy, nếu BLL các khóa đã thu tiền tham gia Hội trường của từng cá nhân (kể cả tiền sách) thì gửi cho BBT (tương ứng với số sách sẽ mua) theo tài khoản:

TRAN KIEN QUOC - 200014849724462 - EXIMBANK HOCHIMINH.

Khi hoàn thành thủ tục gửi tiền, đề nghị nhắn tin cho Trần Kiến Quốc (0903 830 939).


bantroik5sg





Free Web Counter
 

Thông báo bán sách SRTKL Tập III




SRTKL3SRTKL3

1. BLL trường quyết định xuất bản sách SRTKL tập III,
ngoài số tặng gia đình LS, thầy cô và khách quý,
sẽ bán trực tiếp trong ngày Hội trường. Giá cả: 120.000đ/cuốn.


2. Về thanh toán việc in ấn:
BBT đã vận động các nguồn tài trợ của các Mạnh Thường Quân NVT, đã chuẩn bị được 50% số tiền chi phí in ấn (không kể nhuận bút, nhuận ảnh...).
GĐ Nguyễn Nam Điện k6 (Cty In QĐ2) cho phép trả chậm, sau khi nhận sách. Tuy nhiên, BBT thấy việc thanh toán càng sớm càng tốt. Vì vậy, nếu BLL các khóa đã thu tiền tham gia Hội trường của từng cá nhân (kể cả tiền sách) thì gửi cho BBT (tương ứng với số sách sẽ mua) theo tài khoản:

TRAN KIEN QUOC - 200014849724462 - EXIMBANK HOCHIMINH.

Khi hoàn thành thủ tục gửi tiền, đề nghị nhắn tin cho Trần Kiến Quốc (0903 830 939).


bantroik5sg





Free Web Counter

Thứ Hai, 6 tháng 9, 2010

Thư mời - Ban biên tập SRTKL tập 3



THÔNG BÁO

Ban biên tập SRTKL tập 3 thông báo:

Việc in ấn sách sẽ hoàn tất trong tháng 9/2010. Sách sẽ bán cho ACE cựu học sinh trường NVT trong ngày Hội trường.

Xin phép được vận động các Mạnh thường quân ủng hộ BBT theo khả năng của mình.
Số tiền này được chuyển thành sách để tặng gia đình Liệt sĩ, Thầy Cô và khách quí đến dự Hội trường.

TK. TKQ


Anh chị em ở HN và các tỉnh có thể gửi về số TK:
TRẦN KIẾN QUỐC
200014849724462
EXIMBANK TP HỒ CHÍ MINH
(Khi gửi, nhớ nhắn tin báo cho Kiến Quốc - 0903 830 939).

Tại TPHCM: Có thể báo địa chỉ để Kiến Quốc liên hệ.
Chân thành cảm ơn!!!

Mọi thông tin về việc tiếp nhận tiền đóng góp được cập nhật trên Bantroik5. Xin mời theo dõi!!!

Xem thêm:




Web Counter


THÔNG BÁO

Ban biên tập SRTKL tập 3 thông báo:

Việc in ấn sách sẽ hoàn tất trong tháng 9/2010. Sách sẽ bán cho ACE cựu học sinh trường NVT trong ngày Hội trường.

Xin phép được vận động các Mạnh thường quân ủng hộ BBT theo khả năng của mình.
Số tiền này được chuyển thành sách để tặng gia đình Liệt sĩ, Thầy Cô và khách quí đến dự Hội trường.

TK. TKQ


Anh chị em ở HN và các tỉnh có thể gửi về số TK:
TRẦN KIẾN QUỐC
200014849724462
EXIMBANK TP HỒ CHÍ MINH
(Khi gửi, nhớ nhắn tin báo cho Kiến Quốc - 0903 830 939).

Tại TPHCM: Có thể báo địa chỉ để Kiến Quốc liên hệ.
Chân thành cảm ơn!!!

Mọi thông tin về việc tiếp nhận tiền đóng góp được cập nhật trên Bantroik5. Xin mời theo dõi!!!

Xem thêm:




Web Counter

Thứ Bảy, 5 tháng 9, 2009

224 - Về thăm An Mỹ, Đại Từ - Hoàng Đôn Hà K5, SRTKL2: 882-888



Về thăm An Mỹ, Đại Từ


HOÀNG ĐÔN HÀ *
Học sinh khóa 5

Nguyện vọng thăm lại đất cũ, trường xưa luôn âm ỉ trong mỗi chúng ta. Hễ có dịp là… a lê hấp… lên đường! Chuyến đi của chúng tôi về thăm An Mỹ, Đại Từ cũng vậy. Thời gian đó, đang công tác ngoài Hà Nội, nghe Ngọc Sơn, Lê Bình rủ rê, lại nghe nói có mời thêm hai cô bạn “đồng môn” Hạ Thanh Xuyên, Nguyễn Thị Mẫn đi cùng làm “mấy trai Sài Thành” (tôi và Kỳ Bắc) nhất trí giơ cả hai tay.

Sáng sớm 17 tháng 4 năm 2000, cả bọn lên đường. Anh em kiếm được chiếc Suzuki 7 chỗ làm phương tiện, có hơi chật vì “những tám mống” nên ai cũng xung phong mời Mẫn hoặc Xuyên “ngồi lên lòng”(!). Các bạn gái thì tế nhị phê bình: “Mấy bạn này già rồi mà còn… nghịch!”; riêng mấy anh em tôi thì cười khơ khớ: “Lính Trỗi mà! Tuổi 50 mà ngỡ như trẻ thơ…”. Phan Tuấn Khôi và tôi thay nhau làm tài xế. Trời hôm đó hơi xầm xì. Mặc! Chúng tôi vượt cầu Thăng Long rồi rẽ phải theo đường đi Đông Anh.

Đến thăm nhà anh Xã đội trưởngĐến thăm nhà anh Xã đội trưởng

Qua Phủ Lỗ, anh em tạt vào thăm Vĩnh Phúc (bạn học cùng khóa), nhà nằm ngay mặt đường. Về hưu, Phúc mở quán “cầy tơ bảy món” phục vụ bộ đội và dân quanh vùng. Nghe nói cũng đông khách. Vì mới sáng ra, chưa thể “dùng” đồ nhiều đạm nên chúng tôi hẹn lần sau sẽ tạt qua “ăn mở hàng”. Bắt đầu từ đây là những đồi chè chen nhau như mâm bát úp. Đường quốc lộ số 3 “ngon lành”, xe chạy chỉ hai tiếng là đến Thái Nguyên - thủ đô gang thép. Trước hình ảnh phố xá rộng rãi, nhà cửa san sát, dân cư đông đúc làm tôi chợt nhớ đến cái đêm thầy trò trường ta hành quân bằng xe tải quân sự, trùm kín bạt, từ Phố Thắng theo đường chiến lược qua Khu Gang thép. Đã quá nửa đêm, nhìn qua khe bạt thấy phố xá vắng tanh, chỉ lèo tèo vài bóng đèn nê-ông lờ mờ, yếu ớt… không khác gì một thành phố chết. Chiến tranh mà!

Vòng qua phía cầu Gia Bảy, xe chúng tôi ngược lên Đại Từ. Phố huyện sau bao năm đã thay da đổi thịt, cùng những dinh thự khang trang của Uỷ ban, Huyện uỷ và các cơ quan công quyền là những dãy phố san sát những căn nhà đúc hai, ba tầng được sơn phết bằng đủ các màu mè. Vẫn con đường cấp phối chạy từ phố huyện về An Mỹ, dọc theo bờ suối Cái. Đường xấu, xóc và hơi lầy. Qua Suối Chì, xe bị bati- nê, cả bọn xúm lại đẩy. Qua khỏi con dốc đến Trại Cau thì thấy dãy Tam Đảo sừng sững trước mặt nhưng không còn mầu xanh như năm xưa; con người đã dã man đốt nương, làm rẫy, đã chặt hạ gần hết cánh rừng nguyên sinh. Rừng loang lổ như da báo.

Đã 10 giờ sáng. Chúng tôi phóng thẳng vào thăm lại thác Bom Bom, xe lăn bánh theo con đường lâm nghiệp năm xưa. Nhớ lại ngày ấy, cứ chiều chiều, cả bọn cởi trần trùng trục, chạy từ lán trại tận trong rừng sâu ra thác, bơi lội thỏa thích. Ngoài trời dù nóng đến đâu nhưng khi đã vào đến khu vực Bom Bom thì thấy mát rượi. Đứa nào đã vào tới đây cũng phải leo lên tảng đá lớn, thực hiện một cú nhảy, lúc thì bông nhông cắm đầu, khi thì ngửa lưng hay “nhảy dù”... Vũng đã sâu lại nhiều nước nên không hề nguy hiểm cho những cú nhảy ngoạn mục. Nước mát lạnh. Ngay sát bờ vực có hai cây trám trắng và trám đen cao đến 20-30m, mấy “xạ thủ” Văn Lịch, Hoài Lưu, Thành Bắc… thường lấy súng cao su bắn rụng trám cho anh em ăn. Vị trám chan chát, lấy hai tay làm một vốc nước suối bỏ miệng thì thấy ngay một vị ngọt có hậu. Còn hôm nay… nước cạn kiệt, cái vũng Bom Bom nông choèn choèn, trơ ra cái tảng đá ngày xưa ta vẫn làm cầu nhảy. Cây cối lớn bên bờ vực bị chặt sạch, chỉ còn những bụi cây dại lúp xúp. Thật đau khổ! Hậu quả của nạn phá rừng bừa bãi. Cả bọn tiếc ngẩn ngơ, bao giờ mới có lại Bom Bom như những ngày nào?! Từ đầu nguồn nhìn xuôi theo dòng chảy thấy có những “đập nước mi-ni” chắn ngang suối; bà con lắp đặt những máy phát điện dùng sức nước loại nhỏ. Vậy là tuy chiến tranh qua đi đã hàng chục năm, mà mạng đện lưới quốc gia vẫn chưa vươn tới An Mỹ. Chúng tôi thấy có cả những đôi dây dẫn mỏng mảnh, mất an toàn, bám theo các cành cây dài đến cả cây số tới “hộ sử dụng”.

Thăm thú, chụp ảnh xong cũng đã trưa. Anh em đi trở ra và rẽ vào thăm xóm nhỏ ngay cửa rừng, gần với bếp ăn của C10 và C6 (ngày ta đóng quân năm 1966). Đây chính là cái xóm, lèo tèo vài mái nhà tranh nhưng rất nhiều bưởi. Nay thì có đến vài chục nhà gạch mái ngói, khang trang. Hỏi thăm bà con, chúng tôi tìm vào nhà anh xã đội trưởng ngày đó. Nghe lao xao đầu ngõ, anh chạy ra thì biết có học sinh trường Trỗi về thăm. Anh mời chúng tôi vào nhà. Bên ấm chè Thái mới pha, anh em chuyện trò râm ran. Gia đình đã xây được ngôi nhà gạch mái ngói, có vườn cây, ao cá theo mô hình VAC. Sau nhà anh là quả đồi rộng vài héc-ta đã nhận khoán của hợp tác để trồng chè. Khi thấy trong nhà có đầy đủ ti-vi, tủ lạnh, xe máy… ai cũng tấm tắc khen thì anh cười: “Cũng là nhờ cây chè đấy. Mỗi năm, anh thu hoạch tới dăm tấn chè mạn.”, rồi anh thông báo: Cái tên An Mỹ ngày xưa đã đổi thành Mỹ An và năm nay, xã nhà sẽ được Nhà nước trao tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang vì có công xây dựng địa bàn thành an toàn khu trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Cũng đã đến bữa, anh mời chúng tôi ở lại ăn cơm. Vẫn giữ thói quen ngày trong quân ngũ “không được làm phiền nhiễu nhân dân” mà Lê Bình đã kiếm đâu về hai chú gà trống thiến. Hắn nói: “Đi khắp xóm mới kiếm được cặp gà vì vừa mới qua dịch.” Anh em xắn tay chuẩn bị, chỉ một loáng là xong. Mẫn và Xuyên còn cẩn thận ra vườn xin được một rổ rau lang về luộc. Cơm vừa chín tới, trải mành mành thay chiếu, anh em tôi bày cơm canh ra sàn nhà. Bữa ăn chỉ có thịt gà luộc chấm muối tiêu chanh và rau lang luộc nhưng rất ngon miệng và ấm cúng. Vui vẻ trò chuyện, nhắc lại kỉ niệm xưa, anh em nâng lên hạ xuống chả mấy chốc hết veo hai chai rượu quê, nút lá chuối. Bao nhiêu năm rồi mà người dân An Mỹ vẫn vậy, vẫn chân chất, thật thà, vẫn gần gũi, thân thương.

Thăm đền kỷ niệm sự kiện 300 cán bộ, chiến sĩ cùng nhân dân họp mặt nghe công bố bức thư của Bác Hồ gửi đồng bào cả nước về trách nhiệm đền ơn đáp nghĩa với thương binh, liệt sĩ và gia đình có công.Thăm đền kỷ niệm sự kiện 300 cán bộ, chiến sĩ cùng nhân dân họp mặt
nghe công bố bức thư của Bác Hồ gửi đồng bào cả nước về trách nhiệm
đền ơn đáp nghĩa với thương binh, liệt sĩ và gia đình có công.

Khi chia tay gia đình, thấy trong nhà còn bao tải chè khô, chúng tôi xin mua về làm quà thì anh nói: “Đó là loại chè bán ra ngoài, còn với các cô chú thì phải dùng loại chè đặc biệt. Chờ anh một lát vì ở nhà vừa hết.” Anh sai con đi khắp xóm vét về được ba kí chè “xịn” và cương quyết không lấy tiền. Thật cảm động! Chúng tôi chào anh và gia đình rồi lên xe tìm về khu Hiệu bộ và Cung tiêu xã năm xưa. Cây đa cổ thụ không còn, thay vào đó là trạm xá do trường ta và Viện quân y 354 góp công cùng bà con xây dựng vào năm 1997. Ở An Mỹ vẫn còn nhiều hộ chưa thoát nghèo. Với đất cũ, người xưa, thầy trò chúng ta đã cố gắng làm được những gì có ích để phần nào đền đáp công ơn che chở, đùm bọc của bà con trong những năm tháng chống chiến tranh phá họai của giặc Mỹ.

Khu Trại Cau vẫn còn nhiều cau. Ngược trở ra Suối Chì, chúng tôi dừng xe lên thăm lại khu vực đóng quân. Ngày đó đại đội 6 nằm ở “vị trí tiền tiêu”, cách Trại Cau hơn 1km, cả khóa chỉ có mình Hạ Thanh Xuyên là con gái. Ngày ngày, bạn cứ lủi thủi đi theo con đường đồi ngoằn ngoèo đến lớp, mặc nắng mưa, mặc giá lạnh. Còn bọn con trai chúng tôi thì cứ vô tư học tập, nghịch ngợm mà không hề có chút quan tâm trước sự cô độc của cô bạn gái!... Đang ngơ ngác định hướng thì gặp một chị phụ nữ đi ngang qua. Hỏi ra thì biết chị tên là Thanh và từng là chiến sĩ nuôi quân của đại đội 10; sau này chị có sang Quế Lâm nhưng không chịu được rét nên phải về sớm. “Dân Trỗi” nhận ra nhau, chị cảm động nắm lấy tay từng đứa rồi dẫn chúng tôi về thăm nhà. Chị rót từng bát nước chè xanh mới hãm ra mời chúng tôi. Chị còn nghèo, chỉ có nhà tranh vách đất nhưng tình cảm với anh em chúng tôi vẫn như bát nước đầy. Khi biết chúng tôi là “dân khoá 5” thì chị nhắc lại chuyện cũ: “Khóa các em là nghịch nhất trường. Có đứa đã ụp cả chậu cơm lên đầu chị Quỳnh. Nhưng đấy cũng là chuyện xưa… Nhanh thật, vậy mà đã mấy chục năm!”. Hàn huyên rồi chị dẫn đi thăm khu doanh trại cũ. Cả quả đồi được phủ xanh bằng vườn chè bạt ngàn xen lẫn rừng bạch đàn. Đây là con đường mòn chạy xuống khu bếp ăn đại đội, đoạn giao thông hào chạy song song vẫn còn chứng tích. Ngày đó ở ngay đầu dốc xuống bếp có cây trám đen, các bạn có còn nhớ? Nay cây trám đã bị chặt sát gốc. Chúng tôi nghịch ngợm xúm lại, sờ tay vào gốc trám, xin “chứng dám cho sự có mặt” sau hơn 30 năm xa cách. Lưu luyến chia tay chị, chúng tôi lên xe về huyện. Kỳ Bắc không quên dúi vào tay chị mấy trăm ngàn làm quà.

Cách Suối Chì vài trăm mét có cái cầu gỗ bắc ngang qua suối, thấy phong cảnh hữu tình, chúng tôi dừng lại chụp ảnh. Trên đường về, chúng tôi đã tạt vào thăm một di tích lịch sử, văn hóa. Chính nơi đây, ngày 27 tháng 7 năm 1947, đã chứng kiến sự kiện 300 cán bộ, chiến sĩ cùng nhân dân địa phương họp mặt nghe công bố bức thư của Hồ Chủ tịch gửi đồng bào cả nước về trách nhiệm đền ơn đáp nghĩa với thương binh, liệt sĩ và gia đình có công. Ngay giữa sân là một bia kỉ niệm tạc trên một phiến đá hoa cương lớn. Trong đền, ở gian chính có bàn thờ và tượng Bác. Chúng tôi vào thắp hương rồi quây quần nghe bác cựu chiến binh, đang trông coi đền, kể về sự tích của ngôi đền: “Để tưởng nhớ sự kiện lịch sử, để tưởng nhớ công ơn trời biển của Bác, nhân dân địa phương đã góp công sức và tiền bạc xây trên chính mảnh đất này ngôi đền này…”

Trời chiều ảm đạm, rời Đại Từ mà trong lòng thấy bâng khuâng. Không ai nói một lời. Hình như tất cả đang cố hình dung lại những gì đã xảy ra cách nay đã gần nửa đời người… Nhưng không thể buồn mãi, để đánh dấu cho ngày trở về, để sống lại đúng cái thuở ngày xưa, cả bọn quyết định tạt vào khu du lịch Hồ Núi Cốc ăn cơm chiều. Nói là “ăn cơm chiều” nhưng phải 12 giờ đêm mới kết thúc, lên xe ra về. Đúng 2 giờ sáng về tới Hà Nội và chúng tôi đã làm đúng cam kết với bố mẹ: không bao giờ đi chơi về trễ(!).

 

Sài Gòn, 27-7-2000
H.Đ.H




* - Hiện công tác tại Xí nghiệp liên hợp Ba Son, thành phố Hồ Chí Minh.




Về thăm An Mỹ, Đại Từ


HOÀNG ĐÔN HÀ *
Học sinh khóa 5

Nguyện vọng thăm lại đất cũ, trường xưa luôn âm ỉ trong mỗi chúng ta. Hễ có dịp là… a lê hấp… lên đường! Chuyến đi của chúng tôi về thăm An Mỹ, Đại Từ cũng vậy. Thời gian đó, đang công tác ngoài Hà Nội, nghe Ngọc Sơn, Lê Bình rủ rê, lại nghe nói có mời thêm hai cô bạn “đồng môn” Hạ Thanh Xuyên, Nguyễn Thị Mẫn đi cùng làm “mấy trai Sài Thành” (tôi và Kỳ Bắc) nhất trí giơ cả hai tay.

Sáng sớm 17 tháng 4 năm 2000, cả bọn lên đường. Anh em kiếm được chiếc Suzuki 7 chỗ làm phương tiện, có hơi chật vì “những tám mống” nên ai cũng xung phong mời Mẫn hoặc Xuyên “ngồi lên lòng”(!). Các bạn gái thì tế nhị phê bình: “Mấy bạn này già rồi mà còn… nghịch!”; riêng mấy anh em tôi thì cười khơ khớ: “Lính Trỗi mà! Tuổi 50 mà ngỡ như trẻ thơ…”. Phan Tuấn Khôi và tôi thay nhau làm tài xế. Trời hôm đó hơi xầm xì. Mặc! Chúng tôi vượt cầu Thăng Long rồi rẽ phải theo đường đi Đông Anh.

Đến thăm nhà anh Xã đội trưởngĐến thăm nhà anh Xã đội trưởng

Qua Phủ Lỗ, anh em tạt vào thăm Vĩnh Phúc (bạn học cùng khóa), nhà nằm ngay mặt đường. Về hưu, Phúc mở quán “cầy tơ bảy món” phục vụ bộ đội và dân quanh vùng. Nghe nói cũng đông khách. Vì mới sáng ra, chưa thể “dùng” đồ nhiều đạm nên chúng tôi hẹn lần sau sẽ tạt qua “ăn mở hàng”. Bắt đầu từ đây là những đồi chè chen nhau như mâm bát úp. Đường quốc lộ số 3 “ngon lành”, xe chạy chỉ hai tiếng là đến Thái Nguyên - thủ đô gang thép. Trước hình ảnh phố xá rộng rãi, nhà cửa san sát, dân cư đông đúc làm tôi chợt nhớ đến cái đêm thầy trò trường ta hành quân bằng xe tải quân sự, trùm kín bạt, từ Phố Thắng theo đường chiến lược qua Khu Gang thép. Đã quá nửa đêm, nhìn qua khe bạt thấy phố xá vắng tanh, chỉ lèo tèo vài bóng đèn nê-ông lờ mờ, yếu ớt… không khác gì một thành phố chết. Chiến tranh mà!

Vòng qua phía cầu Gia Bảy, xe chúng tôi ngược lên Đại Từ. Phố huyện sau bao năm đã thay da đổi thịt, cùng những dinh thự khang trang của Uỷ ban, Huyện uỷ và các cơ quan công quyền là những dãy phố san sát những căn nhà đúc hai, ba tầng được sơn phết bằng đủ các màu mè. Vẫn con đường cấp phối chạy từ phố huyện về An Mỹ, dọc theo bờ suối Cái. Đường xấu, xóc và hơi lầy. Qua Suối Chì, xe bị bati- nê, cả bọn xúm lại đẩy. Qua khỏi con dốc đến Trại Cau thì thấy dãy Tam Đảo sừng sững trước mặt nhưng không còn mầu xanh như năm xưa; con người đã dã man đốt nương, làm rẫy, đã chặt hạ gần hết cánh rừng nguyên sinh. Rừng loang lổ như da báo.

