Nhị lang sơn là dãy núi cao chắn giữa Tứ Xuyên và Tây Tạng. Năm 1951 QGPNDTQ phải mở đường qua dãy núi này để tiến vào Tây Tạng. Việc mở đường vô cùng khó khăn gian khổ nhưng cuối cùng đã thành công, hàng vạn quân GP đã qua con đường này tiến vào Tây Tạng.
Bài hát này đã được dịch sang tiếng Việt và phổ biến trong quân đội ta cuối cuộc KC chống thực dân Pháp.
Trong hồi ký của mình nhạc sĩ Nguyễn Thành kể: trong chiến dịch Điện Biên, ông và một số diễn viên được lên Chỉ huy sở Mường Phăng hát cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp và các cố vấn TQ nghe. Ông đã hát bài Qua miên Tây Bắc của ông và bài Nhị lang sơn của TQ, được Đại tướng khen ngợi.
...trong kháng chiến chống Pháp và thời kỳ đầu chống Mỹ, ta còn chưa hiểu hết TQ và ủng hộ TQ chiếm Tây Tạng. Giờ thì rõ kẻ bành trướng nham hiểm này...
Mình đăng bài này chỉ để nhớ kỷ niệm khi ở Đại từ được cô Tâm dạy bài này bằng cách phiên âm tiếng Trung: “Ơ gia ma ơ lang san, cao gia ma cao oan chàng...” Thầy Bình thì dạy lời Việt: “Đây bao núi non hùng tráng, suối khe ngăn bước đường xa vời...”
Và những buổi trưa oi ả lanh lảnh tiếng sáo nứa của các nghệ sĩ tý hon...
Giai điệu bài hát Nhị Lang sơn “Núi Nhị lang” này vẫn là một phần kỷ niệm tuổi thơ ở trường VHQĐ Nguyễn Văn Trỗi của chúng ta.
...Đây bao núi non hùng tráng, núi cao cao ngút ngàn mây trời...
Khi nhỏ, thuộc và thích hát bài này. Giờ tôi thấy kinh tởm, bọn Tàu đểu cáng như thế đó, dùng vũ lực nuốt sống một đất nước có chủ quyền, và hơn thế, chúng luôn nói xa gần sẽ biến VN thành một khu tự trị, còn đểu cáng hơn là tao chiếm nước mày...
Ừ, tuổi trẻ là vậy mà bạn. Giai điệu nó hay... Bài hát cũng như posting nó lên không có tội!
Mình vẫn cám ơn các bạn dùng nó chở mình về sự trong sáng của tuổi thơ.
Tôi ở lớp tiếng Nga, nhưng ấn tượng giai điệu, lời dịch: Đây bao núi non hùng tráng, suối khe ngăn bước đường xa vời
Đường lên Tây Tạng ko vết người đi, đèo vút cao lưng trời
Rắn như thép chiến sỹ giải phóng quân, đói rét ko sờn, đã vượt đèo qua dãy Nhị Lang Sơn.
Hồi đó nghĩ như Bài hát “Qua miền Tây Bắc” của Ta vì chưa hiểu TQ, nhưng h khác r - Cám ơn Điện nguyen nhớ Thời niên thiếu!
Nhị lang sơn là dãy núi cao chắn giữa Tứ Xuyên và Tây Tạng. Năm 1951 QGPNDTQ phải mở đường qua dãy núi này để tiến vào Tây Tạng. Việc mở đường vô cùng khó khăn gian khổ nhưng cuối cùng đã thành công, hàng vạn quân GP đã qua con đường này tiến vào Tây Tạng.
Bài hát này đã được dịch sang tiếng Việt và phổ biến trong quân đội ta cuối cuộc KC chống thực dân Pháp.
Trong hồi ký của mình nhạc sĩ Nguyễn Thành kể: trong chiến dịch Điện Biên, ông và một số diễn viên được lên Chỉ huy sở Mường Phăng hát cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp và các cố vấn TQ nghe. Ông đã hát bài Qua miên Tây Bắc của ông và bài Nhị lang sơn của TQ, được Đại tướng khen ngợi.
...trong kháng chiến chống Pháp và thời kỳ đầu chống Mỹ, ta còn chưa hiểu hết TQ và ủng hộ TQ chiếm Tây Tạng. Giờ thì rõ kẻ bành trướng nham hiểm này...