Đã 10 giờ sáng. Chúng tôi phóng thẳng vào thăm lại thác Bom Bom, xe lăn bánh theo con đường lâm nghiệp năm xưa. Nhớ lại ngày ấy, cứ chiều chiều, cả bọn cởi trần trùng trục, chạy từ lán trại tận trong rừng sâu ra thác, bơi lội thỏa thích. Ngoài trời dù nóng đến đâu nhưng khi đã vào đến khu vực Bom Bom thì thấy mát rượi. Đứa nào đã vào tới đây cũng phải leo lên tảng đá lớn, thực hiện một cú nhảy, lúc thì bông nhông cắm đầu, khi thì ngửa lưng hay “nhảy dù”... Vũng đã sâu lại nhiều nước nên không hề nguy hiểm cho những cú nhảy ngoạn mục. Nước mát lạnh. Ngay sát bờ vực có hai cây trám trắng và trám đen cao đến 20-30m, mấy “xạ thủ” Văn Lịch, Hoài Lưu, Thành Bắc… thường lấy súng cao su bắn rụng trám cho anh em ăn. Vị trám chan chát, lấy hai tay làm một vốc nước suối bỏ miệng thì thấy ngay một vị ngọt có hậu. Còn hôm nay… nước cạn kiệt, cái vũng Bom Bom nông choèn choèn, trơ ra cái tảng đá ngày xưa ta vẫn làm cầu nhảy. Cây cối lớn bên bờ vực bị chặt sạch, chỉ còn những bụi cây dại lúp xúp. Thật đau khổ! Hậu quả của nạn phá rừng bừa bãi. Cả bọn tiếc ngẩn ngơ, bao giờ mới có lại Bom Bom như những ngày nào?! Từ đầu nguồn nhìn xuôi theo dòng chảy thấy có những “đập nước mi-ni” chắn ngang suối; bà con lắp đặt những máy phát điện dùng sức nước loại nhỏ. Vậy là tuy chiến tranh qua đi đã hàng chục năm, mà mạng đện lưới quốc gia vẫn chưa vươn tới An Mỹ. Chúng tôi thấy có cả những đôi dây dẫn mỏng mảnh, mất an toàn, bám theo các cành cây dài đến cả cây số tới “hộ sử dụng”.

Thăm thú, chụp ảnh xong cũng đã trưa. Anh em đi trở ra và rẽ vào thăm xóm nhỏ ngay cửa rừng, gần với bếp ăn của C10 và C6 (ngày ta đóng quân năm 1966). Đây chính là cái xóm, lèo tèo vài mái nhà tranh nhưng rất nhiều bưởi. Nay thì có đến vài chục nhà gạch mái ngói, khang trang. Hỏi thăm bà con, chúng tôi tìm vào nhà anh xã đội trưởng ngày đó. Nghe lao xao đầu ngõ, anh chạy ra thì biết có học sinh trường Trỗi về thăm. Anh mời chúng tôi vào nhà. Bên ấm chè Thái mới pha, anh em chuyện trò râm ran. Gia đình đã xây được ngôi nhà gạch mái ngói, có vườn cây, ao cá theo mô hình VAC. Sau nhà anh là quả đồi rộng vài héc-ta đã nhận khoán của hợp tác để trồng chè. Khi thấy trong nhà có đầy đủ ti-vi, tủ lạnh, xe máy… ai cũng tấm tắc khen thì anh cười: “Cũng là nhờ cây chè đấy. Mỗi năm, anh thu hoạch tới dăm tấn chè mạn.”, rồi anh thông báo: Cái tên An Mỹ ngày xưa đã đổi thành Mỹ An và năm nay, xã nhà sẽ được Nhà nước trao tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang vì có công xây dựng địa bàn thành an toàn khu trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Cũng đã đến bữa, anh mời chúng tôi ở lại ăn cơm. Vẫn giữ thói quen ngày trong quân ngũ “không được làm phiền nhiễu nhân dân” mà Lê Bình đã kiếm đâu về hai chú gà trống thiến. Hắn nói: “Đi khắp xóm mới kiếm được cặp gà vì vừa mới qua dịch.” Anh em xắn tay chuẩn bị, chỉ một loáng là xong. Mẫn và Xuyên còn cẩn thận ra vườn xin được một rổ rau lang về luộc. Cơm vừa chín tới, trải mành mành thay chiếu, anh em tôi bày cơm canh ra sàn nhà. Bữa ăn chỉ có thịt gà luộc chấm muối tiêu chanh và rau lang luộc nhưng rất ngon miệng và ấm cúng. Vui vẻ trò chuyện, nhắc lại kỉ niệm xưa, anh em nâng lên hạ xuống chả mấy chốc hết veo hai chai rượu quê, nút lá chuối. Bao nhiêu năm rồi mà người dân An Mỹ vẫn vậy, vẫn chân chất, thật thà, vẫn gần gũi, thân thương.

Thăm đền kỷ niệm sự kiện 300 cán bộ, chiến sĩ cùng nhân dân họp mặt nghe công bố bức thư của Bác Hồ gửi đồng bào cả nước về trách nhiệm đền ơn đáp nghĩa với thương binh, liệt sĩ và gia đình có công.Thăm đền kỷ niệm sự kiện 300 cán bộ, chiến sĩ cùng nhân dân họp mặt
nghe công bố bức thư của Bác Hồ gửi đồng bào cả nước về trách nhiệm
đền ơn đáp nghĩa với thương binh, liệt sĩ và gia đình có công.

Khi chia tay gia đình, thấy trong nhà còn bao tải chè khô, chúng tôi xin mua về làm quà thì anh nói: “Đó là loại chè bán ra ngoài, còn với các cô chú thì phải dùng loại chè đặc biệt. Chờ anh một lát vì ở nhà vừa hết.” Anh sai con đi khắp xóm vét về được ba kí chè “xịn” và cương quyết không lấy tiền. Thật cảm động! Chúng tôi chào anh và gia đình rồi lên xe tìm về khu Hiệu bộ và Cung tiêu xã năm xưa. Cây đa cổ thụ không còn, thay vào đó là trạm xá do trường ta và Viện quân y 354 góp công cùng bà con xây dựng vào năm 1997. Ở An Mỹ vẫn còn nhiều hộ chưa thoát nghèo. Với đất cũ, người xưa, thầy trò chúng ta đã cố gắng làm được những gì có ích để phần nào đền đáp công ơn che chở, đùm bọc của bà con trong những năm tháng chống chiến tranh phá họai của giặc Mỹ.

Khu Trại Cau vẫn còn nhiều cau. Ngược trở ra Suối Chì, chúng tôi dừng xe lên thăm lại khu vực đóng quân. Ngày đó đại đội 6 nằm ở “vị trí tiền tiêu”, cách Trại Cau hơn 1km, cả khóa chỉ có mình Hạ Thanh Xuyên là con gái. Ngày ngày, bạn cứ lủi thủi đi theo con đường đồi ngoằn ngoèo đến lớp, mặc nắng mưa, mặc giá lạnh. Còn bọn con trai chúng tôi thì cứ vô tư học tập, nghịch ngợm mà không hề có chút quan tâm trước sự cô độc của cô bạn gái!... Đang ngơ ngác định hướng thì gặp một chị phụ nữ đi ngang qua. Hỏi ra thì biết chị tên là Thanh và từng là chiến sĩ nuôi quân của đại đội 10; sau này chị có sang Quế Lâm nhưng không chịu được rét nên phải về sớm. “Dân Trỗi” nhận ra nhau, chị cảm động nắm lấy tay từng đứa rồi dẫn chúng tôi về thăm nhà. Chị rót từng bát nước chè xanh mới hãm ra mời chúng tôi. Chị còn nghèo, chỉ có nhà tranh vách đất nhưng tình cảm với anh em chúng tôi vẫn như bát nước đầy. Khi biết chúng tôi là “dân khoá 5” thì chị nhắc lại chuyện cũ: “Khóa các em là nghịch nhất trường. Có đứa đã ụp cả chậu cơm lên đầu chị Quỳnh. Nhưng đấy cũng là chuyện xưa… Nhanh thật, vậy mà đã mấy chục năm!”. Hàn huyên rồi chị dẫn đi thăm khu doanh trại cũ. Cả quả đồi được phủ xanh bằng vườn chè bạt ngàn xen lẫn rừng bạch đàn. Đây là con đường mòn chạy xuống khu bếp ăn đại đội, đoạn giao thông hào chạy song song vẫn còn chứng tích. Ngày đó ở ngay đầu dốc xuống bếp có cây trám đen, các bạn có còn nhớ? Nay cây trám đã bị chặt sát gốc. Chúng tôi nghịch ngợm xúm lại, sờ tay vào gốc trám, xin “chứng dám cho sự có mặt” sau hơn 30 năm xa cách. Lưu luyến chia tay chị, chúng tôi lên xe về huyện. Kỳ Bắc không quên dúi vào tay chị mấy trăm ngàn làm quà.

Cách Suối Chì vài trăm mét có cái cầu gỗ bắc ngang qua suối, thấy phong cảnh hữu tình, chúng tôi dừng lại chụp ảnh. Trên đường về, chúng tôi đã tạt vào thăm một di tích lịch sử, văn hóa. Chính nơi đây, ngày 27 tháng 7 năm 1947, đã chứng kiến sự kiện 300 cán bộ, chiến sĩ cùng nhân dân địa phương họp mặt nghe công bố bức thư của Hồ Chủ tịch gửi đồng bào cả nước về trách nhiệm đền ơn đáp nghĩa với thương binh, liệt sĩ và gia đình có công. Ngay giữa sân là một bia kỉ niệm tạc trên một phiến đá hoa cương lớn. Trong đền, ở gian chính có bàn thờ và tượng Bác. Chúng tôi vào thắp hương rồi quây quần nghe bác cựu chiến binh, đang trông coi đền, kể về sự tích của ngôi đền: “Để tưởng nhớ sự kiện lịch sử, để tưởng nhớ công ơn trời biển của Bác, nhân dân địa phương đã góp công sức và tiền bạc xây trên chính mảnh đất này ngôi đền này…”

Trời chiều ảm đạm, rời Đại Từ mà trong lòng thấy bâng khuâng. Không ai nói một lời. Hình như tất cả đang cố hình dung lại những gì đã xảy ra cách nay đã gần nửa đời người… Nhưng không thể buồn mãi, để đánh dấu cho ngày trở về, để sống lại đúng cái thuở ngày xưa, cả bọn quyết định tạt vào khu du lịch Hồ Núi Cốc ăn cơm chiều. Nói là “ăn cơm chiều” nhưng phải 12 giờ đêm mới kết thúc, lên xe ra về. Đúng 2 giờ sáng về tới Hà Nội và chúng tôi đã làm đúng cam kết với bố mẹ: không bao giờ đi chơi về trễ(!).

 

Sài Gòn, 27-7-2000
H.Đ.H




* - Hiện công tác tại Xí nghiệp liên hợp Ba Son, thành phố Hồ Chí Minh.


Thứ Bảy, 11 tháng 4, 2009

THỜI GIAN VÀ KỶ NIỆM





Ban Biên soạn

Từ tháng 3 năm 1965, con em có cha mẹ công tác ở Tổng cục Chính trị, Hậu cần, Bộ Tổng Tham mưu, Văn phòng Bộ Quốc phòng “lục tục” tập trung lên Tiểu đoàn 126, Trường Văn hóa Quân đội tại Hiệp Hòa (Hà Bắc). Khi đó các lớp 5, 6, 7 được sống trong doanh trại Trại Hòe, còn các anh lớp 9, 10 sống ở Trại Cờ (gần Phố Thắng - phố huyện của Hiệp Hòa).

Chương trình chủ yếu thời kì đầu là ổn định tổ chức và ôn tập văn hóa. Ngoài ra, anh em được làm quen với việc đào hầm chữ A và giao thông hào phòng không, tập các phương án chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ. Máy bay Mỹ thường bay qua vùng trời nơi trường đóng quân để đánh phá Nhà máy Phân đạm Hà Bắc, sân bay Kép... Có thời gian các lớp phải sơ tán vào dân (sáng đi, chiều về) để tránh máy bay Mỹ, đây cũng là thời gian để làm quen với “công tác dân vận”. Chiều về được đá bóng trên sân vận động của trường và bơi lội ở mương thủy lợi sau doanh trại.

Đêm 15 tháng 7, toàn trường được lệnh hành quân chuyển địa điểm, các lớp khẩn trương thu dọn tư trang, sách vở… chuẩn bị lên đường. Một đoàn xe tải quân sự bịt bùng, quãng 8 giờ tối, có mặt trên sân vận động, các lớp lên xe theo chỉ huy của đại đội trưởng. Đây là đợt hành quân đầu tiên trong đời lính. Xe đi theo “đường chiến lược” từ Hiệp Hòa tắt qua Thái Nguyên. Đường xóc và tối như bưng. Riêng khi qua khu gang thép Thái Nguyên thì thấy đèn sáng trưng, chả thấy không khí chiến tranh đâu cả. Quãng 1 - 2 giờ đêm thì đến cây đa cổ thụ xã An Mỹ (Đại Từ, Bắc Thái). Sau đó, đứa nào đứa nấy vừa ngủ gà ngủ gật vừa hành quân bộ tiếp tục vào các bản làng sát chân núi (dễ chừng tới 2 – 3km). Từng tiểu đội được xé lẻ ra phân vào các hộ dân. Mệt đừ, sau khi được phân chỗ là lăn quay ra ngủ. Sáng hôm sau tỉnh dậy mới biết thế nào là Chiến khu Việt Bắc (?), cả lòng chảo An Mỹ chìm trong sương sớm, không gian lặng tanh, xa xa vẳng tiếng mõ trâu lốc cốc và tiếng suối róc rách. Ăn sáng xong là mò đi thăm rừng ngay. Lạ mà!

Sau thời gian tạm ở trong dân, các lớp bắt đầu triển khai xây dựng doanh trại, vào rừng chặt tre nứa, vầu về làm nhà ở, lớp học. Lớp 8 ở sâu trong rừng gần thác Bom Bom; lớp 9 và10 ở dịch ra ngoài bìa rừng cạnh làng của đồng bào Dao. Bạn Lâm Duy (khóa 4) bị tai nạn khi khai thác gỗ, trên đường cấp cứu về Hà Nội thì mất.

Ngày 15 tháng 9, bổ sung thêm con em các Tổng cục và cơ quan Trung ương. Ngày 15 tháng 10 năm 1965, lễ thành lập trường được tổ chức tại cửa rừng cạnh thác Bom Bom. Trong buổi lễ có đại diện của Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị. Toàn trường được phát quân phục kiểu không quân: áo blu-dông, quần xanh, mũ cối. Các anh lớp 8, 9, 10 được giao súng trường tự động CKC, tiểu liên AK-47, tiểu liên băng tròn K50. Anh Lê Võ Tiến Hưng (lớp 10 - khóa 1) được phân công đọc “Chín lời thề danh dự của học sinh Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi”.

Vào học tập, các lớp bố trí rải rác ở Cao Chùa, Trại Cau, La Hiên… Máy bay Mỹ gầm rú trên đầu, đây là đường bay của chúng vào đánh phá Khu gang thép. Hàng tháng vẫn được xem phim chiếu ở cây đa Hiệu bộ. Cha mẹ thỉnh thoảng lên thăm vào các ngày chủ nhật, ngày lễ.

Tháng 6 năm 1966, lớp 10 (khóa 1) thi tốt nghiệp. Sau đó, 100% quân số (53 người) lên Đại học Kỹ thuật Quân sự học tập, rèn luyện. Hè 1966 là đợt đi phép đầu tiên trong đời lính, anh em được nghỉ 15 ngày phép với cha mẹ. Vào năm học mới, khóa 7 bổ sung lên trường bắt đầu vào học chương trình lớp 5. Khóa 5 (lớp 7) chuyển ra Suối Chì (tiền tiêu của nhà trường), khóa 4 (lớp 8) ở Trại Cau, có thêm C11 cho các bạn nữ do cô Hồng (vợ bác Trần Đăng Ninh) và cô Thục phụ trách. Hàng ngày các bạn nữ phải đi bộ vài cây số từ Trại Cau đến các lớp để học tập.

Năm học 1966 - 1967, Tổng cục điều về trường một số hạ sĩ quan vừa tốt nghiệp trường Hạ sĩ quan xe tăng làm cán bộ khung, phụ trách các trung đội thuộc khóa 5, 6, 7. Đó là các anh Thụy, anh Quân, anh Trinh, anh Xuyên, anh Côn, anh Phảng, anh Kính… Các anh đã áp dụng một số kinh nghiệp vừa học tập ở trường để áp dụng quản lý học sinh Thiếu sinh quân.

Toàn trường vẫn tiếp tục học tập và rèn luyện trong điều kiện sơ tán, thiếu thốn và gian khó. Do giặc Mỹ tiếp tục mở rộng chiến tranh phá hoại, để chuẩn bị lực lượng kế cận cho cuộc chiến tranh chống Mỹ có thể còn kéo dài và cho công cuộc xây dựng sau chiến tranh, Đảng – Bác quyết định xin Bạn cho trường chuyển sang Quế Lâm. Toàn trường hành quân về Hà Nội cuối tháng 12 năm 1966, đúng vào đợt nghỉ lễ Noel và tết dương lịch.

Đầu tháng giêng năm 1967, toàn trường tập trung chuẩn bị ra ga lên tầu liên vận sang Trung Quốc. Khóa 5, 6, 7 tập trung ở trường Thanh Quan; khóa 2, 3, 4 ở Trưng Vương... Anh em được phát một số quân trang phòng lạnh. Chiều hôm đó ra ga lên tầu ngược Lạng Sơn qua Đồng Đăng sang Bằng Tường. Sáng sớm ngày hôm sau qua biên giới, trời âm u, nghe gà vùng biên gáy o o, thế mới hình dung ra lời bài hát “Việt nam, Trung Hoa núi liền núi, sông liền sông, sớm sớm chung nghe tiếng gà gáy cùng…”.

Ở Bằng Tường, thấy cuộc sống khác hẳn, thanh bình - không hề có chiến tranh. Các bạn đón tiếp nồng hậu và cho chuyển sang tầu liên vận Trung Quốc. Đa số anh em lần đầu được đi tầu liên vận, ăn ba bữa no và ngon, đúng là “ăn cơm Tầu”. Xe lửa chạy qua Nam Ninh, Liễu Châu và sáng hôm sau đến ga Quế Lâm. Bạn với nhiều cờ hoa, biểu ngữ ra sân ga đón các bạn Việt Nam từ tiền tuyến lớn trở về. Thời kỳ này ở Trung Quốc đang diễn ra Đại cách mạng văn hóa vô sản.

Trời se lạnh, anh em được đón về trường Trung học số 1 Quế Lâm (Y Trung). Mọi người được phát chăn đệm, nằm giường tầng, nhà ở ngay cạnh lớp học. Trung tâm trường là một sân vận động, xung quanh có đường piste. Sau khi ổn định tổ chức, toàn trường bắt đầu vào học tập. Dịch viêm màng não hoành hành và chiến dịch chống viêm màng não được phát động trong toàn trường.

Tháng 6 năm 1967, khóa 2 thi tốt nghiệp, sau đó về nước. Đa số học sinh khóa 2 (70 trên tổng số 84 người) được đưa sang Liên Xô học trong các trường cao đẳng quân sự đào tạo kỹ sư phòng không, thông tin, vũ khí…

Tháng 8 năm 1967, các em khóa 8 tập trung hành quân sang Quế Lâm bằng xe ô-tô từ Hà Nội lên Thái Nguyên, rồi theo đường 1B qua Bắc cạn, lên Lạng Sơn, Đồng Đăng. Từ Bằng Tường đi tầu liên vận về Quế Lâm. Các em khóa 7 và 8 vẫn ở trường cũ, còn khóa 3, 4, 5, 6 về trường mới do bạn xây dựng ở Phong Khẩu. Trường mới khang trang hơn, nhưng gió thì kinh khủng, đúng với cái tên của nó: “Cửa Gió”! Mùa đông năm học 1967-1968 có tuyết rơi, (lần đầu tiên tụi trẻ con Việt Nam biết thế nào là tuyết). Sau đó lớp 5, 6 rời Y Trung, chuyển về trường mới.

Từ đầu 1968, Cách mạng văn hóa tại Trung Quốc khốc liệt hơn, các phe phái đánh nhau quyết liệt. Thậm chí có thời gian toàn Quế Lâm bị cắt điện, Bạn phải cho kéo máy phát điện đến cho trường sử dụng. Nghe nói Cao Chính ủy (lãnh tụ thanh niên của trường Y Trung) khi đưa Hồng vệ binh Quế Lâm (phái “Tạo phản”) tấn công lên Thượng Hải đã bị phái công nhân (“Liên chỉ”) bắn chết.

Tháng 5 năm 1968, khóa 4 được lệnh về nước trước. Ngày 19 tháng 5 năm 1968, khóa 4 về trường Quân chính Quân khu Tả ngạn rèn luyện. Tiếp theo là khóa 3 với 180 học sinh, sau khi thi tốt nghiệp, cũng về huấn luyện tân binh tại trường Quân chính. Rèn luyện xong, 30 học sinh khóa 3 được đi học nước ngoài (Liên Xô, Ba Lan), 150 lên Đại học Kỹ thuật Quân sự.

Tháng 8 năm 1968, toàn trường rút về nước. Hình ảnh cuối cùng của Quế Lâm để lại trong mắt thầy trò trường ta là cả thành phố nằm bên “vịnh Hạ Long trên cạn” vừa mới qua một trận “nội chiến” ác liệt, đổ nát, tan hoang… Bịn rịn, cô bác sĩ Việt kiều và một vài bạn gái ra tận ga tiễn anh em về nước… Sau 3 ngày, tầu về tới ga Hàng Cỏ, anh em hành quân dọc đường Nam Bộ, Điện Biên về Câu lạc bộ Quân đội rồi mới giải tán về nghỉ phép sau một năm rưỡi xa nhà. Hết phép, trường tập trung lên Trung Hà (Hà Tây) và Hưng Hóa (Vĩnh Phú).

Sau khi rèn luyện, khóa 4 lại về học tại Hưng Hóa. Đến tháng 6 năm 1969, 174 học sinh khóa 4 tốt nghiệp. Sau tốt nghiệp, 70% học sinh khóa 4 được tuyển vào Đại học Quân y, Đại học Kỹ thuật Quân sự và gửi ra Đại học Tổng hợp học.

Tháng 5 năm 1970, khóa 5 với 200 học sinh đã thi tốt nghiệp. Sau khi tốt nghiệp, 70% học sinh khóa 5 được sự tuyển chọn của Cục Cán bộ và được sự đồng ý của cha mẹ đã lên trường Văn hóa Quân đội (Lạng Sơn) để ôn thi đại học. Năm 1970 là năm tổ chức thi tuyển vào đại học đầu tiên ở miền Bắc.

Chương trình đào tạo của Trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi chấm dứt. Các khóa 6, 7, 8 được trả về gia đình. Từ tháng 9 năm 1970, các khóa 6 (112 học sinh), khóa 7 (149 học sinh), khóa 8 (172 học sinh) về học tiếp tục tại các trường phổ thông tại Hà Nội, Hải Phòng và một số tỉnh thành nơi gia đình sinh sống.

Lần lượt các khóa 6, 7, 8 vào tháng 7 các năm 1971, 72, 73 sau khi thi tốt nghiệp phổ thông đều được Cục Cán bộ tuyển chọn vào bộ đội để thi vào các trường Đại học Kỹ thuật Quân sự, Quân y hay các trường Sĩ quan chỉ huy. Mặt khác, nhiều bạn còn tình nguyện nhập ngũ, tham gia vào các đơn vị chiến đấu, hướng về chiến trường miền Nam.

Là con em cách mạng, được Trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi đào tạo, rèn luyện, gần 1200 học sinh đã trưởng thành và có nhiều đóng góp cho sự nghiệp chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc, xây dựng Quân đội lên chính quy hiện đại và góp phần vào công cuộc xây dựng đất nước Việt Nam ngày một giầu đẹp như Bác Hồ và thế hệ Cha Anh chúng ta hằng mong ước.

Sau 5 năm đào tạo, Trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử được giao. Ngày nay, các cựu học sinh Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi vẫn luôn nhớ đến trường, đến thầy cô, đến bạn bè và sẽ cố gắng hết sức mình để cho tình cảm của thầy trò Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi mãi mãi trong sáng như cái tên nhà trường đã mang.

B.B.S (SRTKL1)




Ban Biên soạn

Từ tháng 3 năm 1965, con em có cha mẹ công tác ở Tổng cục Chính trị, Hậu cần, Bộ Tổng Tham mưu, Văn phòng Bộ Quốc phòng “lục tục” tập trung lên Tiểu đoàn 126, Trường Văn hóa Quân đội tại Hiệp Hòa (Hà Bắc). Khi đó các lớp 5, 6, 7 được sống trong doanh trại Trại Hòe, còn các anh lớp 9, 10 sống ở Trại Cờ (gần Phố Thắng - phố huyện của Hiệp Hòa).

Chương trình chủ yếu thời kì đầu là ổn định tổ chức và ôn tập văn hóa. Ngoài ra, anh em được làm quen với việc đào hầm chữ A và giao thông hào phòng không, tập các phương án chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ. Máy bay Mỹ thường bay qua vùng trời nơi trường đóng quân để đánh phá Nhà máy Phân đạm Hà Bắc, sân bay Kép... Có thời gian các lớp phải sơ tán vào dân (sáng đi, chiều về) để tránh máy bay Mỹ, đây cũng là thời gian để làm quen với “công tác dân vận”. Chiều về được đá bóng trên sân vận động của trường và bơi lội ở mương thủy lợi sau doanh trại.

Đêm 15 tháng 7, toàn trường được lệnh hành quân chuyển địa điểm, các lớp khẩn trương thu dọn tư trang, sách vở… chuẩn bị lên đường. Một đoàn xe tải quân sự bịt bùng, quãng 8 giờ tối, có mặt trên sân vận động, các lớp lên xe theo chỉ huy của đại đội trưởng. Đây là đợt hành quân đầu tiên trong đời lính. Xe đi theo “đường chiến lược” từ Hiệp Hòa tắt qua Thái Nguyên. Đường xóc và tối như bưng. Riêng khi qua khu gang thép Thái Nguyên thì thấy đèn sáng trưng, chả thấy không khí chiến tranh đâu cả. Quãng 1 - 2 giờ đêm thì đến cây đa cổ thụ xã An Mỹ (Đại Từ, Bắc Thái). Sau đó, đứa nào đứa nấy vừa ngủ gà ngủ gật vừa hành quân bộ tiếp tục vào các bản làng sát chân núi (dễ chừng tới 2 – 3km). Từng tiểu đội được xé lẻ ra phân vào các hộ dân. Mệt đừ, sau khi được phân chỗ là lăn quay ra ngủ. Sáng hôm sau tỉnh dậy mới biết thế nào là Chiến khu Việt Bắc (?), cả lòng chảo An Mỹ chìm trong sương sớm, không gian lặng tanh, xa xa vẳng tiếng mõ trâu lốc cốc và tiếng suối róc rách. Ăn sáng xong là mò đi thăm rừng ngay. Lạ mà!

Sau thời gian tạm ở trong dân, các lớp bắt đầu triển khai xây dựng doanh trại, vào rừng chặt tre nứa, vầu về làm nhà ở, lớp học. Lớp 8 ở sâu trong rừng gần thác Bom Bom; lớp 9 và10 ở dịch ra ngoài bìa rừng cạnh làng của đồng bào Dao. Bạn Lâm Duy (khóa 4) bị tai nạn khi khai thác gỗ, trên đường cấp cứu về Hà Nội thì mất.

Ngày 15 tháng 9, bổ sung thêm con em các Tổng cục và cơ quan Trung ương. Ngày 15 tháng 10 năm 1965, lễ thành lập trường được tổ chức tại cửa rừng cạnh thác Bom Bom. Trong buổi lễ có đại diện của Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị. Toàn trường được phát quân phục kiểu không quân: áo blu-dông, quần xanh, mũ cối. Các anh lớp 8, 9, 10 được giao súng trường tự động CKC, tiểu liên AK-47, tiểu liên băng tròn K50. Anh Lê Võ Tiến Hưng (lớp 10 - khóa 1) được phân công đọc “Chín lời thề danh dự của học sinh Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi”.

Vào học tập, các lớp bố trí rải rác ở Cao Chùa, Trại Cau, La Hiên… Máy bay Mỹ gầm rú trên đầu, đây là đường bay của chúng vào đánh phá Khu gang thép. Hàng tháng vẫn được xem phim chiếu ở cây đa Hiệu bộ. Cha mẹ thỉnh thoảng lên thăm vào các ngày chủ nhật, ngày lễ.

Tháng 6 năm 1966, lớp 10 (khóa 1) thi tốt nghiệp. Sau đó, 100% quân số (53 người) lên Đại học Kỹ thuật Quân sự học tập, rèn luyện. Hè 1966 là đợt đi phép đầu tiên trong đời lính, anh em được nghỉ 15 ngày phép với cha mẹ. Vào năm học mới, khóa 7 bổ sung lên trường bắt đầu vào học chương trình lớp 5. Khóa 5 (lớp 7) chuyển ra Suối Chì (tiền tiêu của nhà trường), khóa 4 (lớp 8) ở Trại Cau, có thêm C11 cho các bạn nữ do cô Hồng (vợ bác Trần Đăng Ninh) và cô Thục phụ trách. Hàng ngày các bạn nữ phải đi bộ vài cây số từ Trại Cau đến các lớp để học tập.

Năm học 1966 - 1967, Tổng cục điều về trường một số hạ sĩ quan vừa tốt nghiệp trường Hạ sĩ quan xe tăng làm cán bộ khung, phụ trách các trung đội thuộc khóa 5, 6, 7. Đó là các anh Thụy, anh Quân, anh Trinh, anh Xuyên, anh Côn, anh Phảng, anh Kính… Các anh đã áp dụng một số kinh nghiệp vừa học tập ở trường để áp dụng quản lý học sinh Thiếu sinh quân.

Toàn trường vẫn tiếp tục học tập và rèn luyện trong điều kiện sơ tán, thiếu thốn và gian khó. Do giặc Mỹ tiếp tục mở rộng chiến tranh phá hoại, để chuẩn bị lực lượng kế cận cho cuộc chiến tranh chống Mỹ có thể còn kéo dài và cho công cuộc xây dựng sau chiến tranh, Đảng – Bác quyết định xin Bạn cho trường chuyển sang Quế Lâm. Toàn trường hành quân về Hà Nội cuối tháng 12 năm 1966, đúng vào đợt nghỉ lễ Noel và tết dương lịch.

Đầu tháng giêng năm 1967, toàn trường tập trung chuẩn bị ra ga lên tầu liên vận sang Trung Quốc. Khóa 5, 6, 7 tập trung ở trường Thanh Quan; khóa 2, 3, 4 ở Trưng Vương... Anh em được phát một số quân trang phòng lạnh. Chiều hôm đó ra ga lên tầu ngược Lạng Sơn qua Đồng Đăng sang Bằng Tường. Sáng sớm ngày hôm sau qua biên giới, trời âm u, nghe gà vùng biên gáy o o, thế mới hình dung ra lời bài hát “Việt nam, Trung Hoa núi liền núi, sông liền sông, sớm sớm chung nghe tiếng gà gáy cùng…”.

Ở Bằng Tường, thấy cuộc sống khác hẳn, thanh bình - không hề có chiến tranh. Các bạn đón tiếp nồng hậu và cho chuyển sang tầu liên vận Trung Quốc. Đa số anh em lần đầu được đi tầu liên vận, ăn ba bữa no và ngon, đúng là “ăn cơm Tầu”. Xe lửa chạy qua Nam Ninh, Liễu Châu và sáng hôm sau đến ga Quế Lâm. Bạn với nhiều cờ hoa, biểu ngữ ra sân ga đón các bạn Việt Nam từ tiền tuyến lớn trở về. Thời kỳ này ở Trung Quốc đang diễn ra Đại cách mạng văn hóa vô sản.

Trời se lạnh, anh em được đón về trường Trung học số 1 Quế Lâm (Y Trung). Mọi người được phát chăn đệm, nằm giường tầng, nhà ở ngay cạnh lớp học. Trung tâm trường là một sân vận động, xung quanh có đường piste. Sau khi ổn định tổ chức, toàn trường bắt đầu vào học tập. Dịch viêm màng não hoành hành và chiến dịch chống viêm màng não được phát động trong toàn trường.

Tháng 6 năm 1967, khóa 2 thi tốt nghiệp, sau đó về nước. Đa số học sinh khóa 2 (70 trên tổng số 84 người) được đưa sang Liên Xô học trong các trường cao đẳng quân sự đào tạo kỹ sư phòng không, thông tin, vũ khí…

Tháng 8 năm 1967, các em khóa 8 tập trung hành quân sang Quế Lâm bằng xe ô-tô từ Hà Nội lên Thái Nguyên, rồi theo đường 1B qua Bắc cạn, lên Lạng Sơn, Đồng Đăng. Từ Bằng Tường đi tầu liên vận về Quế Lâm. Các em khóa 7 và 8 vẫn ở trường cũ, còn khóa 3, 4, 5, 6 về trường mới do bạn xây dựng ở Phong Khẩu. Trường mới khang trang hơn, nhưng gió thì kinh khủng, đúng với cái tên của nó: “Cửa Gió”! Mùa đông năm học 1967-1968 có tuyết rơi, (lần đầu tiên tụi trẻ con Việt Nam biết thế nào là tuyết). Sau đó lớp 5, 6 rời Y Trung, chuyển về trường mới.

Từ đầu 1968, Cách mạng văn hóa tại Trung Quốc khốc liệt hơn, các phe phái đánh nhau quyết liệt. Thậm chí có thời gian toàn Quế Lâm bị cắt điện, Bạn phải cho kéo máy phát điện đến cho trường sử dụng. Nghe nói Cao Chính ủy (lãnh tụ thanh niên của trường Y Trung) khi đưa Hồng vệ binh Quế Lâm (phái “Tạo phản”) tấn công lên Thượng Hải đã bị phái công nhân (“Liên chỉ”) bắn chết.

Tháng 5 năm 1968, khóa 4 được lệnh về nước trước. Ngày 19 tháng 5 năm 1968, khóa 4 về trường Quân chính Quân khu Tả ngạn rèn luyện. Tiếp theo là khóa 3 với 180 học sinh, sau khi thi tốt nghiệp, cũng về huấn luyện tân binh tại trường Quân chính. Rèn luyện xong, 30 học sinh khóa 3 được đi học nước ngoài (Liên Xô, Ba Lan), 150 lên Đại học Kỹ thuật Quân sự.

Tháng 8 năm 1968, toàn trường rút về nước. Hình ảnh cuối cùng của Quế Lâm để lại trong mắt thầy trò trường ta là cả thành phố nằm bên “vịnh Hạ Long trên cạn” vừa mới qua một trận “nội chiến” ác liệt, đổ nát, tan hoang… Bịn rịn, cô bác sĩ Việt kiều và một vài bạn gái ra tận ga tiễn anh em về nước… Sau 3 ngày, tầu về tới ga Hàng Cỏ, anh em hành quân dọc đường Nam Bộ, Điện Biên về Câu lạc bộ Quân đội rồi mới giải tán về nghỉ phép sau một năm rưỡi xa nhà. Hết phép, trường tập trung lên Trung Hà (Hà Tây) và Hưng Hóa (Vĩnh Phú).

Sau khi rèn luyện, khóa 4 lại về học tại Hưng Hóa. Đến tháng 6 năm 1969, 174 học sinh khóa 4 tốt nghiệp. Sau tốt nghiệp, 70% học sinh khóa 4 được tuyển vào Đại học Quân y, Đại học Kỹ thuật Quân sự và gửi ra Đại học Tổng hợp học.

Tháng 5 năm 1970, khóa 5 với 200 học sinh đã thi tốt nghiệp. Sau khi tốt nghiệp, 70% học sinh khóa 5 được sự tuyển chọn của Cục Cán bộ và được sự đồng ý của cha mẹ đã lên trường Văn hóa Quân đội (Lạng Sơn) để ôn thi đại học. Năm 1970 là năm tổ chức thi tuyển vào đại học đầu tiên ở miền Bắc.

Chương trình đào tạo của Trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi chấm dứt. Các khóa 6, 7, 8 được trả về gia đình. Từ tháng 9 năm 1970, các khóa 6 (112 học sinh), khóa 7 (149 học sinh), khóa 8 (172 học sinh) về học tiếp tục tại các trường phổ thông tại Hà Nội, Hải Phòng và một số tỉnh thành nơi gia đình sinh sống.

Lần lượt các khóa 6, 7, 8 vào tháng 7 các năm 1971, 72, 73 sau khi thi tốt nghiệp phổ thông đều được Cục Cán bộ tuyển chọn vào bộ đội để thi vào các trường Đại học Kỹ thuật Quân sự, Quân y hay các trường Sĩ quan chỉ huy. Mặt khác, nhiều bạn còn tình nguyện nhập ngũ, tham gia vào các đơn vị chiến đấu, hướng về chiến trường miền Nam.

Là con em cách mạng, được Trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi đào tạo, rèn luyện, gần 1200 học sinh đã trưởng thành và có nhiều đóng góp cho sự nghiệp chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc, xây dựng Quân đội lên chính quy hiện đại và góp phần vào công cuộc xây dựng đất nước Việt Nam ngày một giầu đẹp như Bác Hồ và thế hệ Cha Anh chúng ta hằng mong ước.

Sau 5 năm đào tạo, Trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử được giao. Ngày nay, các cựu học sinh Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi vẫn luôn nhớ đến trường, đến thầy cô, đến bạn bè và sẽ cố gắng hết sức mình để cho tình cảm của thầy trò Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi mãi mãi trong sáng như cái tên nhà trường đã mang.

B.B.S (SRTKL1)

3.3. Tâm sự của học sinh nhân họp mặt truyền thống 35 năm



3.3. TÂM SỰ CỦA HỌC SINH NHÂN HỌP MẶT TRUYỀN THỐNG 35 NĂM

Kính thưa các thầy, các cô – những người cách đây 35 năm là những sĩ quan Quân đội NDVN, là thầy cô giáo của Trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi,
Kính thưa các bác là đại diện phụ huynh học sinh nhà trường,
Kính thưa chị Phan Thị Quyên,
Thưa các anh, các chị, các bạn, các em là cựu học sinh Trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi thời kì 1965-1970

Hôm nay, trong ngày 15 tháng 10 lịch sử, chúng em hết sức xúc động tề tựu về đây để kỉ niệm một sự kiện quan trọng trong cuộc sống của chúng em, của các thầy cô. Đó là sự ra đời của Trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi thuộc Tổng cục Chinh trị – Quân đội NDVN.
Cách đây 35 năm, chắc hẳn các thầy cô lúc đó – những sĩ quan Quân đội – rất ngạc nhiên khi được giao nhiệm vụ dạy dỗ chúng em, vốn không phải là các chiến sĩ trong Quân đội. Còn chúng em, vốn là học sinh, trong hoàn cảnh cả nước đánh giặc, được học tập, được nuôi dưỡng, được có người dạy dỗ là vui rồi. Chúng em được học tất cả các môn văn hóa, kể cả ngoại ngữ, nhạc họa và thể thao. Chúng em còn nhớ cả những ngày chủ nhật ở Đại Từ, lên rừng kiếm củi về cho nhà bếp nấu cơm, hay chặt nứa, chặt vầu về làm nhà; nhớ cả những buổi đi gặt giúp dân, chúng em – “những thư sinh đường nhựa” – chỉ gánh được mỗi bên vài lượm lúa. Các thầy các cô không chỉ là người dạy dỗ, mà còn là những người hướng dẫn chúng em vào đời từ thuở còn thơ.
Tuy học trong mái trường Quân đội, nhưng vốn là những học sinh mới lớn, nên chúng em rất nghịch ngợm. Khi thì trốn giờ ngủ trưa để lên đồi hái sim ăn, đầu giờ chiều điểm danh, miệng tím ngắt chẳng biết giải thích làm sao. Lúc máy bay Mỹ bay qua thì không thèm xuống hầm, mà lại trèo lên cây để “quan sát” cho rõ. Đào của công xã chưa chín thì chúng em đã “bí mật thu hoạch”, bị người gác vườn đuổi chạy tơi bời... Nhưng, các thầy, các cô đã chia xẻ hết, chịu đựng hết với chúng em (với những quậy phá của tuổi học trò) khi sống xa cha, xa mẹ.
Thế là đã 35 năm trôi qua. Các anh chị khóa 1 giờ đã 52 - 53 tuổi, các em khóa 8 cũng đã 43 - 44. Các anh chị còn phục vụ trong Quân đội hôm nay đều là sĩ quan, công tác ở các quân binh chủng, các học viện, các quân y viện, ở cơ quan Bộ Quốc phòng. Nhiều anh chị em đang làm việc tại các cơ quan của Chính phủ, cơ quan của Đảng, là đại biểu Quốc hội. Nhiều người giờ đây là chủ doanh nghiệp với hàng chục, hàng trăm công nhân, làm ra sản phẩm không thua kém của nước ngoài, hay xuất khẩu đi nhiều nước trên thế giới.
Và có nhiều người đã hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và chiến tranh bảo vệ biên giới, có bạn được phong tặng Anh hùng Lực lượng vũ trang.

Kính thưa các thầy, các cô!
Có được như ngày hôm nay, một phần quan trọng là nhờ công lao của các thầy cô đã dạy cho chúng em cái cần phải học, đã chỉ cho chúng em cái cần phải làm, đã hướng dẫn cho chúng em cái cần phải hiểu ở lứa tuổi học trò của chúng em lúc đó. Đúng như tổ tiên ta đã tổng kết: “Không thầy, đố mày làm nên”!
Chúng em rất vui mừng được gặp lại các thầy, các cô hôm nay, nhưng cũng thực sự trạnh lòng khi thấy tóc các thầy, các cô đã bạc nhiều.
Chúng em nhớ tới các thầy, các cô ở Hà Nội và ở các tỉnh khác vào dịp này chúng em không có điều kiện gặp lại. Chúng em nhớ tới bác Bùi Khắc Quỳnh, nguyên Chính ủy của trường.
Chúng em, tất cả học sinh Trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi có mặt ngày hôm nay ở đây, xin bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc của chúng em và gia đình đối với các thầy, các cô. Chúng em kính chúc các thầy, các cô được nhiều sức khỏe, chiến thắng khó khăn của tuổi già, vẫn có ích cho đời, vui với con cháu, gia đình.
Chúng em xin hứa sẽ phấn đấu hết khả năng theo hoàn cảnh của mình để Trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi là niềm tự hào của Quân đội, của các thầy, các cô và của chúng em.

(Nguyễn Thiện Nhân, Phó Chủ tịch UBND TPHCM).


SRTKL1


3.3. TÂM SỰ CỦA HỌC SINH NHÂN HỌP MẶT TRUYỀN THỐNG 35 NĂM

Kính thưa các thầy, các cô – những người cách đây 35 năm là những sĩ quan Quân đội NDVN, là thầy cô giáo của Trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi,
Kính thưa các bác là đại diện phụ huynh học sinh nhà trường,
Kính thưa chị Phan Thị Quyên,
Thưa các anh, các chị, các bạn, các em là cựu học sinh Trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi thời kì 1965-1970

Hôm nay, trong ngày 15 tháng 10 lịch sử, chúng em hết sức xúc động tề tựu về đây để kỉ niệm một sự kiện quan trọng trong cuộc sống của chúng em, của các thầy cô. Đó là sự ra đời của Trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi thuộc Tổng cục Chinh trị – Quân đội NDVN.
Cách đây 35 năm, chắc hẳn các thầy cô lúc đó – những sĩ quan Quân đội – rất ngạc nhiên khi được giao nhiệm vụ dạy dỗ chúng em, vốn không phải là các chiến sĩ trong Quân đội. Còn chúng em, vốn là học sinh, trong hoàn cảnh cả nước đánh giặc, được học tập, được nuôi dưỡng, được có người dạy dỗ là vui rồi. Chúng em được học tất cả các môn văn hóa, kể cả ngoại ngữ, nhạc họa và thể thao. Chúng em còn nhớ cả những ngày chủ nhật ở Đại Từ, lên rừng kiếm củi về cho nhà bếp nấu cơm, hay chặt nứa, chặt vầu về làm nhà; nhớ cả những buổi đi gặt giúp dân, chúng em – “những thư sinh đường nhựa” – chỉ gánh được mỗi bên vài lượm lúa. Các thầy các cô không chỉ là người dạy dỗ, mà còn là những người hướng dẫn chúng em vào đời từ thuở còn thơ.
Tuy học trong mái trường Quân đội, nhưng vốn là những học sinh mới lớn, nên chúng em rất nghịch ngợm. Khi thì trốn giờ ngủ trưa để lên đồi hái sim ăn, đầu giờ chiều điểm danh, miệng tím ngắt chẳng biết giải thích làm sao. Lúc máy bay Mỹ bay qua thì không thèm xuống hầm, mà lại trèo lên cây để “quan sát” cho rõ. Đào của công xã chưa chín thì chúng em đã “bí mật thu hoạch”, bị người gác vườn đuổi chạy tơi bời... Nhưng, các thầy, các cô đã chia xẻ hết, chịu đựng hết với chúng em (với những quậy phá của tuổi học trò) khi sống xa cha, xa mẹ.
Thế là đã 35 năm trôi qua. Các anh chị khóa 1 giờ đã 52 - 53 tuổi, các em khóa 8 cũng đã 43 - 44. Các anh chị còn phục vụ trong Quân đội hôm nay đều là sĩ quan, công tác ở các quân binh chủng, các học viện, các quân y viện, ở cơ quan Bộ Quốc phòng. Nhiều anh chị em đang làm việc tại các cơ quan của Chính phủ, cơ quan của Đảng, là đại biểu Quốc hội. Nhiều người giờ đây là chủ doanh nghiệp với hàng chục, hàng trăm công nhân, làm ra sản phẩm không thua kém của nước ngoài, hay xuất khẩu đi nhiều nước trên thế giới.
Và có nhiều người đã hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và chiến tranh bảo vệ biên giới, có bạn được phong tặng Anh hùng Lực lượng vũ trang.

Kính thưa các thầy, các cô!
Có được như ngày hôm nay, một phần quan trọng là nhờ công lao của các thầy cô đã dạy cho chúng em cái cần phải học, đã chỉ cho chúng em cái cần phải làm, đã hướng dẫn cho chúng em cái cần phải hiểu ở lứa tuổi học trò của chúng em lúc đó. Đúng như tổ tiên ta đã tổng kết: “Không thầy, đố mày làm nên”!
Chúng em rất vui mừng được gặp lại các thầy, các cô hôm nay, nhưng cũng thực sự trạnh lòng khi thấy tóc các thầy, các cô đã bạc nhiều.
Chúng em nhớ tới các thầy, các cô ở Hà Nội và ở các tỉnh khác vào dịp này chúng em không có điều kiện gặp lại. Chúng em nhớ tới bác Bùi Khắc Quỳnh, nguyên Chính ủy của trường.
Chúng em, tất cả học sinh Trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi có mặt ngày hôm nay ở đây, xin bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc của chúng em và gia đình đối với các thầy, các cô. Chúng em kính chúc các thầy, các cô được nhiều sức khỏe, chiến thắng khó khăn của tuổi già, vẫn có ích cho đời, vui với con cháu, gia đình.
Chúng em xin hứa sẽ phấn đấu hết khả năng theo hoàn cảnh của mình để Trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi là niềm tự hào của Quân đội, của các thầy, các cô và của chúng em.