Mình đăng bài này chỉ để nhớ kỷ niệm khi ở Đại từ được cô Tâm dạy bài này bằng cách phiên âm tiếng Trung: “Ơ gia ma ơ lang san, cao gia ma cao oan chàng...” Thầy Bình thì dạy lời Việt: “Đây bao núi non hùng tráng, suối khe ngăn bước đường xa vời...”
Và những buổi trưa oi ả lanh lảnh tiếng sáo nứa của các nghệ sĩ tý hon...
Giai điệu bài hát Nhị Lang sơn “Núi Nhị lang” này vẫn là một phần kỷ niệm tuổi thơ ở trường VHQĐ Nguyễn Văn Trỗi của chúng ta.
...Đây bao núi non hùng tráng, núi cao cao ngút ngàn mây trời...
Khi nhỏ, thuộc và thích hát bài này. Giờ tôi thấy kinh tởm, bọn Tàu đểu cáng như thế đó, dùng vũ lực nuốt sống một đất nước có chủ quyền, và hơn thế, chúng luôn nói xa gần sẽ biến VN thành một khu tự trị, còn đểu cáng hơn là tao chiếm nước mày...
Ừ, tuổi trẻ là vậy mà bạn. Giai điệu nó hay... Bài hát cũng như posting nó lên không có tội!
Mình vẫn cám ơn các bạn dùng nó chở mình về sự trong sáng của tuổi thơ.
Tôi ở lớp tiếng Nga, nhưng ấn tượng giai điệu, lời dịch: Đây bao núi non hùng tráng, suối khe ngăn bước đường xa vời
Đường lên Tây Tạng ko vết người đi, đèo vút cao lưng trời
Rắn như thép chiến sỹ giải phóng quân, đói rét ko sờn, đã vượt đèo qua dãy Nhị Lang Sơn.
Hồi đó nghĩ như Bài hát “Qua miền Tây Bắc” của Ta vì chưa hiểu TQ, nhưng h khác r - Cám ơn Điện nguyen nhớ Thời niên thiếu!
Cồn Cỏ nằm trong hệ thống các địa danh lịch sử nổi tiếng trong 2 cuộc kháng chiến của quân và dân Quảng Trị như Cầu Hiền Lương, Vĩ tuyến 17, Địa dạo Vịnh Mốc, Thành Cổ Quảng Trị, các khu du lịch Cửa Tùng, Cửa Việt…
Cồn Cỏ đi vào lịch sử dân tộc với những chiến công bất hủ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Trong suốt 21 năm đánh Mỹ, Cồn Cỏ là hòn đảo tiền tiêu của miền Bắc XHCN, là biểu tượng cho ý chí ý kiên cường và lòng quả cảm của dân tộc Việt Nam, trở thành “Chiến hạm thép canh giữ Biển Đông Tổ quốc”, là “con mắt thần”, “vọng gác tiền tiêu” của miền Bắc XHCN, là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, của khát vọng chân lý “không có gì quý hơn độc lập tự do”. Đến với Cồn Cỏ là đến với những địa danh hiển hách của cuộc trường chinh thống nhất đất nước đầy hào hùng của dân tộc...
Cồn Cỏ nằm trong hệ thống các địa danh lịch sử nổi tiếng trong 2 cuộc kháng chiến của quân và dân Quảng Trị như Cầu Hiền Lương, Vĩ tuyến 17, Địa dạo Vịnh Mốc, Thành Cổ Quảng Trị, các khu du lịch Cửa Tùng, Cửa Việt…
Cồn Cỏ đi vào lịch sử dân tộc với những chiến công bất hủ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Trong suốt 21 năm đánh Mỹ, Cồn Cỏ là hòn đảo tiền tiêu của miền Bắc XHCN, là biểu tượng cho ý chí ý kiên cường và lòng quả cảm của dân tộc Việt Nam, trở thành “Chiến hạm thép canh giữ Biển Đông Tổ quốc”, là “con mắt thần”, “vọng gác tiền tiêu” của miền Bắc XHCN, là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, của khát vọng chân lý “không có gì quý hơn độc lập tự do”. Đến với Cồn Cỏ là đến với những địa danh hiển hách của cuộc trường chinh thống nhất đất nước đầy hào hùng của dân tộc...
(PL)- Từng gây bão trên mạng với hơn một triệu lượt view cho bản Hotel California “phiên bản bàn nhậu”, gần đây guitarist Thiên An lập nên một kỳ tích mới: Bản thu âm Lời tình buồn đệm cho ca sĩ Triều Linh hát đạt hơn 100.000 view chỉ trong vài ngày.