(Nguyễn Thiện Nhân, Phó Chủ tịch UBND TPHCM).


SRTKL1

Trường thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi - Những chặng đường



TRƯỜNG THIẾU SINH QUÂN NGUYỄN VĂN TRỖI
– NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG


(Trích bài phát biểu của thầy Nguyễn Đỗ (giáo viên Văn - Trợ lý giáo vụ) tại Họp mặt truyền thống 35 năm, thành phố Hồ Chí Minh (15-10-2000)

Kính thưa:

- Các bậc phụ huynh học sinh
- Các vị đại biểu
- Các thầy, các cô và các em học sinh thân mến!

Trong ngày vui hội ngộ hôm nay, ôn lại truyền thống và kỷ niệm về trường, chúng ta cùng nhớ lại bối cảnh ra đời của trường ta.
Ngày 27 tháng 7 năm 1965, Hồ Chủ tịch ra lời kêu gọi “Thi đua sản xuất và chiến đấu chống Mỹ cứu nước”. Trong lời kêu gọi ấy, có đoạn Bác nói: “Đứng trước nguy cơ giặc Mỹ cướp nước, đồng bào miền Bắc và đồng bào miền Nam đoàn kết một lòng, kiên quyết chiến đấu; dù phải chiến đấu 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, chúng ta cũng kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn”.
Lời kêu gọi như tiếng kèn xung trận thúc giục, cổ vũ nhân dân ta từ Nam đến Bắc bước vào thời kì kháng chiến oanh liệt nhất của dân tộc.
Trước đó 1 năm, tại Sài Gòn, ngày 15 tháng 10 năm 1964, Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi, con người “như chân lý sinh ra”, đã giành những phút cuối cùng của đời mình để làm nên lịch sử. Anh đã hiên ngang lẫm liệt trước họng súng của Mỹ - Ngụy, đã chiến đấu và hy sinh như một người cộng sản.
Sự hy sinh của Anh đã dấy lên một cao trào thi đua “Tất cả cho tiền tuyến”, đồng thời bùng lên khắp bốn biển năm châu một cao trào ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân ta.
Trong bối cảnh lịch sử sôi động ấy, 3 tháng sau lời kêu gọi của Bác Hồ, ngày 15 tháng 10 năm 1965, Bộ Quốc phòng đã ra quyết định số 171/QĐQP về việc tổ chức Trường Thiếu sinh quân mang tên Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi.
Sự ra đời của Trường là một biểu hiện cụ thể của công cuộc “trồng người” của Đảng, Bác và Quân đội, là một nội dung của đường lối kháng chiến, kiến quốc, chuẩn bị đội ngũ kế cận cho kháng chiến lâu dài, cho xây dựng Quân đội và cho kiến thiết đất nước sau này.
Nhìn lại 35 năm qua, với niềm tự hào chính đáng, chúng ta có thể khẳng định rằng thầy và trò Trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Bộ Quốc phòng đã giao.
Chúng ta đã vượt qua mọi khó khăn gian khổ trong những ngày đầu ở Trại Cờ, Trại Hòe (Hà Bắc), ở An Mỹ – Đại Từ (Bắc Thái) để xây dựng trường sở. Thầy trò cùng tham gia đắp nền nhà, vào rừng đốn cây, chặt nứa làm lán trại. Học sinh bắt ngay vào nhịp sống lao động, có học sinh tham gia cất nhà như người thợ thực thụ, dân địa phương phải ngợi khen. Nhiều giờ học của các em phải dừng lại để xuống hầm trú ẩn. Đặc biệt, khóa 1 làm bài thi tốt nghiệp phổ thông trong tiếng gầm rú của máy bay Mỹ đảo lượn quanh vùng. Thầy và trò dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy nhà trường do Chính ủy Bùi Khắc Quỳnh chủ trì, đã đoàn kết phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ các năm học trong điều kiện còn thiếu thốn về trang thiết bị cần thiết phục vụ giảng dạy và học tập.
Tiếp đó là những ngày Trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi sang tá túc tại Quế Lâm (Trung Quốc). Dù được sống đầy đủ ở Y Trung hay ở Phong Khẩu, thầy và trò luôn hướng về Tổ quốc, hướng về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. “Thi đua dậy tốt, học tốt – vì miền Nam ruột thịt” là một phong trào thường xuyên sôi nổi của trường.
Trên 70% học sinh tốt nghiệp ra trường của 8 khóa đã lần lượt tình nguyện nhập ngũ phục vụ Quân đội lâu dài. Hoài bão được đứng ở tuyến đầu của cuộc chiến đấu gian khổ, ác liệt của nhiều thầy giáo và của các em học sinh được toại nguyện.
Tính cả cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc và phía Tây-Nam Tổ quốc, trường ta có:
- 1 thầy giáo – thầy Nguyễn Văn Phố – và 22 em học sinh đã anh dũng hy sinh, trong đó có Anh hùng liệt sĩ Huỳnh Kim Trung.
- Nhiều thầy giáo và học sinh được tặng thưởng huân chương chiến công.
- Các em học sinh công tác ngoài Quân đội trên lĩnh vực KHKT đã có những đóng góp đáng kể cho sự nghiệp bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Sau ngày toàn thắng 30 tháng 4 năm 1975, đất nước ta bước vào thời kỳ xây dựng, nhiều học sinh Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi có mặt trên các lĩnh vực công tác quốc phòng, an ninh, kinh tế, văn hóa, xã hội. Các em đã tiếp bước Cha Anh, giữ vững và phát huy truyền thống Quân đội, tinh thần Nguyễn Văn Trỗi trong công cuộc xây dựng đất nước. Một số em trở thành cán bộ trung, cao cấp trong Quân đội, cán bộ lãnh đạo Đảng, chính quyền; nhiều em đã có những công trình nghiên cứu về kinh tế, KHKT xuất sắc trong và ngoài nước.
Theo thống kê chưa đầy đủ, trong tổng số 1130 học sinh trường Thiếu sinh quân Nguyển Văn Trỗi có:
- trên 90% tốt nghiệp bậc đại học
- 104 em có học vị tiến sĩ
Riêng phía Nam có:
- 228 em là kỹ sư, cử nhân
- 30 em là bác sĩ, dược sĩ
- 21 em là tiến sĩ
- 50 em là giám đốc, phó giám đốc các doanh nghiệp
- 30 em là cán bộ cao cấp trong Quân đội
- 2 em là đại biểu Quốc hội

Hôm nay, nhân ngày Hội trường kỷ niệm 35 năm thành lập, đề nghị chúng ta nhiệt liệt hoan nghênh thành tích trong học tập, nghiên cứu, chiến đấu và công tác của 8 khóa học sinh Trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi!
Trong thời kỳ đổi mới, tin tưởng rằng thầy và trò trường ta luôn giữ vững và phát huy truyền thống trường Thiếu sinh quân mang tên Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi, luôn vững vàng về tư tưởng, chăm lo trau dồi đạo đức cách mạng, linh hoạt nhậy bén trong hành động để chuẩn bị cho mình hành trang bước vào thiên niên kỷ mới, có nhiều đóng góp hơn nữa cho sự nghiệp xây dựng đất nước theo đường lối của Đảng, làm cho “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

Các em học sinh thân mến!
Thay mặt thầy cô, cán bộ, công nhân viên nhà trường, tôi có đôi lời tâm sự cùng các em.
Ở phía Nam, đây là họp mặt toàn trường lần thứ 4. Mỗi lần gặp lại các em đông đủ như thế này, các thầy và các cô cũng rất mừng và rất cảm động.
- Mừng vì các em đã trưởng thành, nhiều và rất nhiều em thành đạt trên nhiều lĩnh vực công tác khác nhau.
- Mừng vì các em với độ tuổi trên dưới 50 chút ít, ngọn lửa hăm hở đang cháy đỏ trong lòng, sức bật đang mạnh, các em biết tận dụng nó để có nhiều đóng góp hơn nữa cho công cuộc kiến thiết quốc gia.
- Vừa mừng vừa cảm động vì đã 35 năm rồi, các em sống trọn nghĩa vẹn tình, thủy chung như nhất. Các em tìm đến nhau, vô tư giúp đỡ nhau trong cuộc sống. Đối với các thầy, thời gian không làm phai mờ nghĩa tình trong các em; các em tìm đến thầy cô thăm hỏi, vui buồn cùng chia sẻ. Thật hết sức cảm động, các em nhớ cả năm sinh của thầy để tổ chức mừng thọ, hoặc được tin thầy cô ốm đau, hay gia đình hữu sự, các em nhanh chóng tin cho nhau và đến với gia đình cùng lo liệu. Và các em luôn nhớ đến Trường với truyền thống vinh quang của nó. Các em luôn nhớ mình là “học sinh Trường Trỗi” và bằng việc làm cụ thể của mỗi em, các em đã làm vẻ vang cho trường Thiếu sinh quân của chúng ta.
Thay mặt cán bộ, giáo viên, công nhân viên trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi, tôi nhiệt liệt hoan nghênh tình cảm trong sáng, bền vững của các em. Tôi mong rằng tình thầy trò chúng ta, tình bạn giữa các em ngày càng thắm thiết hơn, một tình cảm đặc biệt của những người đã từng công tác, giảng dạy, học tập dưới mái Trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi.
Xin chúc các vị đại diện phụ huynh học sinh, các đại biểu, các thầy các cô, cán bộ, công nhân viên và toàn thể học sinh có mặt ngày hôm nay: Sức khỏe và hạnh phúc!
Xin kính gửi tới gia đình quý vị, gia đình các em học sinh lời thăm hỏi ân cần nhất.
Xin cám ơn !
SRTKL1


TRƯỜNG THIẾU SINH QUÂN NGUYỄN VĂN TRỖI
– NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG


(Trích bài phát biểu của thầy Nguyễn Đỗ (giáo viên Văn - Trợ lý giáo vụ) tại Họp mặt truyền thống 35 năm, thành phố Hồ Chí Minh (15-10-2000)

Kính thưa:

- Các bậc phụ huynh học sinh
- Các vị đại biểu
- Các thầy, các cô và các em học sinh thân mến!

Trong ngày vui hội ngộ hôm nay, ôn lại truyền thống và kỷ niệm về trường, chúng ta cùng nhớ lại bối cảnh ra đời của trường ta.
Ngày 27 tháng 7 năm 1965, Hồ Chủ tịch ra lời kêu gọi “Thi đua sản xuất và chiến đấu chống Mỹ cứu nước”. Trong lời kêu gọi ấy, có đoạn Bác nói: “Đứng trước nguy cơ giặc Mỹ cướp nước, đồng bào miền Bắc và đồng bào miền Nam đoàn kết một lòng, kiên quyết chiến đấu; dù phải chiến đấu 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, chúng ta cũng kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn”.
Lời kêu gọi như tiếng kèn xung trận thúc giục, cổ vũ nhân dân ta từ Nam đến Bắc bước vào thời kì kháng chiến oanh liệt nhất của dân tộc.
Trước đó 1 năm, tại Sài Gòn, ngày 15 tháng 10 năm 1964, Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi, con người “như chân lý sinh ra”, đã giành những phút cuối cùng của đời mình để làm nên lịch sử. Anh đã hiên ngang lẫm liệt trước họng súng của Mỹ - Ngụy, đã chiến đấu và hy sinh như một người cộng sản.
Sự hy sinh của Anh đã dấy lên một cao trào thi đua “Tất cả cho tiền tuyến”, đồng thời bùng lên khắp bốn biển năm châu một cao trào ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân ta.
Trong bối cảnh lịch sử sôi động ấy, 3 tháng sau lời kêu gọi của Bác Hồ, ngày 15 tháng 10 năm 1965, Bộ Quốc phòng đã ra quyết định số 171/QĐQP về việc tổ chức Trường Thiếu sinh quân mang tên Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi.
Sự ra đời của Trường là một biểu hiện cụ thể của công cuộc “trồng người” của Đảng, Bác và Quân đội, là một nội dung của đường lối kháng chiến, kiến quốc, chuẩn bị đội ngũ kế cận cho kháng chiến lâu dài, cho xây dựng Quân đội và cho kiến thiết đất nước sau này.
Nhìn lại 35 năm qua, với niềm tự hào chính đáng, chúng ta có thể khẳng định rằng thầy và trò Trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Bộ Quốc phòng đã giao.
Chúng ta đã vượt qua mọi khó khăn gian khổ trong những ngày đầu ở Trại Cờ, Trại Hòe (Hà Bắc), ở An Mỹ – Đại Từ (Bắc Thái) để xây dựng trường sở. Thầy trò cùng tham gia đắp nền nhà, vào rừng đốn cây, chặt nứa làm lán trại. Học sinh bắt ngay vào nhịp sống lao động, có học sinh tham gia cất nhà như người thợ thực thụ, dân địa phương phải ngợi khen. Nhiều giờ học của các em phải dừng lại để xuống hầm trú ẩn. Đặc biệt, khóa 1 làm bài thi tốt nghiệp phổ thông trong tiếng gầm rú của máy bay Mỹ đảo lượn quanh vùng. Thầy và trò dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy nhà trường do Chính ủy Bùi Khắc Quỳnh chủ trì, đã đoàn kết phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ các năm học trong điều kiện còn thiếu thốn về trang thiết bị cần thiết phục vụ giảng dạy và học tập.
Tiếp đó là những ngày Trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi sang tá túc tại Quế Lâm (Trung Quốc). Dù được sống đầy đủ ở Y Trung hay ở Phong Khẩu, thầy và trò luôn hướng về Tổ quốc, hướng về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. “Thi đua dậy tốt, học tốt – vì miền Nam ruột thịt” là một phong trào thường xuyên sôi nổi của trường.
Trên 70% học sinh tốt nghiệp ra trường của 8 khóa đã lần lượt tình nguyện nhập ngũ phục vụ Quân đội lâu dài. Hoài bão được đứng ở tuyến đầu của cuộc chiến đấu gian khổ, ác liệt của nhiều thầy giáo và của các em học sinh được toại nguyện.
Tính cả cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc và phía Tây-Nam Tổ quốc, trường ta có:
- 1 thầy giáo – thầy Nguyễn Văn Phố – và 22 em học sinh đã anh dũng hy sinh, trong đó có Anh hùng liệt sĩ Huỳnh Kim Trung.
- Nhiều thầy giáo và học sinh được tặng thưởng huân chương chiến công.
- Các em học sinh công tác ngoài Quân đội trên lĩnh vực KHKT đã có những đóng góp đáng kể cho sự nghiệp bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Sau ngày toàn thắng 30 tháng 4 năm 1975, đất nước ta bước vào thời kỳ xây dựng, nhiều học sinh Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi có mặt trên các lĩnh vực công tác quốc phòng, an ninh, kinh tế, văn hóa, xã hội. Các em đã tiếp bước Cha Anh, giữ vững và phát huy truyền thống Quân đội, tinh thần Nguyễn Văn Trỗi trong công cuộc xây dựng đất nước. Một số em trở thành cán bộ trung, cao cấp trong Quân đội, cán bộ lãnh đạo Đảng, chính quyền; nhiều em đã có những công trình nghiên cứu về kinh tế, KHKT xuất sắc trong và ngoài nước.
Theo thống kê chưa đầy đủ, trong tổng số 1130 học sinh trường Thiếu sinh quân Nguyển Văn Trỗi có:
- trên 90% tốt nghiệp bậc đại học
- 104 em có học vị tiến sĩ
Riêng phía Nam có:
- 228 em là kỹ sư, cử nhân
- 30 em là bác sĩ, dược sĩ
- 21 em là tiến sĩ
- 50 em là giám đốc, phó giám đốc các doanh nghiệp
- 30 em là cán bộ cao cấp trong Quân đội
- 2 em là đại biểu Quốc hội

Hôm nay, nhân ngày Hội trường kỷ niệm 35 năm thành lập, đề nghị chúng ta nhiệt liệt hoan nghênh thành tích trong học tập, nghiên cứu, chiến đấu và công tác của 8 khóa học sinh Trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi!
Trong thời kỳ đổi mới, tin tưởng rằng thầy và trò trường ta luôn giữ vững và phát huy truyền thống trường Thiếu sinh quân mang tên Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi, luôn vững vàng về tư tưởng, chăm lo trau dồi đạo đức cách mạng, linh hoạt nhậy bén trong hành động để chuẩn bị cho mình hành trang bước vào thiên niên kỷ mới, có nhiều đóng góp hơn nữa cho sự nghiệp xây dựng đất nước theo đường lối của Đảng, làm cho “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

Các em học sinh thân mến!
Thay mặt thầy cô, cán bộ, công nhân viên nhà trường, tôi có đôi lời tâm sự cùng các em.
Ở phía Nam, đây là họp mặt toàn trường lần thứ 4. Mỗi lần gặp lại các em đông đủ như thế này, các thầy và các cô cũng rất mừng và rất cảm động.
- Mừng vì các em đã trưởng thành, nhiều và rất nhiều em thành đạt trên nhiều lĩnh vực công tác khác nhau.
- Mừng vì các em với độ tuổi trên dưới 50 chút ít, ngọn lửa hăm hở đang cháy đỏ trong lòng, sức bật đang mạnh, các em biết tận dụng nó để có nhiều đóng góp hơn nữa cho công cuộc kiến thiết quốc gia.
- Vừa mừng vừa cảm động vì đã 35 năm rồi, các em sống trọn nghĩa vẹn tình, thủy chung như nhất. Các em tìm đến nhau, vô tư giúp đỡ nhau trong cuộc sống. Đối với các thầy, thời gian không làm phai mờ nghĩa tình trong các em; các em tìm đến thầy cô thăm hỏi, vui buồn cùng chia sẻ. Thật hết sức cảm động, các em nhớ cả năm sinh của thầy để tổ chức mừng thọ, hoặc được tin thầy cô ốm đau, hay gia đình hữu sự, các em nhanh chóng tin cho nhau và đến với gia đình cùng lo liệu. Và các em luôn nhớ đến Trường với truyền thống vinh quang của nó. Các em luôn nhớ mình là “học sinh Trường Trỗi” và bằng việc làm cụ thể của mỗi em, các em đã làm vẻ vang cho trường Thiếu sinh quân của chúng ta.
Thay mặt cán bộ, giáo viên, công nhân viên trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi, tôi nhiệt liệt hoan nghênh tình cảm trong sáng, bền vững của các em. Tôi mong rằng tình thầy trò chúng ta, tình bạn giữa các em ngày càng thắm thiết hơn, một tình cảm đặc biệt của những người đã từng công tác, giảng dạy, học tập dưới mái Trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi.
Xin chúc các vị đại diện phụ huynh học sinh, các đại biểu, các thầy các cô, cán bộ, công nhân viên và toàn thể học sinh có mặt ngày hôm nay: Sức khỏe và hạnh phúc!
Xin kính gửi tới gia đình quý vị, gia đình các em học sinh lời thăm hỏi ân cần nhất.
Xin cám ơn !
SRTKL1

BÀI PHÁT BIỂU CỦA ĐẠI TÁ BÙI KHẮC QUỲNH, nguyên Chính uỷ nhà trường, nhân kỷ niệm 30 năm thành lập trường tại Hà Nội (15-10-1965 – 15-10-1995)




Kính thưa các vị khách quý,
Kính thưa các vị đại biểu,
Thưa các đồng chí cán bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường,
Thưa các em học sinh cũ của Trường Văn hóa quân đội Nguyễn Văn Trỗi thân mến!

Cách đây 30 năm, Bộ Quốc phòng đã ra quyết định số 171/QĐQP ngày 15 tháng 10 năm 1965 về việc tổ chức Trường Văn hóa quân đội Nguyễn Văn Trỗi do đồng chí Thiếu tướng Thứ trưởng Trần Quý Hai ký, giao nhiệm vụ: “Tổng cục Chính trị trực tiếp chỉ đạo toàn diện, mọi mặt công tác của nhà trường; Bộ Tổng Tham mưu giải quyết vấn đề biên chế và Tổng cục Hậu cần giải quyết mọi vấn đề vật chất cho nhà trường. Tận dụng cơ sở đã có của Trường Văn hóa quân đội và bổ sung thêm những thứ thật cần thiết, nhưng phải đảm bảo việc học tập văn hóa, chính trị, quân sự và nuôi dưỡng học sinh thật tốt”.
Công việc “trồng người” của Đảng, Bác, quân đội luôn luôn được xem trọng, chuẩn bị đội ngũ kế cận bổ sung cho yêu cầu chiến đấu và xây dựng chủ nghĩa xã hội sau này.
Nhìn lại 30 năm qua, những học sinh mặc áo lính “thế hệ Nguyễn Văn Trỗi” đến nay đã trưởng thành đáng phấn khởi: hơn 70% học sinh sau khi ra trường đã trở thành người lính thực sự và nay họ đã trở thành những cán bộ, sĩ quan trung, cao cấp của Nhà nước, quân đội. Trong chiến đấu, nhiều người đã anh dũng hy sinh, trong đó có Anh hùng liệt sĩ Huỳnh Kim Trung (học sinh khóa 5).

Kính thưa các đồng chí,
Thông qua thế hệ học sinh Trường Nguyễn Văn Trỗi, chúng tôi - là lớp người cha chú, những cán bộ, giáo viên, công nhân viên của trường - không thể không tự hào về họ, đồng thời cũng nhận thấy việc giáo dục, rèn luyện và sử dụng con em cán bộ cách mạng theo truyền thống và lịch sử dân tộc, kết hợp với người hiền tài trong thiên hạ là một chính sách sáng suốt của Đảng, quân đội.
Nhìn lại lịch sử dân tộc, đời Lý lập nên Quốc Tử Giám (1076) với mục đích đào tạo, giáo dục con cái vương tôn, công tử để nối nghiệp cha ông giữ gìn bờ cõi.
Đời nhà Trần xây dựng Quốc Học Viện và Giảng Võ Đường (1253) đào tạo vương tôn, công tử và hiền tài trong thiên hạ nối nghiệp cha ông bảo vệ, xây dựng đất nước.
Đời nhà Lê (1460) cho khắc bia các tiến sĩ.
Đời nhà Nguyễn (1802), vua Gia Long cho xây Quốc Tử Giám ở Kinh đô Huế để dạy con quan và sĩ tử, hiền tài trong cả nước để phò vua trị nước.
Năm 1930, Đảng ta ra đời. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác, đất nước ta giành được độc lập năm 1945. Ngay từ những ngày đầu lập nước, Đảng, Bác đã chú trọng việc giáo dục đội ngũ cán bộ nòng cốt. Năm 1950, Đảng đã cho thành lập các trường Thiếu sinh quân (Trung ương và Quân khu IV) đào tạo chủ yếu con em cán bộ và gia đình có công với cách mạng để tạo nguồn cho cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp và xây dựng đất nước sau này. Thực tế cho thấy, lớp học sinh đó đã tham gia đóng góp đáng kể cho đất nước, nhiều đồng chí sau này trở thành những cán bộ cao cấp - thứ, bộ trưởng, tướng lĩnh trong quân đội.
Năm 1960, Quân ủy Trung ương cho tổ chức một tiểu đoàn Thiếu sinh quân thuộc Trường Văn hóa quân đội.
Năm 1965, Quân ủy và Bộ Quốc phòng cho tổ chức Trường Văn hóa Quân đội Nguyễn Văn Trỗi.
Gần đây, Đảng, quân đội tiếp tục tổ chức các trường Thiếu sinh quân để rèn luyện, đào tạo một thế hệ tạo nguồn cho việc xây dựng quân đội lên chính quy, hiện đại.
Chúng tôi, những cán bộ đã tham gia đào tạo nhiều lớp Thiếu sinh quân, luôn tâm đắc và biểu thị sự nhất trí cao với chủ trương đào tạo nguồn cán bộ cho đất nước, cho quân đội từ lớp trẻ, đồng thời rất mong sau việc đào tạo, rèn luyện là công tác khai thác, sử dụng sao cho hợp lý và hiệu quả.

Kính thưa các đồng chí,
Hội thầy trò Trường Nguyễn Văn Trỗi, mà trực tiếp là Ban Liên lạc của trường, trong những năm qua hoạt động rất tích cực và hiệu quả. Các học sinh cũ thường xuyên gặp gỡ động viên, giúp đỡ lẫn nhau trong công tác cũng như trong cuộc sống thường nhật. Đặc biệt, các em luôn giữ được tình cảm thầy trò cao đẹp, nhiều em đã chủ động tích cực giúp đỡ một phần khó khăn của thầy cô. Cán bộ, giáo viên, nhân viên cũ của trường hết sức cảm động.
Nhân dịp ngày Hội trường lịch sử này, tôi xin chân thành cảm ơn sự có mặt của các vị khách quý, các vị đại biểu, các phụ huynh học sinh và chân thành chúc sức khỏe tới toàn thể các vị, tới toàn thể cán bộ, học sinh cũ của trường.
Chúc các em học sinh cũ tiếp tục phấn đấu và có nhiều cống hiến xứng đáng hơn nữa!
Chúc các thế hệ Thiếu sinh quân mới đạt được nhiều thành tích trong học tập, rèn luyện!
Chúc sự nghiệp đổi mới theo mục tiêu xã hội chủ nghĩa của Đảng thành công rực rỡ!



Kính thưa các vị khách quý,
Kính thưa các vị đại biểu,
Thưa các đồng chí cán bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường,
Thưa các em học sinh cũ của Trường Văn hóa quân đội Nguyễn Văn Trỗi thân mến!

Cách đây 30 năm, Bộ Quốc phòng đã ra quyết định số 171/QĐQP ngày 15 tháng 10 năm 1965 về việc tổ chức Trường Văn hóa quân đội Nguyễn Văn Trỗi do đồng chí Thiếu tướng Thứ trưởng Trần Quý Hai ký, giao nhiệm vụ: “Tổng cục Chính trị trực tiếp chỉ đạo toàn diện, mọi mặt công tác của nhà trường; Bộ Tổng Tham mưu giải quyết vấn đề biên chế và Tổng cục Hậu cần giải quyết mọi vấn đề vật chất cho nhà trường. Tận dụng cơ sở đã có của Trường Văn hóa quân đội và bổ sung thêm những thứ thật cần thiết, nhưng phải đảm bảo việc học tập văn hóa, chính trị, quân sự và nuôi dưỡng học sinh thật tốt”.
Công việc “trồng người” của Đảng, Bác, quân đội luôn luôn được xem trọng, chuẩn bị đội ngũ kế cận bổ sung cho yêu cầu chiến đấu và xây dựng chủ nghĩa xã hội sau này.
Nhìn lại 30 năm qua, những học sinh mặc áo lính “thế hệ Nguyễn Văn Trỗi” đến nay đã trưởng thành đáng phấn khởi: hơn 70% học sinh sau khi ra trường đã trở thành người lính thực sự và nay họ đã trở thành những cán bộ, sĩ quan trung, cao cấp của Nhà nước, quân đội. Trong chiến đấu, nhiều người đã anh dũng hy sinh, trong đó có Anh hùng liệt sĩ Huỳnh Kim Trung (học sinh khóa 5).

Kính thưa các đồng chí,
Thông qua thế hệ học sinh Trường Nguyễn Văn Trỗi, chúng tôi - là lớp người cha chú, những cán bộ, giáo viên, công nhân viên của trường - không thể không tự hào về họ, đồng thời cũng nhận thấy việc giáo dục, rèn luyện và sử dụng con em cán bộ cách mạng theo truyền thống và lịch sử dân tộc, kết hợp với người hiền tài trong thiên hạ là một chính sách sáng suốt của Đảng, quân đội.
Nhìn lại lịch sử dân tộc, đời Lý lập nên Quốc Tử Giám (1076) với mục đích đào tạo, giáo dục con cái vương tôn, công tử để nối nghiệp cha ông giữ gìn bờ cõi.
Đời nhà Trần xây dựng Quốc Học Viện và Giảng Võ Đường (1253) đào tạo vương tôn, công tử và hiền tài trong thiên hạ nối nghiệp cha ông bảo vệ, xây dựng đất nước.
Đời nhà Lê (1460) cho khắc bia các tiến sĩ.
Đời nhà Nguyễn (1802), vua Gia Long cho xây Quốc Tử Giám ở Kinh đô Huế để dạy con quan và sĩ tử, hiền tài trong cả nước để phò vua trị nước.
Năm 1930, Đảng ta ra đời. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác, đất nước ta giành được độc lập năm 1945. Ngay từ những ngày đầu lập nước, Đảng, Bác đã chú trọng việc giáo dục đội ngũ cán bộ nòng cốt. Năm 1950, Đảng đã cho thành lập các trường Thiếu sinh quân (Trung ương và Quân khu IV) đào tạo chủ yếu con em cán bộ và gia đình có công với cách mạng để tạo nguồn cho cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp và xây dựng đất nước sau này. Thực tế cho thấy, lớp học sinh đó đã tham gia đóng góp đáng kể cho đất nước, nhiều đồng chí sau này trở thành những cán bộ cao cấp - thứ, bộ trưởng, tướng lĩnh trong quân đội.
Năm 1960, Quân ủy Trung ương cho tổ chức một tiểu đoàn Thiếu sinh quân thuộc Trường Văn hóa quân đội.
Năm 1965, Quân ủy và Bộ Quốc phòng cho tổ chức Trường Văn hóa Quân đội Nguyễn Văn Trỗi.
Gần đây, Đảng, quân đội tiếp tục tổ chức các trường Thiếu sinh quân để rèn luyện, đào tạo một thế hệ tạo nguồn cho việc xây dựng quân đội lên chính quy, hiện đại.
Chúng tôi, những cán bộ đã tham gia đào tạo nhiều lớp Thiếu sinh quân, luôn tâm đắc và biểu thị sự nhất trí cao với chủ trương đào tạo nguồn cán bộ cho đất nước, cho quân đội từ lớp trẻ, đồng thời rất mong sau việc đào tạo, rèn luyện là công tác khai thác, sử dụng sao cho hợp lý và hiệu quả.

Kính thưa các đồng chí,
Hội thầy trò Trường Nguyễn Văn Trỗi, mà trực tiếp là Ban Liên lạc của trường, trong những năm qua hoạt động rất tích cực và hiệu quả. Các học sinh cũ thường xuyên gặp gỡ động viên, giúp đỡ lẫn nhau trong công tác cũng như trong cuộc sống thường nhật. Đặc biệt, các em luôn giữ được tình cảm thầy trò cao đẹp, nhiều em đã chủ động tích cực giúp đỡ một phần khó khăn của thầy cô. Cán bộ, giáo viên, nhân viên cũ của trường hết sức cảm động.
Nhân dịp ngày Hội trường lịch sử này, tôi xin chân thành cảm ơn sự có mặt của các vị khách quý, các vị đại biểu, các phụ huynh học sinh và chân thành chúc sức khỏe tới toàn thể các vị, tới toàn thể cán bộ, học sinh cũ của trường.
Chúc các em học sinh cũ tiếp tục phấn đấu và có nhiều cống hiến xứng đáng hơn nữa!
Chúc các thế hệ Thiếu sinh quân mới đạt được nhiều thành tích trong học tập, rèn luyện!
Chúc sự nghiệp đổi mới theo mục tiêu xã hội chủ nghĩa của Đảng thành công rực rỡ!

2.1. Trường thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi sinh ra và lớn lên




BÀI PHÁT BIỂU CỦA ĐẠI TÁ BÙI KHẮC QUỲNH,
nguyên Chính uỷ nhà trường, với cán bộ, giáo viên
và học sinh nhà trường tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 11 tháng 10 năm 1992

Kính thưa các bác phụ huynh,
Kính thưa chị Phan Thị Quyên,
Kính thưa các thầy,
Các cháu học sinh Trường Nguyễn Văn Trỗi thân mến!

Cách đây 27 năm, tháng 10 năm 1965, Trường Nguyễn Văn Trỗi trực thuộc Tổng cục Chính trị, Bộ Quốc phòng được thành lập. Cán bộ, giáo viên, nhân viên của trường lúc đầu hầu hết là từ Trường Văn hóa Quân đội đang ở Lạng Sơn chuyển sang. Học sinh khóa đầu sắp vào năm học cuối của chương trình phổ thông cấp III ở một số trường thuộc Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định và nhiều tỉnh ở miền Bắc được gọi về Trại Cờ (Hiệp Hòa, Hà Bắc). Sau đó, thầy trò lần lượt tập kết về xã An Mỹ (Đại Từ, Thái Nguyên). Ở miền Nam, lúc này quân Mỹ bắt đầu ào ạt đổ quân vào, “chiến tranh đặc biệt” chuyển sang “chiến tranh cục bộ”. Ở miền Bắc, sau sự kiện Vịnh Bắc bộ ngày mùng 5 tháng 8 năm 1964, chiến tranh phá hoại cũng bắt đầu. Các trường học, xí nghiệp ở thành phố bắt đầu sơ tán. Vấn đề chăm lo cho sự an toàn hậu phương quân đội, việc tiếp nhận bồi dưỡng thế hệ con em của những cán bộ chủ chốt đang chiến đấu ở các chiến trường thành những cán bộ có trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật cao để bổ sung cho yêu cầu chiến đấu và xây dựng quân đội lâu dài được đặt ra.
Đó là lý do ra đời của trường và đó cũng là cơ sở để thầy trò Trường Nguyễn Văn Trỗi gắn bó với nhau từ năm 1965 đến năm 1970.
Trải qua 8 lần chiêu sinh, có lúc số học sinh từ lớp 5 đến lớp 10 lên tới 1.200. Ngoài học sinh ở miền Bắc, trường còn tiếp nhận một số các em đang học ở vùng giải phóng miền Nam, cá biệt có số ít em ở vùng địch ra học. Chiến tranh phá hoại ngày càng ác liệt. Từ Trại Cờ về ven rừng Tam Đảo (Đại Từ) rồi sang náu nhờ bên Quế Lâm (Trung Quốc). Sau 18 tháng sơ tán sang nước bạn, thầy trò lại về nước. Một phân hiệu đóng ở Trung Hà, một phân hiệu đóng ở đồi Dền, Thạch Thất (Hà Tây) và một phân hiệu đóng ở Hưng Hóa (Vĩnh Phú).
Năm năm, từ khi ra đời đến khi kết thúc, đối với một nhà trường thật quá ngắn ngủi. Có những học sinh chỉ học ở trường 1-2 năm. Nhưng vì sao mà xa trường đã hơn 20 năm, cán bộ giáo viên hầu hết đã nghỉ hưu, các em học sinh đã trưởng thành (phần lớn đang ở độ tuổi 40) vẫn cảm thấy nhớ trường, nhớ thầy, nhớ bạn? Có thể tìm hiểu ở đây một cội rễ gì tiềm tàng mà có một sức mạnh tình cảm thật đáng trân trọng? Có thể rút ra từ đây một vài kinh nghiệm để cho mỗi người trong chúng ta, nhất là các cháu học sinh cũ của trường mà nay đang ở độ chín của cuộc đời, có thể bồi bổ thêm cho bản thân ý chí, tình cảm để tiếp tục tiến lên?
Đó chính là lý do vừa sâu xa mà cũng thật đơn giản của buổi họp mặt này – “buổi họp mặt của cán bộ, giáo viên và học sinh cũ Trường Nguyễn Văn Trỗi đang sống và làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận”.

Thưa các đồng chí và các cháu thân mến,
Cho đến nay, học trò Trường Trỗi đã tụ hội lại trong một số cơ sở (tạm gọi như vậy) với nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện: một cơ sở chung của thầy trò đang sống và làm việc ở thành phố Hồ Chí Minh, tám cơ sở của 8 khóa học sinh và một cơ sở của cán bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường hiện đang sống và làm việc quanh khu vực thủ đô Hà Nội và một cơ sở ở Bắc Thái (chủ yếu là cán bộ, nhân viên). Các cơ sở này đã sinh hoạt từ một đến vài ba lần. Và cũng từ những cuộc gặp gỡ ở các cơ sở mà hình thành nên nguyện vọng có cuộc họp mặt toàn trường vào ngày 13 tháng 10 năm 1991 tại Hà Nội.
Khóa học sinh đầu tiên ra trường đã 26 năm và khóa cuối cùng đã 22 năm. Ngót một phần tư thế kỷ qua, đất nước ta và mỗi con người chúng ta đã có bao sự đổi thay. Gặp lại nhau đây thật vui mừng khôn xiết. Trong đội ngũ cán bộ, giáo viên (khoảng trên 250 đồng chí) có đồng chí đã hy sinh, có chín - mười đồng chí qua đời vì tuổi già sức yếu (như các hiệu trưởng Dương Hưng Tuấn, Phạm Ngọc Điển, nguyên Chủ nhiệm Chính trị Nguyễn Ngọc Linh, nguyên Phân hiệu trưởng Phân hiệu III Lê Ngọc Bình và một số đồng chí). Hầu hết các đồng chí sau một thời gian công tác trong quân đội đã nghỉ hưu, chỉ còn một số ít đang làm việc. Nhiều đồng chí đã có cháu nội, cháu ngoại. Phần lớn cuộc sống gia đình của các đồng chí vẫn đạm bạc, số ít già yếu hoặc còn vất vả về đời sống. Điều đáng mừng là tuyệt đại bộ phận các đồng chí vẫn giữ vững phẩm chất đạo đức để làm gương cho con cháu, cho thế hệ mai sau.
Còn các cháu học sinh, đến nay đều đã trưởng thành. Khoảng 70% các cháu sau khi ra trường đã nhập ngũ và đều trở thành sĩ quan, phần lớn là sĩ quan kỹ thuật. Có hơn 20 em đã hy sinh trong chiến đấu, trong số đó có Anh hùng liệt sĩ Huỳnh Kim Trung. Khoảng 90% các cháu đã học xong đại học, có gần 100 cháu có học vị phó tiến sĩ, 4 cháu là tiến sĩ khoa học. Hầu hết các cháu đang công tác trong quân đội hoặc trong các ngành kinh tế quốc dân. Có một số cháu trưởng thành nhanh chóng, được giữ các cương vị lãnh đạo, chỉ huy quan trọng như Tư lệnh binh chủng, Tham mưu trưởng vùng Hải quân, Sư trưởng, Lữ trưởng, lãnh đạo Cục, Vụ, Viện. Khoảng 50 cháu đang làm giám đốc, phó giám đốc các tổng công ty, công ty, xí nghiệp, chủ nhiệm các khoa, bộ môn ở các trường đại học; nhưng cũng có một số ít cháu sức yếu hoặc hoàn cảnh khó khăn đã nghỉ hưu hoặc đang phải chật vật với cuộc sống hàng ngày. Điều đáng mừng là, ngay cả những cháu có tiếng là ngỗ nghịch khi đang học ở trường, sau này ra đời hầu hết đã trưởng thành, chững chạc. Có nhiều cháu chiến đấu dũng cảm và hy sinh oanh liệt. Trong cuộc sống và trong công tác, những năm gần đây, nhiều cháu bắt đầu có điều kiện đã hỗ trợ lẫn nhau, chăm sóc lẫn nhau có hiệu quả. Một điều cảm động nhất là giữa các cháu với nhau, đặc biệt giữa các cháu với các cán bộ, giáo viên, cô nuôi trước đây vẫn có tình cảm thắm thiết. Ngày 19 tháng 5 năm 1991, chính các cháu học sinh đã chủ động tích cực giúp các thầy, cô giáo tổ chức thành công buổi họp mặt đầu tiên ở Hà Nội với những biểu hiện thầy trò thật xúc động. Nhân ngày 27 tháng 7, các cháu đã tổ chức viếng mộ anh Trỗi, tặng sổ tiết kiệm cho cụ thân sinh anh Trỗi và thăm một số gia đình có con là học sinh cũ của nhà trường đã hy sinh.

Thưa các đồng chí và các cháu thân mến,
Tình hình thế giới mấy năm gần đây diễn biến thật phức tạp. Ở nước ta, bên cạnh những mặt cơ bản đang có sự chuyển biến tích cực với nhiều triển vọng thì cũng có những mặt tiêu cực đáng lo ngại. Nếu ở nhiều nơi trên thế giới, những gì là chuẩn mực của lý tưởng đang bị xem xét lại, thì ở nước ta, những bậc thang giá trị về đạo đức, phẩm cách cũng đang được đánh giá một cách rất khác nhau. Chúng ta, những người già như lớp chúng tôi cũng như lớp người đang sung sức như các cháu học sinh cũ của nhà trường, ai cũng muốn đất nước mình đổi mới để mau tiến lên “dân giàu, nước mạnh”, kịp sánh vai với các cường quốc năm châu; nhưng chắc chắn cũng không ai muốn để mất đi cái gì là truyền thống tốt đẹp mà nhiều thế hệ cha ông, Đảng, Bác và Quân đội đã bồi dưỡng cho chúng ta về lòng yêu Tổ quốc, về thái độ trân trọng đối với những gì vinh quang của lịch sử, về lòng biết ơn với lớp người đã ngã xuống vì độc lập, tự do và nhất là về quan hệ giữa con người với con người - trong đó có tình bạn, tình đồng chí, tình thầy trò.
Chính vì lòng mong muốn giữ gìn và phát huy tất cả những gì tốt đẹp ấy, mà chúng ta tìm gặp nhau để nhớ lại những ngày chung sống trong thời kỳ chiến tranh, nhắc lại những kỷ niệm không bao giờ quên trong sự nghiệp trồng người, những tấm gương tận tụy của thầy cô, những niềm vui, nỗi buồn của tuổi học trò dưới mái trường nội trú của quân đội. Tất cả những điều đó tưởng rằng đã qua, nhưng không ngờ nó đã đọng lại trong tiềm thức của mỗi người chúng ta như những gì tốt đẹp nhất. Nó cũng góp phần không nhỏ để cho chúng ta thêm ý chí, nghị lực, thêm yêu đời và yêu người, giúp chúng ta đứng vững trong những năm qua và sẽ đứng vững trong thời gian tới.
Có thể nói mà không sợ quá rằng: chính trong những năm tháng sống dưới mái Trường Nguyễn Văn Trỗi thân yêu, mỗi người trong chúng ta ít nhiều được thêm một dòng máu. Đó là dòng máu của lý tưởng nhân văn, của tình cảm nhân văn. Ai biết nuôi dưỡng cho dòng máu đó mạnh thêm, đỏ thêm trong huyết quản của mình thì sẽ sống có ích hơn cho xã hội, tốt hơn với bạn bè và vững vàng hơn trong phong ba bão táp.

Thưa các đồng chí và các cháu,
Chúng ta gặp mặt nhau lần này sau một phần tư thế kỷ xa cách. Dự định đến năm 1995, tròn 30 năm thành lập trường, chúng ta sẽ gặp nhau đông đủ một lần nữa. Từ nay đến đó, các cơ sở có thể hàng năm họp mặt. Ban Liên lạc của các cơ sở có thể liên hệ với nhau để có những phối hợp trong hoạt động hỗ trợ nhau trong sinh hoạt và công tác.
Lẽ dĩ nhiên, sau buổi họp mặt này, chúng ta ai cũng có nhiều công việc phải làm, nhiều mối lo phải giải quyết. Nhưng mong rằng, sợi dây liên lạc giữa chúng ta mới được nối lại sẽ góp phần thắt chặt hơn nữa tình cảm bạn bè và thầy trò cũ. Chúng ta tiếp tục cùng nhau suy nghĩ xem có thể khai thác được gì từ mối quan hệ của chúng ta nhằm góp phần thúc đẩy sự tiến bộ của mỗi người một cách vô tư, trong sáng và có thể giúp được gì đối với các gia đình có bạn học cũ đã hy sinh.
Nhân dịp gặp mặt hiếm có này, tôi xin thay mặt các thầy cô giáo và các cháu cảm ơn các đồng chí đã có công với trường. Xin chúc các đồng chí giáo viên cũ của trường ta luôn mạnh khỏe, tùy từng người, từng hoàn cảnh có những đóng góp tiếp tục cho sự nghiệp đổi mới của đất nước, trong đó có sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ. Tôi cũng thân ái chúc các cháu học sinh cũ có sức khỏe dồi dào để cống hiến nhiều hơn nữa cho đất nước, sống và làm việc thật xứng đáng với thế hệ cha ông.

Xin chúc các bác và chị Quyên mạnh khỏe, hạnh phúc!
Xin cảm ơn các cháu đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi được tới dự buổi gặp mặt thân mật này!
Xin cảm ơn các đồng chí và các cháu!



Blog SRTKL:  http://bantroi2.blogspot.com/2007/07/phn-ii-sinh-ra-v-ln-ln.html

SRTKL



BÀI PHÁT BIỂU CỦA ĐẠI TÁ BÙI KHẮC QUỲNH,
nguyên Chính uỷ nhà trường, với cán bộ, giáo viên
và học sinh nhà trường tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 11 tháng 10 năm 1992

Kính thưa các bác phụ huynh,
Kính thưa chị Phan Thị Quyên,
Kính thưa các thầy,
Các cháu học sinh Trường Nguyễn Văn Trỗi thân mến!