Tiếp nối những con số ấn tượng từ trên mạng, tối Chủ nhật 13-8 này guitarist Thiên An và ca sĩ Triều Linh sẽ cùng nhau thực hiện liveshow. Người hâm mộ sẽ được thưởng thức một đêm nhạc mộc hoàn toàn từ những nghệ sĩ bước ra từ thế giới mạng.
Sự nổi tiếng bất ngờ
Hai năm trước, sau một cuộc nhậu với nhóm anh em nghệ sĩ, hai ngày sau điện thoại của guitarist Thiên An đổ chuông muốn cháy máy. Bạn bè cho biết anh đang nổi rần rần trên mạng. Số là bản Hotel California mà anh và ca sĩ Lan Thảo cùng nhóm bạn chơi tại quán nhậu đang lan tỏa chóng mặt trên mạng. Thông tin này thật bất ngờ vì hôm đó chỉ là ngẫu hứng. Bạn bè nghệ sĩ gặp nhau ăn uống, đến chừng “mắc ca”, chủ quán đưa ra cho cây guitar mốc meo, chỉ còn có... ba dây. An chạy vội về nhà lấy cây đàn của mình ra. Một người bạn lấy iPad quay rồi post lên YouTube. Chẳng ai trong bàn nhậu biết chuyện này cho đến khi clip “phiên bản bàn nhậu” bùng nổ.
Sự nổi tiếng bất đắc dĩ của Thiên An bắt đầu từ đây mặc dù trước đó anh đã là một nghệ sĩ guitar chuyên nghiệp. Tốt nghiệp guitar từ Trường Văn hóa Nghệ thuật Đồng Nai, sau đó Thiên An công tác tại Đoàn ca múa nhạc tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu và Đoàn nghệ thuật dân tộc Bông Sen. Từ năm 2000 đến nay anh là nghệ sĩ guitar hoạt động tự do. Hằng đêm anh vẫn vác đàn chơi tại các quán bar. Công việc mưu sinh cứ âm thầm lặng lẽ.
Lời tình buồn đã tạo nên cơn “bão view” mới cho Thiên An và Triều Linh. Ảnh cắt từ clip
(ĐC sưu tầm trên NET)
Lời Tình Buồn Guitar THIÊN AN Ca Sĩ TRIỀU LINH
Anh Còn Nợ Em
Từ ‘phiên bản bàn nhậu’ bước vào phòng trà
(PL)- Từng gây bão trên mạng với hơn một triệu lượt view cho bản Hotel California “phiên bản bàn nhậu”, gần đây guitarist Thiên An lập nên một kỳ tích mới: Bản thu âm Lời tình buồn đệm cho ca sĩ Triều Linh hát đạt hơn 100.000 view chỉ trong vài ngày.
Tiếp nối những con số ấn tượng từ trên mạng, tối Chủ nhật 13-8 này guitarist Thiên An và ca sĩ Triều Linh sẽ cùng nhau thực hiện liveshow. Người hâm mộ sẽ được thưởng thức một đêm nhạc mộc hoàn toàn từ những nghệ sĩ bước ra từ thế giới mạng.
Sự nổi tiếng bất ngờ
Hai năm trước, sau một cuộc nhậu với nhóm anh em nghệ sĩ, hai ngày sau điện thoại của guitarist Thiên An đổ chuông muốn cháy máy. Bạn bè cho biết anh đang nổi rần rần trên mạng. Số là bản Hotel California mà anh và ca sĩ Lan Thảo cùng nhóm bạn chơi tại quán nhậu đang lan tỏa chóng mặt trên mạng. Thông tin này thật bất ngờ vì hôm đó chỉ là ngẫu hứng. Bạn bè nghệ sĩ gặp nhau ăn uống, đến chừng “mắc ca”, chủ quán đưa ra cho cây guitar mốc meo, chỉ còn có... ba dây. An chạy vội về nhà lấy cây đàn của mình ra. Một người bạn lấy iPad quay rồi post lên YouTube. Chẳng ai trong bàn nhậu biết chuyện này cho đến khi clip “phiên bản bàn nhậu” bùng nổ.
Sự nổi tiếng bất đắc dĩ của Thiên An bắt đầu từ đây mặc dù trước đó anh đã là một nghệ sĩ guitar chuyên nghiệp. Tốt nghiệp guitar từ Trường Văn hóa Nghệ thuật Đồng Nai, sau đó Thiên An công tác tại Đoàn ca múa nhạc tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu và Đoàn nghệ thuật dân tộc Bông Sen. Từ năm 2000 đến nay anh là nghệ sĩ guitar hoạt động tự do. Hằng đêm anh vẫn vác đàn chơi tại các quán bar. Công việc mưu sinh cứ âm thầm lặng lẽ.