Cách đây 27 năm, tháng 10 năm 1965, Trường Nguyễn Văn Trỗi trực thuộc Tổng cục Chính trị, Bộ Quốc phòng được thành lập. Cán bộ, giáo viên, nhân viên của trường lúc đầu hầu hết là từ Trường Văn hóa Quân đội đang ở Lạng Sơn chuyển sang. Học sinh khóa đầu sắp vào năm học cuối của chương trình phổ thông cấp III ở một số trường thuộc Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định và nhiều tỉnh ở miền Bắc được gọi về Trại Cờ (Hiệp Hòa, Hà Bắc). Sau đó, thầy trò lần lượt tập kết về xã An Mỹ (Đại Từ, Thái Nguyên). Ở miền Nam, lúc này quân Mỹ bắt đầu ào ạt đổ quân vào, “chiến tranh đặc biệt” chuyển sang “chiến tranh cục bộ”. Ở miền Bắc, sau sự kiện Vịnh Bắc bộ ngày mùng 5 tháng 8 năm 1964, chiến tranh phá hoại cũng bắt đầu. Các trường học, xí nghiệp ở thành phố bắt đầu sơ tán. Vấn đề chăm lo cho sự an toàn hậu phương quân đội, việc tiếp nhận bồi dưỡng thế hệ con em của những cán bộ chủ chốt đang chiến đấu ở các chiến trường thành những cán bộ có trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật cao để bổ sung cho yêu cầu chiến đấu và xây dựng quân đội lâu dài được đặt ra.
Đó là lý do ra đời của trường và đó cũng là cơ sở để thầy trò Trường Nguyễn Văn Trỗi gắn bó với nhau từ năm 1965 đến năm 1970.
Trải qua 8 lần chiêu sinh, có lúc số học sinh từ lớp 5 đến lớp 10 lên tới 1.200. Ngoài học sinh ở miền Bắc, trường còn tiếp nhận một số các em đang học ở vùng giải phóng miền Nam, cá biệt có số ít em ở vùng địch ra học. Chiến tranh phá hoại ngày càng ác liệt. Từ Trại Cờ về ven rừng Tam Đảo (Đại Từ) rồi sang náu nhờ bên Quế Lâm (Trung Quốc). Sau 18 tháng sơ tán sang nước bạn, thầy trò lại về nước. Một phân hiệu đóng ở Trung Hà, một phân hiệu đóng ở đồi Dền, Thạch Thất (Hà Tây) và một phân hiệu đóng ở Hưng Hóa (Vĩnh Phú).
Năm năm, từ khi ra đời đến khi kết thúc, đối với một nhà trường thật quá ngắn ngủi. Có những học sinh chỉ học ở trường 1-2 năm. Nhưng vì sao mà xa trường đã hơn 20 năm, cán bộ giáo viên hầu hết đã nghỉ hưu, các em học sinh đã trưởng thành (phần lớn đang ở độ tuổi 40) vẫn cảm thấy nhớ trường, nhớ thầy, nhớ bạn? Có thể tìm hiểu ở đây một cội rễ gì tiềm tàng mà có một sức mạnh tình cảm thật đáng trân trọng? Có thể rút ra từ đây một vài kinh nghiệm để cho mỗi người trong chúng ta, nhất là các cháu học sinh cũ của trường mà nay đang ở độ chín của cuộc đời, có thể bồi bổ thêm cho bản thân ý chí, tình cảm để tiếp tục tiến lên?
Đó chính là lý do vừa sâu xa mà cũng thật đơn giản của buổi họp mặt này – “buổi họp mặt của cán bộ, giáo viên và học sinh cũ Trường Nguyễn Văn Trỗi đang sống và làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận”.

Thưa các đồng chí và các cháu thân mến,
Cho đến nay, học trò Trường Trỗi đã tụ hội lại trong một số cơ sở (tạm gọi như vậy) với nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện: một cơ sở chung của thầy trò đang sống và làm việc ở thành phố Hồ Chí Minh, tám cơ sở của 8 khóa học sinh và một cơ sở của cán bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường hiện đang sống và làm việc quanh khu vực thủ đô Hà Nội và một cơ sở ở Bắc Thái (chủ yếu là cán bộ, nhân viên). Các cơ sở này đã sinh hoạt từ một đến vài ba lần. Và cũng từ những cuộc gặp gỡ ở các cơ sở mà hình thành nên nguyện vọng có cuộc họp mặt toàn trường vào ngày 13 tháng 10 năm 1991 tại Hà Nội.
Khóa học sinh đầu tiên ra trường đã 26 năm và khóa cuối cùng đã 22 năm. Ngót một phần tư thế kỷ qua, đất nước ta và mỗi con người chúng ta đã có bao sự đổi thay. Gặp lại nhau đây thật vui mừng khôn xiết. Trong đội ngũ cán bộ, giáo viên (khoảng trên 250 đồng chí) có đồng chí đã hy sinh, có chín - mười đồng chí qua đời vì tuổi già sức yếu (như các hiệu trưởng Dương Hưng Tuấn, Phạm Ngọc Điển, nguyên Chủ nhiệm Chính trị Nguyễn Ngọc Linh, nguyên Phân hiệu trưởng Phân hiệu III Lê Ngọc Bình và một số đồng chí). Hầu hết các đồng chí sau một thời gian công tác trong quân đội đã nghỉ hưu, chỉ còn một số ít đang làm việc. Nhiều đồng chí đã có cháu nội, cháu ngoại. Phần lớn cuộc sống gia đình của các đồng chí vẫn đạm bạc, số ít già yếu hoặc còn vất vả về đời sống. Điều đáng mừng là tuyệt đại bộ phận các đồng chí vẫn giữ vững phẩm chất đạo đức để làm gương cho con cháu, cho thế hệ mai sau.
Còn các cháu học sinh, đến nay đều đã trưởng thành. Khoảng 70% các cháu sau khi ra trường đã nhập ngũ và đều trở thành sĩ quan, phần lớn là sĩ quan kỹ thuật. Có hơn 20 em đã hy sinh trong chiến đấu, trong số đó có Anh hùng liệt sĩ Huỳnh Kim Trung. Khoảng 90% các cháu đã học xong đại học, có gần 100 cháu có học vị phó tiến sĩ, 4 cháu là tiến sĩ khoa học. Hầu hết các cháu đang công tác trong quân đội hoặc trong các ngành kinh tế quốc dân. Có một số cháu trưởng thành nhanh chóng, được giữ các cương vị lãnh đạo, chỉ huy quan trọng như Tư lệnh binh chủng, Tham mưu trưởng vùng Hải quân, Sư trưởng, Lữ trưởng, lãnh đạo Cục, Vụ, Viện. Khoảng 50 cháu đang làm giám đốc, phó giám đốc các tổng công ty, công ty, xí nghiệp, chủ nhiệm các khoa, bộ môn ở các trường đại học; nhưng cũng có một số ít cháu sức yếu hoặc hoàn cảnh khó khăn đã nghỉ hưu hoặc đang phải chật vật với cuộc sống hàng ngày. Điều đáng mừng là, ngay cả những cháu có tiếng là ngỗ nghịch khi đang học ở trường, sau này ra đời hầu hết đã trưởng thành, chững chạc. Có nhiều cháu chiến đấu dũng cảm và hy sinh oanh liệt. Trong cuộc sống và trong công tác, những năm gần đây, nhiều cháu bắt đầu có điều kiện đã hỗ trợ lẫn nhau, chăm sóc lẫn nhau có hiệu quả. Một điều cảm động nhất là giữa các cháu với nhau, đặc biệt giữa các cháu với các cán bộ, giáo viên, cô nuôi trước đây vẫn có tình cảm thắm thiết. Ngày 19 tháng 5 năm 1991, chính các cháu học sinh đã chủ động tích cực giúp các thầy, cô giáo tổ chức thành công buổi họp mặt đầu tiên ở Hà Nội với những biểu hiện thầy trò thật xúc động. Nhân ngày 27 tháng 7, các cháu đã tổ chức viếng mộ anh Trỗi, tặng sổ tiết kiệm cho cụ thân sinh anh Trỗi và thăm một số gia đình có con là học sinh cũ của nhà trường đã hy sinh.

Thưa các đồng chí và các cháu thân mến,
Tình hình thế giới mấy năm gần đây diễn biến thật phức tạp. Ở nước ta, bên cạnh những mặt cơ bản đang có sự chuyển biến tích cực với nhiều triển vọng thì cũng có những mặt tiêu cực đáng lo ngại. Nếu ở nhiều nơi trên thế giới, những gì là chuẩn mực của lý tưởng đang bị xem xét lại, thì ở nước ta, những bậc thang giá trị về đạo đức, phẩm cách cũng đang được đánh giá một cách rất khác nhau. Chúng ta, những người già như lớp chúng tôi cũng như lớp người đang sung sức như các cháu học sinh cũ của nhà trường, ai cũng muốn đất nước mình đổi mới để mau tiến lên “dân giàu, nước mạnh”, kịp sánh vai với các cường quốc năm châu; nhưng chắc chắn cũng không ai muốn để mất đi cái gì là truyền thống tốt đẹp mà nhiều thế hệ cha ông, Đảng, Bác và Quân đội đã bồi dưỡng cho chúng ta về lòng yêu Tổ quốc, về thái độ trân trọng đối với những gì vinh quang của lịch sử, về lòng biết ơn với lớp người đã ngã xuống vì độc lập, tự do và nhất là về quan hệ giữa con người với con người - trong đó có tình bạn, tình đồng chí, tình thầy trò.
Chính vì lòng mong muốn giữ gìn và phát huy tất cả những gì tốt đẹp ấy, mà chúng ta tìm gặp nhau để nhớ lại những ngày chung sống trong thời kỳ chiến tranh, nhắc lại những kỷ niệm không bao giờ quên trong sự nghiệp trồng người, những tấm gương tận tụy của thầy cô, những niềm vui, nỗi buồn của tuổi học trò dưới mái trường nội trú của quân đội. Tất cả những điều đó tưởng rằng đã qua, nhưng không ngờ nó đã đọng lại trong tiềm thức của mỗi người chúng ta như những gì tốt đẹp nhất. Nó cũng góp phần không nhỏ để cho chúng ta thêm ý chí, nghị lực, thêm yêu đời và yêu người, giúp chúng ta đứng vững trong những năm qua và sẽ đứng vững trong thời gian tới.
Có thể nói mà không sợ quá rằng: chính trong những năm tháng sống dưới mái Trường Nguyễn Văn Trỗi thân yêu, mỗi người trong chúng ta ít nhiều được thêm một dòng máu. Đó là dòng máu của lý tưởng nhân văn, của tình cảm nhân văn. Ai biết nuôi dưỡng cho dòng máu đó mạnh thêm, đỏ thêm trong huyết quản của mình thì sẽ sống có ích hơn cho xã hội, tốt hơn với bạn bè và vững vàng hơn trong phong ba bão táp.

Thưa các đồng chí và các cháu,
Chúng ta gặp mặt nhau lần này sau một phần tư thế kỷ xa cách. Dự định đến năm 1995, tròn 30 năm thành lập trường, chúng ta sẽ gặp nhau đông đủ một lần nữa. Từ nay đến đó, các cơ sở có thể hàng năm họp mặt. Ban Liên lạc của các cơ sở có thể liên hệ với nhau để có những phối hợp trong hoạt động hỗ trợ nhau trong sinh hoạt và công tác.
Lẽ dĩ nhiên, sau buổi họp mặt này, chúng ta ai cũng có nhiều công việc phải làm, nhiều mối lo phải giải quyết. Nhưng mong rằng, sợi dây liên lạc giữa chúng ta mới được nối lại sẽ góp phần thắt chặt hơn nữa tình cảm bạn bè và thầy trò cũ. Chúng ta tiếp tục cùng nhau suy nghĩ xem có thể khai thác được gì từ mối quan hệ của chúng ta nhằm góp phần thúc đẩy sự tiến bộ của mỗi người một cách vô tư, trong sáng và có thể giúp được gì đối với các gia đình có bạn học cũ đã hy sinh.
Nhân dịp gặp mặt hiếm có này, tôi xin thay mặt các thầy cô giáo và các cháu cảm ơn các đồng chí đã có công với trường. Xin chúc các đồng chí giáo viên cũ của trường ta luôn mạnh khỏe, tùy từng người, từng hoàn cảnh có những đóng góp tiếp tục cho sự nghiệp đổi mới của đất nước, trong đó có sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ. Tôi cũng thân ái chúc các cháu học sinh cũ có sức khỏe dồi dào để cống hiến nhiều hơn nữa cho đất nước, sống và làm việc thật xứng đáng với thế hệ cha ông.

Xin chúc các bác và chị Quyên mạnh khỏe, hạnh phúc!
Xin cảm ơn các cháu đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi được tới dự buổi gặp mặt thân mật này!
Xin cảm ơn các đồng chí và các cháu!



Blog SRTKL:  http://bantroi2.blogspot.com/2007/07/phn-ii-sinh-ra-v-ln-ln.html

SRTKL

Thứ Hai, 30 tháng 6, 2008

Đọc "Sinh ra trong khói lửa – Tập 2" trên mạng






Đọc/Lấy về SRTKL2 qua bản sách điện tử eBook dạng PDF (Toàn bộ - 12.44 MB)


Đọc SRTKL2 qua bản sách điện tử eBook dạng flipbook


Gửi tạm các bác nào chưa đọc SRTKL bản SCAN một số bài trọn lọc của tập 2. Kĩ thuật non nên 1 số chỗ bị mờ (cũng là thử nghiệm ban đầu), mong các bác chịu khó đọc, lấy thông tin là chính.
  • Đã thay bản Scan bằng bản đánh máy vi tính (do anh Kiến Quốc gửi 10/2008, xin cảm ơn anh Quốc!) - 3/2009.
  • Đã đăng nốt các bài còn lại (9/2009), như vậy là "trọn bộ" .

Mục lục "Sinh ra trong khói lửa – Tập 2"

* - Lời nói đầu - Ban biên tập, SRTKL2: 5-9
1 - Vài cảm nghĩ... - Hồ Thanh, SRTKL2: 10-20

2 - Ý kiến bạn đọc - Ban biên tập, SRTKL2: 21-27

3 - Thư cảm ơn của gia đình liệt sĩ Ngô Ngời - Ngô Câu, SRTKL2: 28-30

4 - Tâm sự người thầy - Thầy giáo Lã Khắc Tiệp, SRTKL2: 31-34

5 - "Sinh ra trong khói lửa" đã cho em nhiều bài học bổ ích - Nguyễn Thị Bích Liên, 35-38

6 - Những chàng lính Trỗi - Đỗ Trung Việt K3 - SRTKL2: 39-41
7 - Đinh chính cho tập 1 - BBT - SRTKL2: 42

Phần I: TƯ LIỆU VỀ NHÀ TRƯỜNG
8 - Chín lời thề danh dự - Tư liệu được Hà Chí Thành K6 lưu giữ từ năm 1965, 43-44
9 - Danh sách các Anh hùng, Liệt sĩ - Ban biên tập, SRTKL2: 45-51
10 - Nhớ thầy cô - Ban biên tập, SRTKL2: 52
11 - Những gia đình có nhiều con là học sinh trường Trỗi - Ban biên tập, 53-57
12 - Cần có nhiều trường như trường Nguyễn Văn Trỗi - Đại tướng Võ Nguyên Giáp, SRTKL2: 58-59
13 - Để có sự thành công trong việc mở trường - Chính ủy Bùi Khắc Quỳnh, 60-64

Phần II: GƯƠNG ANH HÙNG, LIỆT SĨ
14 - "Hổ phụ sinh Hổ tử" - Ban Biên tập, SRTKL2: 65-70
15 - Cùng nhau làm việc nghĩa tình - Trần Kiến Quốc – K5, SRTKL2: 71-75
16 - Anh em tôi vinh dự được viếng Bác - Trần Thành Công K6, SRTKL2: 76-78
17 - Viếng mộ Anh Hoàng Văn Thụ - Lê Võ Tiến Hưng K1, SRTKL2: 79
18 - Tấm ảnh tư liệu qúy giá, - Trần Hữu Nghị K8, SRTKL2: 80-82
19 - Lời tâm nguyện của chúng tôi - Thầy giáo Nguyễn Chi Phan, SRTKL2: 83-85
20 - Viếng mộ anh Trỗi - Ban Liên Lạc, SRTKL2: 86-88
21 - Những mất mát lớn trong tổ ấm nhỏ - Nguyễn Thế Lâm, SRTKL2: 89-90
22 - Nguyễn Văn Ngọc, người liệt sĩ đầu tiên - Đỗ Tấn Mỹ - Anh Thy K5, 91-95
23 - Những bức thư cuối cùng của liệt sĩ Nguyễn Văn Ngọc - Tô Văn Hoành K5, SRTKL2: 96-101
24 - Đọc nhật kí chiến trường của anh hùng liệt sĩ Huỳnh Kim Trung - Minh Đức, SRTKL2: 102-106
25 - Vì chúng tôi là lính Trỗi - Phạm Việt Cường K3, SRTKL2: 107-109
26 - Được kết nạp Đảng mới viết thư về nhà - Tạ Việt Chiến K3, SRTKL2: 110-117
27 - Lòng mẹ - Hữu Thành - K4, SRTKL2: 118-122
28 - Nhớ bạn Nguyễn Văn Ơn - Trương Đông Nhân - K5, SRTKL2: 123-125
29 - Những lá thư dọc đường hành quân - Lê Hòa Bình - K5, SRTKL2: 126-131
30 - Đáp số của bài toán - Trần Minh Sơn K5 - Hoàng Long, SRTKL2: 132-134
31 - Chuyện về một liệt sĩ, bạn tôi - Trần Kiến Quốc K5, SRTKL2: 135-141
32 - CHU TẤN QUANG - Rực sáng tên anh! - Trần Kiến Quốc K5, SRTKL2: 142-146
33 - Lá thư trước giờ ra trận - Ban Biên tập, SRTKL2: 147-148
34 - Từ một bức thư ngỏ - Ban Biên tập, SRTKL2: 149-150
35 - Thông tin về liệt sĩ Võ Nguyên Trọng - Huỳnh Hồng K6, SRTKL2: 151-154
36 - Nhớ Mạnh Minh - Nguyễn Hoàng Anh K6, SRTKL2: 155-162
37 - Tâm linh - Lan Phương, SRTKL2: 163-164
38 - Sẻ chia - Phạm Nhất Trung K5, SRTKL2: 165-169
39 - Những lá thư của liệt sĩ Y Hòa - Minh Phượng, SRTKL2: 170-179
40 - Nhà báo, liệt sĩ Ngô Tất Thắng - Hồ Bá Đạt K8, SRTKL2: 180-183
41 - Đã biết tin về liệt sĩ Lại Xuân Lợi - Kiến Quốc K5, SRTKL2: 184-185
42 - Những lá thư của liệt sĩ Lại Xuân Lợi - Nguyễn Quốc Khánh K7, SRTKL2: 186-190
43 - Người viết đơn bằng máu xin đi bộ đội - Lê Trí Dũng K8, SRTKL2: 191-196
44 - Lời chào vĩnh biệt - BBT, SRTKL2: 197-200
45 - Lần cuối gặp nhau - Nguyễn Trí Dũng K3, SRTKL2: 201-203
46 - Quàng Trị và những đồng đội còn nằm lại - Lê Chí Hòa K5, SRTKL2: 204-208
47 - Với một gia đình liệt sĩ - Vân Anh, SRTKL2: 209-211
48 - Thư gửi từ Leipzig, SRTKL2: 212-213
49 - Tìm được gia đình Lưu Dũng - Lê Quốc Khánh K5, SRTKL2: 214-216
50 - Chúng tôi có một người mẹ như thế! - Hồ Xuân Nam K3, SRTKL2: 217-219
51 - Đêm trăng Trường Sơn - Nguyễn Phong - Thầy giáo, SRTKL2: 220-221
52 - Phù sa mặn - Trần Xuân Lăng K3, SRTKL2: 222-224
** - Ảnh - SRTKL2: 224-225
53 - Đọc thơ cô - Huỳnh Quang Tín K2, SRTKL2: 225-226
54 - Nhớ bạn - Nguyễn Khánh Hòa K5, SRTKL2: 227-229
55 - Lời hứa dang dở - Ngô Văn Cửu K5, SRTKL2: 230-231
56 - Những gì... thầy, bạn để lại - BBT, SRTKL2: 232-235
57 - Xin bổ sung truyền thống "Quân tình"! - Vân Anh, SRTKL2: 236-238

Phần III: MÁI TRƯỜNG NƠI CHIẾN KHU XƯA
58 - Đại đội trưởng đầu tiên - Kiến Quốc K5, SRTKL2: 239-242
59 - Những ngày mới lên trường - Hà Chí Thành K6, SRTKL2: 243-245
60 - Ma cũ bắt nạt ma mới và… - Trần Quốc Việt K5, SRTKL2: 246-248
61 - Những trò nghịch ngợm - Nguyễn Tiến Bắc K5, SRTKL2: 249-252
62 - Bộ phim tài liệu về trường - BBT, SRTKL2: 253-256
63 - Trên mảnh đất quê hương - Thầy giáo Nguyễn Chi Phan, SRTKL2: 257-260
64 - Kỷ niệm về một bài thơ - Lê Võ Tiên Hưng K1, SRTKL2: 261-263
65 - Đêm nay bên rừng Việt Bắc - Thầy giáo Chi Phan, SRTKL2: 264-266
66 - Vị trám - Nguyễn Thanh Đường K4, SRTKL2: 267-268
67 - Nhớ Đại Từ - Đồng Xuân Hiền K3, SRTKL2: 269-270
68 - Tác giả bài „Hiệu ca” - Minh Phương, SRTKL2: 271
69 - Hiệu ca Trường thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi - Hồng Tuyến, SRTKL2: 276
70 - Mùa chiến dịch, mùa thơ văn nở rộ - Thầy giáo Chi Phan, 277-280
71 - Người thầy, người mẹ - Anh Thy, SRTKL: 281-283
72 - Thầy dạy vẽ - Nguyễn Hoàng Anh K6, SRTKL2: 284-285
73 - Kỷ niệm với những học viên đặc biệt - Thầy giáo Nguyễn Đỗ, SRTKL2: 286-288
74 - Một chuyến thăm con - Thầy giáo Mai Duy Vọng, SRTKL2: 289-293
75 - Những ngày trong sáng nhất - Tạ Quang Vinh K3, SRTKL2: 294-297
76 - C11 thân yêu của tôi - Phạm Thị Thục, SRTKL2: 298-304
77 - Chúng tôi đóng kịch “Nổi gió” - Vũ Dương K2, SRTKL2: 305-309
78 - Như những tấm gương - Trần Hồ Bắc K3, SRTKL2: 310-314
79 - Vì sao tôi có biệt danh "Trọc"? - Nguyễn Đức Cảnh K6, SRTKL2: 315-317
80 - Bình minh trong mưa - Hà Chí Quang K4, SRTKL2: 318-323
81 - Lần trốn trại đi hoang - Phan Khương K5, SRTKL2: 324-328
82 - Bọn trẻ chúng tôi đã thể hiện lòng dũng cảm - Phạm Đình Thiện K5, 329-330
83 - Chúng tôi đàm đạo - Hà Chí, SRTKL2: 331-333
84 - Tụi con gái - Thu Vân, SRTKL2: 334-336
85 - Kỷ niệm về những người thầy - Nguyễn Chí Nhân, SRTKL2: 337-342
86 - Tiễn con đi Trung Quốc - Lưu Thị Loan, SRTKL2: 343-345

Phần IV: THÁNG NĂM XA TỔ QUỐC
87 - Thành phố Quế Lâm - SRTKL2: 346-347
88 - Chưa và… rồi - Hồ Phước Khải K3, SRTKL2: 348-349
89 - Những bữa cơm ở Quế Lâm - Anh Thy, SRTKL2: 350-353
90 - Những tháng ngày không quên - Thầy giáo Ngô Hồng Chiêu, SRTKL2: 354-358
91 - Nghe thơ Bác lúc giao thừa - Thầy giáo Chi Phan, SRTKL2: 359-360
92 - Về hòm thư ở Quế Lâm - Nguyễn Văn Tuấn K8, SRTKL2: 361-362
93 - Người giữ nhiều ảnh kỷ niệm ở Y Trung ngày ấy - BAN BIÊN TẬP, 363-366
94 - Bộ sưu tập quý - BAN BIÊN TẬP, SRTKL2: 367-371
95 - Lá thư của Chính uỷ được Cao Cẩm Quỳ lưu giữ - SRTKL2: 372
96 - “Con nuôi” - Phạm Đình Trọng, SRTKL2: 373-380
97 - Vì nhân dân phục vụ! - Nguyễn Trí Dũng K3, SRTKL2: 381-382
98 - Biết ngoại ngữ có khác - Nguyễn Công Trường K5, SRTKL2: 383-385
99 - Hai lần tiếp “Hồng vệ binh” - Thầy giáo Phạm Đình Trọng, SRTKL2: 386-392
100 - Đội bóng đá giáo viên - Thầy giáo Ninh Cử Trực, SRTKL2: 393-395
101 - Ôi Việt Nam, quê mẹ đẹp thêm nhiều - Thầy giáo Chi Phan, SRTKL2: 396-398
102 - Ly Giang, ơi dòng sông tuổi thơ ! - Nguyễn Chỉnh Huấn K5, SRTKL2: 399-403
103 - Tuần hành mừng bắn rơi máy bay Mỹ thứ 1800 - Trần Thắng Lợi K3, 404-406
104 - Chấm bài - Thầy giáo Bùi Đức Thuận, SRTKL2: 407-408
104 - Bên trang giáo án - Thầy giáo Bùi Đức Thuận, SRTKL2: 409-411
104 - Nhật ký dự giờ - Thầy giáo Bùi Đức Thuận, SRTKL2: 411
105 - Độc tấu: Chuyện tiểu đội tôi - Thầy giáo Chi Phan, SRTKL2: 412-417
106 - Những kỷ niệm khó quên - Cô giáo Phạm Thị Thục, SRTKL2: 418-423
107 - Người giữ nhiều kỷ niệm - Tuấn Cường, SRTKL2: 424-425
108 - Những vụ cá cược bánh bao, xôi chè - Lê Minh Nghĩa K8, SRTKL2: 426-428
109 - Vụ đốt rừng ở Phong Khẩu - Nguyễn Chỉnh Huấn K5, SRTKL2: 429-434
110 - Quế Lâm và những lần dã ngoại - Huỳnh Tấn Lợi K5, SRTKL2: 435-436
111 - Nhớ! - Thầy giáo Bùi Đức Thuận, SRTKL2: 437-439
112 - Ca kịch “Tình anh em” - Trần Xuân Lăng K3, SRTKL2: 440-442
113 - Lính Trỗi với bản Đại hợp xướng Cách mạng - Anh Thy, SRTKL2: 443-446
114 - Hoa đỗ quyên - Nguyễn Khánh Hoà K5, SRTKL2: 447
115 - Vượt qua nỗi đau - Kiến Quốc K5, SRTKL2: 448-450
116 - Kỷ niệm về một người thầy - Hoàng Quang K4, SRTKL2: 451-456
117 - Mấy lời tâm huyết - SRTKL2: 457
118 - Xạ thủ - Thầy giáo Chi Phan, SRTKL2: 458-459
119 - Vài nét Quế Lâm – Những ngày Cách mạng Văn hóa - Việt Dũng, 460-464
120 - Người bạn già Trung Hoa - Nguyễn Khắc Việt K7, SRTKL2: 465-469
121 - Giây phút chia tay - Thầy giáo Mai Duy Vọng, SRTKL2: 470-472
122 - Kỷ niệm ngày chia tay “Hồi Quốc” - Đỗ Kiếm Tuyên, SRTKL2: 473-475
123 - Bản đồ Quế Lâm năm 1968 - SRTKL2: 467
124 - Quế Lâm, vùng đất mang nặng ân tình - Trần Kháng Chiến, SRTKL2: 477-482

Phần V: TRỞ VỀ QUÊ HƯƠNG
125 - Vụ lật xe trong đêm hành quân - Nguyễn Xuân Minh K4, SRTKL2: 483-486
126 - Những ngày rèn luyện ở Quân chính - Hoàng Minh Nghĩa K4, SRTKL2: 487-489
127 - Vì nhân dân quên mình - Dương Minh K4, SRTKL2: 490-495
128 - Bữa ăn ngon nhất đời - Lê Tường Long K3, SRTKL2: 496-499
129 - Những bài học khó quyên... - Nguyễn Hoàng Anh – K6, SRTKL2: 500-503
130 - Tai nạn - Việt Hùng, SRTKL2: 504-506
131 - Nhớ về đội bóng của tôi - Trần Mạnh Lảnh K5, SRTKL2: 507-511
132 - Chúng tôi thi học sinh giỏi miền Bắc - Tôn Gia Quý K4, SRTKL2: 512-515
133 - Chuyện cái đài “Xiong Mao” - Cô giáo Phan Thị Nhâm, SRTKL2: 516-518
134 - Lê quyết thắng - Trần Phạm Tùng K4, SRTKL2: 519-529
135 - Tiếng đàn - Hà Quang, SRTKL2: 530-532
136 - Chiếc muôi “chiến lược” - Trần Tuấn Kiệt K5, SRTKL2: 533-534
137 - Những “biệt danh” của tôi -Trần Minh Sơn, SRTKL2: 535-537
138 - Chuyện xảy ra ở „CT 23” - Quang „chầy” K6, SRTKL2: 538-540
139 - Cái tát - Vũ Anh K7, SRTKL2: 541-543
140 - Chuyện cũ bỏ qua - Hạ Thanh Xuyên K5, SRTKL2: 544-546
141 - Đến hôm nay vẫn chơi với các bạn gái - Nguyễn Trọng Quang Vinh K5, 547-549
142 - Tôi vào đại học - Nguyễn Thị Mẫn K5, SRTKL2: 550-552
143 - Tư liệu ngày đi học - BBT, SRTKL2: 553-555
144 - Bài hát “Người giáo viên nhân dân” - Thầy giáo Hồng Tuyến, SRTKL2: 556
145 - Bài hát “Bế Văn Đàn” - Thầy giáo Hồng Tuyến, SRTKL2: 557
146 - Bài hát “Chúng em tăng gia” - Thầy giáo Hồng Tuyến, SRTKL2: 558
147 - Bài hát “Vừ A Dính” - Thầy giáo Hồng Tuyến, SRTKL2: 559

Phần VI: VÀO TRẬN MỚI
148 - Một kỷ niệm khó quên - Việt Dũng, SRTKL2: 560-563
149 - Chúng tôi được gửi đào tạo ở Liên Xô - Đoàn Mạnh Thanh K2, SRTKL2: 564-568
150 - Tình bạn sưởi ấm đời tôi - Nguyễn Hoà Bình K2, SRTKL2: 569-577
151 - Chị, em gặp lại nơi xa - Lê Văn Hiền K2, SRTKL2: 578-582
152 - Tấm ảnh theo tôi ra chiến trường - Anh Thy, SRTKL2: 583-586
153 - Lính cao xạ - Trần Xuân Lăng K3, SRTKL2: 587-591
154 - Chuyện thật như đùa - Nguyễn Trí Dũng K3, SRTKL2: 592-594
155 - Bỏ trốn đơn vị về viếng Bác - Phạm Phi Hùng, SRTKL2: 595-598
156 - Tôi đi bộ đội - Dương Minh K4, SRTKL2: 599-602
157 - Những hạt giống đỏ - Nguyễn Trí Dũng, SRTKL2: 603-607
158 - Chuyện tôi thoát chết - Đỗ Tấn Mỹ K5, SRTKL2: 608-610
159 - Gặp thầy nơi chiến trường xa - Lê Thành Bắc K5, SRTKL2: 611-615
160 - Lính Trỗi học “Đại học dân sự” - Tuấn Linh, SRTKL2: 616-622
161 - Có một lần, chúng tôi đã từ chối nhiệm vụ - Ngô Minh Kính K4, 623-625
162 - Đi chùa Hương - Thuỳ Linh, SRTKL2: 626-634
163 - Gặp nhau trên mọi nẻo đường - Hồ Bá Đạt K8, SRTKL2: 835-639
164 - Ký ức người đi xa - Nguyễn Anh Minh K6, SRTKL2: 640-645
165 - Điều hiếm thấy - Võ Điện Biên K6, SRTKL2: 646
166 - Từ báo tường tới chiến trường – Vũ Hòa Bình, Nguyễn Xuân Lộc K6, 651-658
167 - Chiến đấu ở Nam Lào 1973 - Vân Anh, SRTKL2: 659-665
168 - Những ngày sau Hiệp định Pa-ri - Nguyễn Thế Bắc K5, SRTKL2: 666-669
169 - Âm vang thời gian - Lê Cảnh Nghĩa K3, SRTKL2: 670-672
170 - Trên công trình xây dựng Lăng Bác - Đào Thế Long, SRTKL2: 673-677
171 - Tiếp quản, khai thác hệ thống thông tin viễn thông - Kiến Quốc K5, 678-682
172 - Phát súng - Nguyễn Chiến Thắng K3, SRTKL2: 683-686
173 - Miễn anh là lính Trỗi - Phùng Duy Hưng K5, SRTKL2: 687-689
174 - Khung tiểu đoàn toàn Trỗi - Trần Xuân Lăng K3, SRTKL2: 690-692
175 - Trường ca - Đỗ Trung Việt K3, SRTKL2: 693-697

Phần VII: BỐN MƯƠI NĂM SAU
176 - Đi tìm viếng mộ Karl Marx - Nguyễn Nam Điện K6, SRTKL2: 698-701
177 - Lính Trỗi với Đại tướng Bộ trưởng - Nguyễn Tăng Lực K5, SRTKL2: 702-707
178 - Ức Quỳnh Chính uỷ - Ngô Minh Kính K4, SRTKL2: 708-710
179 - Nhớ thầy Hiệu trưởng Dương Hưng Tuấn - BBT, SRTKL2: 711-714
180 - Chuyện về thầy Phú - Nhân-Dũng-Cường, SRTKL2: 715-718
181 - Tình thầy trò - Nguyệt Minh, SRTKL2: 719-720
182 - Có duyên với thầy - Phan Nam K5, SRTKL2: 721-725
183 - Cuộc gặp gỡ kì thú - Lan Phương, SRTKL2: 726-730
184 - Chuyện cũ nhắc lại - Anh Thy, SRTKL2: 731-745
185 - Lá thư gửi từ Nghệ An - Thầy giáo Cao Cự An, SRTKL2: 746-747
186 - Biết ơn trường Nguyễn Văn Trỗi - Nguyễn Mạnh Khoát, SRTKL2: 748-750
187 - Gặp lại thầy Tiến “Địa” sau 34 năm xa - Anh Thy, SRTKL2: 751-754
188 - Tôi sinh hoạt truyền thống với khóa 5 - Cô giáo Phạm Thị Thục, 755-757
189 - Cuộc đời tôi với các em học sinh trường Trỗi - Phan Thị Quyên, 758-763
190 - Niềm vui của cánh học trò - Lê Tất Thắng K4, SRTKL2: 764-765
191 - Chữ “Tín” thời mở cửa - Anh Thy, SRTKL2: 766-771
192 - “Không thể” và “Có thể” - Thầy giáo Phạm Đình Trọng, SRTKL2: 772-776
193 - Kỳ ảo - Trần Chí, SRTKL2: 777-778
194 - Hy hữu - Văn Toàn K3, SRTKL2: 779-782
195 - Gặp gỡ - Bồ Xuân Vinh K3, SRTKL2: 783-787
196 - Cố nhân - Trần Chí Thọ K3 , SRTKL2: 788-794
197 - Người cha dịu dàng - Minh Thi, SRTKL2: 795-796
198 - Kế mưu sinh - Việt Hùng, SRTKL2: 797-800
199 - Đám cưới nhà binh - Phan Hoài Thuận K4, SRTKL2: 801-804
200 - Tâm sự của một bệnh nhân - Đỗ Tấn Mỹ K5, SRTKL2: 805-807
201 - Những gì bạn để lại - Kháng Chiến, SRTKL2: 808
202 - Những người không mắc “Bệnh quyền lực” - Cáng Kiền, SRTKL2: 809-813
203 - Xây nhà cho đồng đội - Vinh Quang, SRTKL2: 814
204 - Đón anh về quê hương - Kiến Quốc K5, SRTKL2: 817-820
205 - Gặp các bạn Trỗi ở Quy Nhơn - Anh Thy, SRTKL2: 821-824
206 - Lễ ra mắt Chi hội Vũng Tàu - Bạch Quốc Đoàn K7, SRTKL2: 825-827
207 - Phút sai lầm được thầy cứu - Cáng Kiền, SRTKL2: 828-829
208 - Niềm đam mê bất tận - Việt Hùng, SRTKL2: 830-833
209 - Bác sĩ – Họa sĩ Nguyễn Trung Liêm - Phương Anh, SRTKL2: 834-837
210 - Những “nghệ sĩ tài danh” của các đơn vị - Văn Công Phước K4, 838-841
211 - Những bài ca không bao giờ quên - Phạm Nguyễn K3, SRTKL2: 842-844
212 - Điều chưa biết về NSƯT Dương Minh Đức - Tân Nhật, SRTKL2: 845-847
213 - Tiếng kèn ắc-mô-ni-ca - Việt Dũng, SRTKL2: 848-850
214 - Những bài hát truyền thống - Việt Dũng, SRTKL2: 851-852
215 - Bài hát “Nguyễn Văn Lịch, người thanh niên anh dũng”, SRTKL2: 853
216 - Đời bạn tôi - Huỳnh Xuân Thuỷ K4, SRTKL2: 854-862
217 - Nghĩ về một chữ còn dở dang - Trần Trường Chiến K3, SRTKL2: 863-865
218 - Có một thời - Thầy giáo Nguyễn Phong, SRTKL2: 866
219 - Tự cảm - Thầy giáo Nguyễn Phong, SRTKL2: 867
220 - Tranh chữ - Đỗ Trung Việt K3, SRTKL2: 868-871
221 - Khóa 5… phía Nam - Ngô Văn Cửu K5, SRTKL2: 872-873
222 - Hoa rừng trên vùng núi... - Nguyễn Thái Chi K3, SRTKL2: 874-876
223 - Khoảnh khắc - Chí Nghĩa, SRTKL2: 877-881
224 - Về thăm An Mỹ, Đại Từ - Hoàng Đôn Hà K5, SRTKL2: 882-888
225 - Hưng Hóa, mái trường xưa - Nguyễn Văn Tuấn K4, SRTKL2: 889-892
226 - Thủa ấy - Nguyễn Khánh Hoà, SRTKL2: 893-895
227 - Một thoáng Hưng Hoá - Nguyễn Hữu Thành K4, SRTKL2: 896-901
228 - Về lại Trung du - Nguyễn Hữu Hà K7, SRTKL2: 902-905
229 - Khi rừng Quế nở hoa - Trần Hoà Bình K5, SRTKL2: 906-908
230 - Một biểu hiện cao đẹp của tình hữu nghị Việt - Trung - ĐÔNG HUYỀN, 909-911
231 - “Dân Quế Lâm” - VŨ TOÀN THẮNG K4, SRTKL2: 912-915
232 - Chuyến về thăm lại Quế Lâm - KIẾN QUỐC, SRTKL2: 916-924
233 - Phóng sự ảnh chuyến hành hương!
234 - Tôi cho con đi du học ở Quế Lâm - Trần Phạm Tùng K4, SRTKL2: 925-928
235 - Quế Lâm, thành phố du lịch xanh - Nguyễn Nam Hoà, SRTKL2: 929-933
236 - Lá thư từ trường Y Trung - Lưu Đào, Hiệu trưởng Trung học số 1 Quế Lâm, Quảng Tây, Trung Quốc, SRTKL2: 934-935
237 - "Ngoại giao nhân dân" mừng 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ - Phạm Hoàng Hưng K6, SRTKL2: 936
238 - Trường ta đã ở “Quá Tử Sơn” - Mạnh Hà, SRTKL2: 940-942
239 - Hai vị khách quý Quế Lâm với chuyến đi xuyên Việt - Đậu Thanh Châu K7, SRTKL2: 943-947
240 - Nguồn gốc cái tên “Cao Tư Lệnh” - Kiến Quốc, SRTKL2: 948-951
241 - Vũng tàu và khách từ Quế Lâm đến - Ngô Phúc Chiến K5, SRTKL2: 952-954
242 - Lời chia tay của người bạn Trung Hoa - Cao Cẩm Quỳ, Cựu học sinh trường Trung học số 1 Quế Lâm, SRTKL2: 955-957
243 - Tôi với các bạn trường Trỗi - Lư Mỹ Niệm, Cựu học sinh Y Trung, 958-961
244 - Chiếc khăn dù - MÃ VI, Cựu học sinh Y Trung, SRTKL2: 962-964
245 - Người duy nhất được trao giải thưởng Sao Khuê 2005 - Anh Thy, 965-968
246 - Cảm nhận về ngôi trường mang tên anh Trỗi - Đại tá Trần Thế Tuyển, 969-973
247 - Chia tay ngày ấy - Trần Chí Thọ K3, SRTKL2: 974-978
248 - Vì sao “Sinh ra trong khói lửa”? - Ban Biên Tập, SRTKL2: 979-982
249 - Nhắn bạn đọc - BLL, SRTKL2: 983-987
250 - Cái thời ... - Nguyễn Phục Hưng K2, SRTKL2: 988-989
251 - Nguyễn Văn Trỗi, Trường chúng ta - nhạc Trần Bắc Hải K5, SRTKL2: 990-991
252 - Bao giờ cho đến... ngày xưa - Phan Đức Dũng K5, SRTKL2: 992
253 - Thay cho lời kết ! - Ban Biên Tập, SRTKL2: 993-997
MỤC LỤC - SRTKL2: 998
Xem thêm:

TOP





Đọc/Lấy về SRTKL2 qua bản sách điện tử eBook dạng PDF (Toàn bộ - 12.44 MB)


Đọc SRTKL2 qua bản sách điện tử eBook dạng flipbook


Gửi tạm các bác nào chưa đọc SRTKL bản SCAN một số bài trọn lọc của tập 2. Kĩ thuật non nên 1 số chỗ bị mờ (cũng là thử nghiệm ban đầu), mong các bác chịu khó đọc, lấy thông tin là chính.
  • Đã thay bản Scan bằng bản đánh máy vi tính (do anh Kiến Quốc gửi 10/2008, xin cảm ơn anh Quốc!) - 3/2009.
  • Đã đăng nốt các bài còn lại (9/2009), như vậy là "trọn bộ" .

Mục lục "Sinh ra trong khói lửa – Tập 2"

* - Lời nói đầu - Ban biên tập, SRTKL2: 5-9
1 - Vài cảm nghĩ... - Hồ Thanh, SRTKL2: 10-20

2 - Ý kiến bạn đọc - Ban biên tập, SRTKL2: 21-27

3 - Thư cảm ơn của gia đình liệt sĩ Ngô Ngời - Ngô Câu, SRTKL2: 28-30

4 - Tâm sự người thầy - Thầy giáo Lã Khắc Tiệp, SRTKL2: 31-34

5 - "Sinh ra trong khói lửa" đã cho em nhiều bài học bổ ích - Nguyễn Thị Bích Liên, 35-38

6 - Những chàng lính Trỗi - Đỗ Trung Việt K3 - SRTKL2: 39-41
7 - Đinh chính cho tập 1 - BBT - SRTKL2: 42

Phần I: TƯ LIỆU VỀ NHÀ TRƯỜNG
8 - Chín lời thề danh dự - Tư liệu được Hà Chí Thành K6 lưu giữ từ năm 1965, 43-44
9 - Danh sách các Anh hùng, Liệt sĩ - Ban biên tập, SRTKL2: 45-51
10 - Nhớ thầy cô - Ban biên tập, SRTKL2: 52
11 - Những gia đình có nhiều con là học sinh trường Trỗi - Ban biên tập, 53-57
12 - Cần có nhiều trường như trường Nguyễn Văn Trỗi - Đại tướng Võ Nguyên Giáp, SRTKL2: 58-59
13 - Để có sự thành công trong việc mở trường - Chính ủy Bùi Khắc Quỳnh, 60-64

Phần II: GƯƠNG ANH HÙNG, LIỆT SĨ
14 - "Hổ phụ sinh Hổ tử" - Ban Biên tập, SRTKL2: 65-70
15 - Cùng nhau làm việc nghĩa tình - Trần Kiến Quốc – K5, SRTKL2: 71-75
16 - Anh em tôi vinh dự được viếng Bác - Trần Thành Công K6, SRTKL2: 76-78
17 - Viếng mộ Anh Hoàng Văn Thụ - Lê Võ Tiến Hưng K1, SRTKL2: 79
18 - Tấm ảnh tư liệu qúy giá, - Trần Hữu Nghị K8, SRTKL2: 80-82
19 - Lời tâm nguyện của chúng tôi - Thầy giáo Nguyễn Chi Phan, SRTKL2: 83-85
20 - Viếng mộ anh Trỗi - Ban Liên Lạc, SRTKL2: 86-88
21 - Những mất mát lớn trong tổ ấm nhỏ - Nguyễn Thế Lâm, SRTKL2: 89-90
22 - Nguyễn Văn Ngọc, người liệt sĩ đầu tiên - Đỗ Tấn Mỹ - Anh Thy K5, 91-95
23 - Những bức thư cuối cùng của liệt sĩ Nguyễn Văn Ngọc - Tô Văn Hoành K5, SRTKL2: 96-101
24 - Đọc nhật kí chiến trường của anh hùng liệt sĩ Huỳnh Kim Trung - Minh Đức, SRTKL2: 102-106
25 - Vì chúng tôi là lính Trỗi - Phạm Việt Cường K3, SRTKL2: 107-109
26 - Được kết nạp Đảng mới viết thư về nhà - Tạ Việt Chiến K3, SRTKL2: 110-117
27 - Lòng mẹ - Hữu Thành - K4, SRTKL2: 118-122
28 - Nhớ bạn Nguyễn Văn Ơn - Trương Đông Nhân - K5, SRTKL2: 123-125
29 - Những lá thư dọc đường hành quân - Lê Hòa Bình - K5, SRTKL2: 126-131
30 - Đáp số của bài toán - Trần Minh Sơn K5 - Hoàng Long, SRTKL2: 132-134
31 - Chuyện về một liệt sĩ, bạn tôi - Trần Kiến Quốc K5, SRTKL2: 135-141
32 - CHU TẤN QUANG - Rực sáng tên anh! - Trần Kiến Quốc K5, SRTKL2: 142-146
33 - Lá thư trước giờ ra trận - Ban Biên tập, SRTKL2: 147-148
34 - Từ một bức thư ngỏ - Ban Biên tập, SRTKL2: 149-150
35 - Thông tin về liệt sĩ Võ Nguyên Trọng - Huỳnh Hồng K6, SRTKL2: 151-154
36 - Nhớ Mạnh Minh - Nguyễn Hoàng Anh K6, SRTKL2: 155-162
37 - Tâm linh - Lan Phương, SRTKL2: 163-164
38 - Sẻ chia - Phạm Nhất Trung K5, SRTKL2: 165-169
39 - Những lá thư của liệt sĩ Y Hòa - Minh Phượng, SRTKL2: 170-179
40 - Nhà báo, liệt sĩ Ngô Tất Thắng - Hồ Bá Đạt K8, SRTKL2: 180-183
41 - Đã biết tin về liệt sĩ Lại Xuân Lợi - Kiến Quốc K5, SRTKL2: 184-185
42 - Những lá thư của liệt sĩ Lại Xuân Lợi - Nguyễn Quốc Khánh K7, SRTKL2: 186-190
43 - Người viết đơn bằng máu xin đi bộ đội - Lê Trí Dũng K8, SRTKL2: 191-196
44 - Lời chào vĩnh biệt - BBT, SRTKL2: 197-200
45 - Lần cuối gặp nhau - Nguyễn Trí Dũng K3, SRTKL2: 201-203
46 - Quàng Trị và những đồng đội còn nằm lại - Lê Chí Hòa K5, SRTKL2: 204-208
47 - Với một gia đình liệt sĩ - Vân Anh, SRTKL2: 209-211
48 - Thư gửi từ Leipzig, SRTKL2: 212-213
49 - Tìm được gia đình Lưu Dũng - Lê Quốc Khánh K5, SRTKL2: 214-216
50 - Chúng tôi có một người mẹ như thế! - Hồ Xuân Nam K3, SRTKL2: 217-219
51 - Đêm trăng Trường Sơn - Nguyễn Phong - Thầy giáo, SRTKL2: 220-221
52 - Phù sa mặn - Trần Xuân Lăng K3, SRTKL2: 222-224
** - Ảnh - SRTKL2: 224-225
53 - Đọc thơ cô - Huỳnh Quang Tín K2, SRTKL2: 225-226
54 - Nhớ bạn - Nguyễn Khánh Hòa K5, SRTKL2: 227-229
55 - Lời hứa dang dở - Ngô Văn Cửu K5, SRTKL2: 230-231
56 - Những gì... thầy, bạn để lại - BBT, SRTKL2: 232-235
57 - Xin bổ sung truyền thống "Quân tình"! - Vân Anh, SRTKL2: 236-238