Lời tình buồn đã tạo nên cơn “bão view” mới cho Thiên An và Triều Linh. Ảnh cắt từ clip
-Có thể nào nâng nguyên lý bất định của Heisenberg thành nguyên lý phổ quát về tính lũng đoạn chủ quan của con người vào thực tại khách quan của Vũ Trụ? Chẳng hạn không thể xác định được mức độ dũng cảm hay hèn nhát một hành vi nếu không qui ước. Trong khái niệm "dũng cảm" phải hàm chứa khái niệm "hèn nhát", nếu không, không có khái niệm ấy. Cũng vậy, khó mà xác định được lòng yêu nước chân chính khi chưa có qui ước. -Tôi đặt niềm tin vào tính tất nhiên và sự chắc chắn của nguyên lý nhân quả trong các quá trình chuyển hóa Vũ Trụ. Một khi còn thấy tính ngẫu nhiên, sự bất định, sự không chắc chắn, tính phi nhân quả...trong các quá trình chuyển hóa ấy, thì chỉ có nghĩa rằng vật lý học chưa đi đến tận cùng sự hiểu biết về Vũ Trụ. Nghĩa là, phải chăng đến nay, Vũ Trụ là tất định đối với Tạo Hóa, nhưng bất định đối với con người? -Ánh sáng là hạt khi nó đóng vai trò giới hạn cuối cùng của vật chất, và là sóng khi nó đóng vai trò là tiền vật chất. Hoặc có thể gọi ánh sáng là giả hạt. chính vì vậy chỉ có thể thấy ánh sáng thể hiện tính sóng hay tính hạt, chứ không đồng thời thấy được cả hai. -Có thể hình dung ánh sáng như nước. Ở mức độ nào đó nước được thấy như là thực thể sóng, ở mức độ khác nó lại được thấy như một tập hợp hạt. Không thể thấy đồng thời hai thể hiện ấy. -Có thể cho rằng thế giới hạ nguyên tử là miền trung gian giữa thế giới vĩ mô và thế giới vi mô? -Bảo vệ chủ nghĩa Marx làm gì khi nó đã quá lạc hậu rồi và bộc lộ sai lầm? Chỉ riêng luận điểm đấu tranh giai cấp mang tính bạo lực và sắt máu, tiêu trừ một tầng lớp xuất sinh tự nhiên của xã hội (giai cấp tư sản) để xây dựng một xã hội phi giai cấp đầy lòng nhân ái, nghe đã phản khoa học và trái khoáy rồi.
LẠM BÀN VIII:
-Nếu không tin là có Chúa, thì phải tin là ý thức có nguồn gốc từ vật chất. -Nhưng muốn tin như thế, phải thấy được cách thức nào hình thành nên ý thức từ vật chất. -Muốn biết điều đó, cần phải bắt đầu từ nguồn gốc sự sống. -Trước hết cần hiểu, ý thức là gì? -Theo quan điểm của Mác - Ănghen thì: Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan: Thể hiện rằng nội dung của ý thức do thế giới khách quan quy định. Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan vì nó nằm trong bộ não con người. Ý thức là cái phản ánh thế giới khách quan nhưng nó là cái thuộc phạm vi chủ quan, là thực tại chủ quan. Ý thức không có tính vật chất, nó chỉ là hình ảnh tinh thần, gắn liền với hoạt động khái quát hóa, trừu tượng hóa, có định hướng, có lựa chọn. ý thức là sự phản ánh thế giới bởi bộ não con người. Mác từng nói: "Ý thức chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi trong đó". -Vật chất hun đúc nên những thực thể vô tri. -Vật vô tri chắc chắn là không có ý thức nhưng cũng không thể gọi là vật vô giác. Theo quan niệm của chúng ta, thế giới này chỉ có Tồn Tại, không thể có Hư Vô. Nghĩa là vạn vật vô tri trong khi vận động để thể hiện sự tồn tại, phải vận động tuân theo những qui định của tự nhiên (những quy luật) sao cho chỉ có thể biến đổi trạng thái tồn tại hoặc chuyển sang dạng tồn tại khác chứ không thể Hư Vô đi. Muốn thế, vật vô tri phải có cái gọi là "giác", một thứ như sự "biết" sơ khai, tự phát, thụ động,là tiền đề của cảm giác. -Ở thế giới vô tri, vạn vật đều có giác để tuân theo nguyên