Phần III: MÁI TRƯỜNG NƠI CHIẾN KHU XƯA
58 - Đại đội trưởng đầu tiên - Kiến Quốc K5, SRTKL2: 239-242
59 - Những ngày mới lên trường - Hà Chí Thành K6, SRTKL2: 243-245
60 - Ma cũ bắt nạt ma mới và… - Trần Quốc Việt K5, SRTKL2: 246-248
61 - Những trò nghịch ngợm - Nguyễn Tiến Bắc K5, SRTKL2: 249-252
62 - Bộ phim tài liệu về trường - BBT, SRTKL2: 253-256
63 - Trên mảnh đất quê hương - Thầy giáo Nguyễn Chi Phan, SRTKL2: 257-260
64 - Kỷ niệm về một bài thơ - Lê Võ Tiên Hưng K1, SRTKL2: 261-263
65 - Đêm nay bên rừng Việt Bắc - Thầy giáo Chi Phan, SRTKL2: 264-266
66 - Vị trám - Nguyễn Thanh Đường K4, SRTKL2: 267-268
67 - Nhớ Đại Từ - Đồng Xuân Hiền K3, SRTKL2: 269-270
68 - Tác giả bài „Hiệu ca” - Minh Phương, SRTKL2: 271
69 - Hiệu ca Trường thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi - Hồng Tuyến, SRTKL2: 276
70 - Mùa chiến dịch, mùa thơ văn nở rộ - Thầy giáo Chi Phan, 277-280
71 - Người thầy, người mẹ - Anh Thy, SRTKL: 281-283
72 - Thầy dạy vẽ - Nguyễn Hoàng Anh K6, SRTKL2: 284-285
73 - Kỷ niệm với những học viên đặc biệt - Thầy giáo Nguyễn Đỗ, SRTKL2: 286-288
74 - Một chuyến thăm con - Thầy giáo Mai Duy Vọng, SRTKL2: 289-293
75 - Những ngày trong sáng nhất - Tạ Quang Vinh K3, SRTKL2: 294-297
76 - C11 thân yêu của tôi - Phạm Thị Thục, SRTKL2: 298-304
77 - Chúng tôi đóng kịch “Nổi gió” - Vũ Dương K2, SRTKL2: 305-309
78 - Như những tấm gương - Trần Hồ Bắc K3, SRTKL2: 310-314
79 - Vì sao tôi có biệt danh "Trọc"? - Nguyễn Đức Cảnh K6, SRTKL2: 315-317
80 - Bình minh trong mưa - Hà Chí Quang K4, SRTKL2: 318-323
81 - Lần trốn trại đi hoang - Phan Khương K5, SRTKL2: 324-328
82 - Bọn trẻ chúng tôi đã thể hiện lòng dũng cảm - Phạm Đình Thiện K5, 329-330
83 - Chúng tôi đàm đạo - Hà Chí, SRTKL2: 331-333
84 - Tụi con gái - Thu Vân, SRTKL2: 334-336
85 - Kỷ niệm về những người thầy - Nguyễn Chí Nhân, SRTKL2: 337-342
86 - Tiễn con đi Trung Quốc - Lưu Thị Loan, SRTKL2: 343-345

Phần IV: THÁNG NĂM XA TỔ QUỐC
87 - Thành phố Quế Lâm - SRTKL2: 346-347
88 - Chưa và… rồi - Hồ Phước Khải K3, SRTKL2: 348-349
89 - Những bữa cơm ở Quế Lâm - Anh Thy, SRTKL2: 350-353
90 - Những tháng ngày không quên - Thầy giáo Ngô Hồng Chiêu, SRTKL2: 354-358
91 - Nghe thơ Bác lúc giao thừa - Thầy giáo Chi Phan, SRTKL2: 359-360
92 - Về hòm thư ở Quế Lâm - Nguyễn Văn Tuấn K8, SRTKL2: 361-362
93 - Người giữ nhiều ảnh kỷ niệm ở Y Trung ngày ấy - BAN BIÊN TẬP, 363-366
94 - Bộ sưu tập quý - BAN BIÊN TẬP, SRTKL2: 367-371
95 - Lá thư của Chính uỷ được Cao Cẩm Quỳ lưu giữ - SRTKL2: 372
96 - “Con nuôi” - Phạm Đình Trọng, SRTKL2: 373-380
97 - Vì nhân dân phục vụ! - Nguyễn Trí Dũng K3, SRTKL2: 381-382
98 - Biết ngoại ngữ có khác - Nguyễn Công Trường K5, SRTKL2: 383-385
99 - Hai lần tiếp “Hồng vệ binh” - Thầy giáo Phạm Đình Trọng, SRTKL2: 386-392
100 - Đội bóng đá giáo viên - Thầy giáo Ninh Cử Trực, SRTKL2: 393-395
101 - Ôi Việt Nam, quê mẹ đẹp thêm nhiều - Thầy giáo Chi Phan, SRTKL2: 396-398
102 - Ly Giang, ơi dòng sông tuổi thơ ! - Nguyễn Chỉnh Huấn K5, SRTKL2: 399-403
103 - Tuần hành mừng bắn rơi máy bay Mỹ thứ 1800 - Trần Thắng Lợi K3, 404-406
104 - Chấm bài - Thầy giáo Bùi Đức Thuận, SRTKL2: 407-408
104 - Bên trang giáo án - Thầy giáo Bùi Đức Thuận, SRTKL2: 409-411
104 - Nhật ký dự giờ - Thầy giáo Bùi Đức Thuận, SRTKL2: 411
105 - Độc tấu: Chuyện tiểu đội tôi - Thầy giáo Chi Phan, SRTKL2: 412-417
106 - Những kỷ niệm khó quên - Cô giáo Phạm Thị Thục, SRTKL2: 418-423
107 - Người giữ nhiều kỷ niệm - Tuấn Cường, SRTKL2: 424-425
108 - Những vụ cá cược bánh bao, xôi chè - Lê Minh Nghĩa K8, SRTKL2: 426-428
109 - Vụ đốt rừng ở Phong Khẩu - Nguyễn Chỉnh Huấn K5, SRTKL2: 429-434
110 - Quế Lâm và những lần dã ngoại - Huỳnh Tấn Lợi K5, SRTKL2: 435-436
111 - Nhớ! - Thầy giáo Bùi Đức Thuận, SRTKL2: 437-439
112 - Ca kịch “Tình anh em” - Trần Xuân Lăng K3, SRTKL2: 440-442
113 - Lính Trỗi với bản Đại hợp xướng Cách mạng - Anh Thy, SRTKL2: 443-446
114 - Hoa đỗ quyên - Nguyễn Khánh Hoà K5, SRTKL2: 447
115 - Vượt qua nỗi đau - Kiến Quốc K5, SRTKL2: 448-450
116 - Kỷ niệm về một người thầy - Hoàng Quang K4, SRTKL2: 451-456
117 - Mấy lời tâm huyết - SRTKL2: 457
118 - Xạ thủ - Thầy giáo Chi Phan, SRTKL2: 458-459
119 - Vài nét Quế Lâm – Những ngày Cách mạng Văn hóa - Việt Dũng, 460-464
120 - Người bạn già Trung Hoa - Nguyễn Khắc Việt K7, SRTKL2: 465-469
121 - Giây phút chia tay - Thầy giáo Mai Duy Vọng, SRTKL2: 470-472
122 - Kỷ niệm ngày chia tay “Hồi Quốc” - Đỗ Kiếm Tuyên, SRTKL2: 473-475
123 - Bản đồ Quế Lâm năm 1968 - SRTKL2: 467
124 - Quế Lâm, vùng đất mang nặng ân tình - Trần Kháng Chiến, SRTKL2: 477-482

Phần V: TRỞ VỀ QUÊ HƯƠNG
125 - Vụ lật xe trong đêm hành quân - Nguyễn Xuân Minh K4, SRTKL2: 483-486
126 - Những ngày rèn luyện ở Quân chính - Hoàng Minh Nghĩa K4, SRTKL2: 487-489
127 - Vì nhân dân quên mình - Dương Minh K4, SRTKL2: 490-495
128 - Bữa ăn ngon nhất đời - Lê Tường Long K3, SRTKL2: 496-499
129 - Những bài học khó quyên... - Nguyễn Hoàng Anh – K6, SRTKL2: 500-503
130 - Tai nạn - Việt Hùng, SRTKL2: 504-506
131 - Nhớ về đội bóng của tôi - Trần Mạnh Lảnh K5, SRTKL2: 507-511
132 - Chúng tôi thi học sinh giỏi miền Bắc - Tôn Gia Quý K4, SRTKL2: 512-515
133 - Chuyện cái đài “Xiong Mao” - Cô giáo Phan Thị Nhâm, SRTKL2: 516-518
134 - Lê quyết thắng - Trần Phạm Tùng K4, SRTKL2: 519-529
135 - Tiếng đàn - Hà Quang, SRTKL2: 530-532
136 - Chiếc muôi “chiến lược” - Trần Tuấn Kiệt K5, SRTKL2: 533-534
137 - Những “biệt danh” của tôi -Trần Minh Sơn, SRTKL2: 535-537
138 - Chuyện xảy ra ở „CT 23” - Quang „chầy” K6, SRTKL2: 538-540
139 - Cái tát - Vũ Anh K7, SRTKL2: 541-543
140 - Chuyện cũ bỏ qua - Hạ Thanh Xuyên K5, SRTKL2: 544-546
141 - Đến hôm nay vẫn chơi với các bạn gái - Nguyễn Trọng Quang Vinh K5, 547-549
142 - Tôi vào đại học - Nguyễn Thị Mẫn K5, SRTKL2: 550-552
143 - Tư liệu ngày đi học - BBT, SRTKL2: 553-555
144 - Bài hát “Người giáo viên nhân dân” - Thầy giáo Hồng Tuyến, SRTKL2: 556
145 - Bài hát “Bế Văn Đàn” - Thầy giáo Hồng Tuyến, SRTKL2: 557
146 - Bài hát “Chúng em tăng gia” - Thầy giáo Hồng Tuyến, SRTKL2: 558
147 - Bài hát “Vừ A Dính” - Thầy giáo Hồng Tuyến, SRTKL2: 559

Phần VI: VÀO TRẬN MỚI
148 - Một kỷ niệm khó quên - Việt Dũng, SRTKL2: 560-563
149 - Chúng tôi được gửi đào tạo ở Liên Xô - Đoàn Mạnh Thanh K2, SRTKL2: 564-568
150 - Tình bạn sưởi ấm đời tôi - Nguyễn Hoà Bình K2, SRTKL2: 569-577
151 - Chị, em gặp lại nơi xa - Lê Văn Hiền K2, SRTKL2: 578-582
152 - Tấm ảnh theo tôi ra chiến trường - Anh Thy, SRTKL2: 583-586
153 - Lính cao xạ - Trần Xuân Lăng K3, SRTKL2: 587-591
154 - Chuyện thật như đùa - Nguyễn Trí Dũng K3, SRTKL2: 592-594
155 - Bỏ trốn đơn vị về viếng Bác - Phạm Phi Hùng, SRTKL2: 595-598
156 - Tôi đi bộ đội - Dương Minh K4, SRTKL2: 599-602
157 - Những hạt giống đỏ - Nguyễn Trí Dũng, SRTKL2: 603-607
158 - Chuyện tôi thoát chết - Đỗ Tấn Mỹ K5, SRTKL2: 608-610
159 - Gặp thầy nơi chiến trường xa - Lê Thành Bắc K5, SRTKL2: 611-615
160 - Lính Trỗi học “Đại học dân sự” - Tuấn Linh, SRTKL2: 616-622
161 - Có một lần, chúng tôi đã từ chối nhiệm vụ - Ngô Minh Kính K4, 623-625
162 - Đi chùa Hương - Thuỳ Linh, SRTKL2: 626-634
163 - Gặp nhau trên mọi nẻo đường - Hồ Bá Đạt K8, SRTKL2: 835-639
164 - Ký ức người đi xa - Nguyễn Anh Minh K6, SRTKL2: 640-645
165 - Điều hiếm thấy - Võ Điện Biên K6, SRTKL2: 646
166 - Từ báo tường tới chiến trường – Vũ Hòa Bình, Nguyễn Xuân Lộc K6, 651-658
167 - Chiến đấu ở Nam Lào 1973 - Vân Anh, SRTKL2: 659-665
168 - Những ngày sau Hiệp định Pa-ri - Nguyễn Thế Bắc K5, SRTKL2: 666-669
169 - Âm vang thời gian - Lê Cảnh Nghĩa K3, SRTKL2: 670-672
170 - Trên công trình xây dựng Lăng Bác - Đào Thế Long, SRTKL2: 673-677
171 - Tiếp quản, khai thác hệ thống thông tin viễn thông - Kiến Quốc K5, 678-682
172 - Phát súng - Nguyễn Chiến Thắng K3, SRTKL2: 683-686
173 - Miễn anh là lính Trỗi - Phùng Duy Hưng K5, SRTKL2: 687-689
174 - Khung tiểu đoàn toàn Trỗi - Trần Xuân Lăng K3, SRTKL2: 690-692
175 - Trường ca - Đỗ Trung Việt K3, SRTKL2: 693-697

Phần VII: BỐN MƯƠI NĂM SAU
176 - Đi tìm viếng mộ Karl Marx - Nguyễn Nam Điện K6, SRTKL2: 698-701
177 - Lính Trỗi với Đại tướng Bộ trưởng - Nguyễn Tăng Lực K5, SRTKL2: 702-707
178 - Ức Quỳnh Chính uỷ - Ngô Minh Kính K4, SRTKL2: 708-710
179 - Nhớ thầy Hiệu trưởng Dương Hưng Tuấn - BBT, SRTKL2: 711-714
180 - Chuyện về thầy Phú - Nhân-Dũng-Cường, SRTKL2: 715-718
181 - Tình thầy trò - Nguyệt Minh, SRTKL2: 719-720
182 - Có duyên với thầy - Phan Nam K5, SRTKL2: 721-725
183 - Cuộc gặp gỡ kì thú - Lan Phương, SRTKL2: 726-730
184 - Chuyện cũ nhắc lại - Anh Thy, SRTKL2: 731-745
185 - Lá thư gửi từ Nghệ An - Thầy giáo Cao Cự An, SRTKL2: 746-747
186 - Biết ơn trường Nguyễn Văn Trỗi - Nguyễn Mạnh Khoát, SRTKL2: 748-750
187 - Gặp lại thầy Tiến “Địa” sau 34 năm xa - Anh Thy, SRTKL2: 751-754
188 - Tôi sinh hoạt truyền thống với khóa 5 - Cô giáo Phạm Thị Thục, 755-757
189 - Cuộc đời tôi với các em học sinh trường Trỗi - Phan Thị Quyên, 758-763
190 - Niềm vui của cánh học trò - Lê Tất Thắng K4, SRTKL2: 764-765
191 - Chữ “Tín” thời mở cửa - Anh Thy, SRTKL2: 766-771
192 - “Không thể” và “Có thể” - Thầy giáo Phạm Đình Trọng, SRTKL2: 772-776
193 - Kỳ ảo - Trần Chí, SRTKL2: 777-778
194 - Hy hữu - Văn Toàn K3, SRTKL2: 779-782
195 - Gặp gỡ - Bồ Xuân Vinh K3, SRTKL2: 783-787
196 - Cố nhân - Trần Chí Thọ K3 , SRTKL2: 788-794
197 - Người cha dịu dàng - Minh Thi, SRTKL2: 795-796
198 - Kế mưu sinh - Việt Hùng, SRTKL2: 797-800
199 - Đám cưới nhà binh - Phan Hoài Thuận K4, SRTKL2: 801-804
200 - Tâm sự của một bệnh nhân - Đỗ Tấn Mỹ K5, SRTKL2: 805-807
201 - Những gì bạn để lại - Kháng Chiến, SRTKL2: 808
202 - Những người không mắc “Bệnh quyền lực” - Cáng Kiền, SRTKL2: 809-813
203 - Xây nhà cho đồng đội - Vinh Quang, SRTKL2: 814
204 - Đón anh về quê hương - Kiến Quốc K5, SRTKL2: 817-820
205 - Gặp các bạn Trỗi ở Quy Nhơn - Anh Thy, SRTKL2: 821-824
206 - Lễ ra mắt Chi hội Vũng Tàu - Bạch Quốc Đoàn K7, SRTKL2: 825-827
207 - Phút sai lầm được thầy cứu - Cáng Kiền, SRTKL2: 828-829
208 - Niềm đam mê bất tận - Việt Hùng, SRTKL2: 830-833
209 - Bác sĩ – Họa sĩ Nguyễn Trung Liêm - Phương Anh, SRTKL2: 834-837
210 - Những “nghệ sĩ tài danh” của các đơn vị - Văn Công Phước K4, 838-841
211 - Những bài ca không bao giờ quên - Phạm Nguyễn K3, SRTKL2: 842-844
212 - Điều chưa biết về NSƯT Dương Minh Đức - Tân Nhật, SRTKL2: 845-847
213 - Tiếng kèn ắc-mô-ni-ca - Việt Dũng, SRTKL2: 848-850
214 - Những bài hát truyền thống - Việt Dũng, SRTKL2: 851-852
215 - Bài hát “Nguyễn Văn Lịch, người thanh niên anh dũng”, SRTKL2: 853
216 - Đời bạn tôi - Huỳnh Xuân Thuỷ K4, SRTKL2: 854-862
217 - Nghĩ về một chữ còn dở dang - Trần Trường Chiến K3, SRTKL2: 863-865
218 - Có một thời - Thầy giáo Nguyễn Phong, SRTKL2: 866
219 - Tự cảm - Thầy giáo Nguyễn Phong, SRTKL2: 867
220 - Tranh chữ - Đỗ Trung Việt K3, SRTKL2: 868-871
221 - Khóa 5… phía Nam - Ngô Văn Cửu K5, SRTKL2: 872-873
222 - Hoa rừng trên vùng núi... - Nguyễn Thái Chi K3, SRTKL2: 874-876
223 - Khoảnh khắc - Chí Nghĩa, SRTKL2: 877-881
224 - Về thăm An Mỹ, Đại Từ - Hoàng Đôn Hà K5, SRTKL2: 882-888
225 - Hưng Hóa, mái trường xưa - Nguyễn Văn Tuấn K4, SRTKL2: 889-892
226 - Thủa ấy - Nguyễn Khánh Hoà, SRTKL2: 893-895
227 - Một thoáng Hưng Hoá - Nguyễn Hữu Thành K4, SRTKL2: 896-901
228 - Về lại Trung du - Nguyễn Hữu Hà K7, SRTKL2: 902-905
229 - Khi rừng Quế nở hoa - Trần Hoà Bình K5, SRTKL2: 906-908
230 - Một biểu hiện cao đẹp của tình hữu nghị Việt - Trung - ĐÔNG HUYỀN, 909-911
231 - “Dân Quế Lâm” - VŨ TOÀN THẮNG K4, SRTKL2: 912-915
232 - Chuyến về thăm lại Quế Lâm - KIẾN QUỐC, SRTKL2: 916-924
233 - Phóng sự ảnh chuyến hành hương!
234 - Tôi cho con đi du học ở Quế Lâm - Trần Phạm Tùng K4, SRTKL2: 925-928
235 - Quế Lâm, thành phố du lịch xanh - Nguyễn Nam Hoà, SRTKL2: 929-933
236 - Lá thư từ trường Y Trung - Lưu Đào, Hiệu trưởng Trung học số 1 Quế Lâm, Quảng Tây, Trung Quốc, SRTKL2: 934-935
237 - "Ngoại giao nhân dân" mừng 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ - Phạm Hoàng Hưng K6, SRTKL2: 936
238 - Trường ta đã ở “Quá Tử Sơn” - Mạnh Hà, SRTKL2: 940-942
239 - Hai vị khách quý Quế Lâm với chuyến đi xuyên Việt - Đậu Thanh Châu K7, SRTKL2: 943-947
240 - Nguồn gốc cái tên “Cao Tư Lệnh” - Kiến Quốc, SRTKL2: 948-951
241 - Vũng tàu và khách từ Quế Lâm đến - Ngô Phúc Chiến K5, SRTKL2: 952-954
242 - Lời chia tay của người bạn Trung Hoa - Cao Cẩm Quỳ, Cựu học sinh trường Trung học số 1 Quế Lâm, SRTKL2: 955-957
243 - Tôi với các bạn trường Trỗi - Lư Mỹ Niệm, Cựu học sinh Y Trung, 958-961
244 - Chiếc khăn dù - MÃ VI, Cựu học sinh Y Trung, SRTKL2: 962-964
245 - Người duy nhất được trao giải thưởng Sao Khuê 2005 - Anh Thy, 965-968
246 - Cảm nhận về ngôi trường mang tên anh Trỗi - Đại tá Trần Thế Tuyển, 969-973
247 - Chia tay ngày ấy - Trần Chí Thọ K3, SRTKL2: 974-978
248 - Vì sao “Sinh ra trong khói lửa”? - Ban Biên Tập, SRTKL2: 979-982
249 - Nhắn bạn đọc - BLL, SRTKL2: 983-987
250 - Cái thời ... - Nguyễn Phục Hưng K2, SRTKL2: 988-989
251 - Nguyễn Văn Trỗi, Trường chúng ta - nhạc Trần Bắc Hải K5, SRTKL2: 990-991
252 - Bao giờ cho đến... ngày xưa - Phan Đức Dũng K5, SRTKL2: 992
253 - Thay cho lời kết ! - Ban Biên Tập, SRTKL2: 993-997
MỤC LỤC - SRTKL2: 998
Xem thêm:

TOP