lý "cố gắng" duy trì trạng thái tồn tại vốn dĩ của chúng. Với sự "cố gắng" ấy, trong những điều kiện chín muồi nào đó, sẽ hình thành nên "cảm", một thứ tinh tế hóa của giác, để từ đó hun đúc nên cảm giác. -Khi cảm giác xuất hiện, thì cũng chính là đồng thời xuất hiện sự sống. -Trong thế giới vô tri, vạn vật đều có tính cố gắng duy trì tồn tại, thì vì cũng thuộc thế giới ấy nên sinh vật cũng có tính ấy. Nhưng sinh vật cũng hợp thành tương đối một thế giới riêng vì vậy tính ấy cũng có nét đặc thù nên gọi là "cố gắng sống còn". Mục đích nguyên thủy của cảm giác chính là "báo nguy" và định hướng cho sinh vật tìm cách duy trì tồn tại hay "cố gắng sống còn". -Trong thiên nhiên hữu hạn, sự trái chiều của cố gắng sống còn và quy luật tăng - giảm lạm phát số lượng cá thể sinh vật khi gặp điều kiện môi trường thuận lợi hay bất lợi đã làm xuất hiện trong thế giới muôn loài quá trình đấu tranh sinh tồn và tiến hóa thích nghi. -Quá trình tiến hóa thích nghi được thực hiện theo hai hướng cơ bản: hướng thứ nhất là hoàn thiện cấu trúc sinh học cơ thể cho phù hợp hơn với vận động và môi trường, hướng thứ hai là tăng cường và mở rộng khả năng cảm giác (đây là nguồn gốc của việc xuất hiện năm giác quan với xúc giác là giác quan nền tảng). Mục đích của hai hướng tiến hóa thích nghi ấy đều nhằm tăng cường thích ứng với môi trường, tăng cường khả năng tìm kiếm thứ ăn hoặc tránh né kẻ thù, tức là tăng cường sống còn. -Việc tăng cường cảm giác và hoàn thiện cấu trúc sinh học cơ thể sẽ dẫn tới làm xuất hiện hệ thần kinh trung ương và sự hồi ức. -Hồi ức có tính chủ động, là cảm giác lại cảm giác đã qua mà không có đối tượng, là kết quả từ quá trình lâu dài của sự lặp đi lặp lại một cảm giác. -Có thể nói hồi ức là bước đầu tiên của quá trình tiến hóa thích nghi theo định hướng tăng cường cảm giác làm xuất hiện ý thức, tức là làm xuất hiện tư duy trừu tượng. -Lúc đầu là hồi ức (nhớ lại), đến tưởng tượng, rồi đến so sánh và lựa chọn (bước sơ khởi của sự biết, sáng tạo), đó là con đường hình thành nên ý thức. -Tóm lại, không có gì huyền bí, ý thức là kết quả trình đấu tranh sinh tồn và tiến hóa thích nghi. Tương tự như vậy, tình cảm cũng được hình thành nên chủ yếu từ sự đấu tranh xã hội để tìm kế mưu sinh (xã hội nào càng khó khăn trong mưu sinh thì tình cảm càng trở nên sâu sắc!). Và linh hồn được hun đúc nên từ đó. -Qua trên cũng thấy, tôn giáo phải dựa vào khoa học và theo khoa học nếu còn muốn bảo vệ niềm tin tín ngưỡng, còn khoa học muốn giữ vững niềm tin khoa học của mình và là chỗ dựa vững chắc cho nhận thức tự nhiên của loài người thì phải kiên định (nhưng không bảo thủ!), không lung lạc trước phủ dụ tôn giáo.
--------------------------------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm trên NET)
“Bản chất của Ý thức”: Vấn đề khó nhất từ khi khai sinh khoa học hiện đại
3:50 pm - 12/08/2017
Từ khi bắt đầu có suy nghĩ riêng của mình, có ai từng thử suy nghĩ xem những suy nghĩ này xuất phát từ đâu chưa? Tại sao tôi thích màu vàng, còn người khác thích màu xanh. Vì sao có người giỏi hội hoạ, có người giỏi âm nhạc… Đã nhiều nhà khoa học nghiên cứu bản chất, nguồn gốc của Ý Thức và dần dần khám phá ra nhiều điều thú vị.
LẠM BÀN VII:
-Có thể nào nâng nguyên lý bất định của Heisenberg thành nguyên lý phổ quát về tính lũng đoạn chủ quan của con người vào thực tại khách quan của Vũ Trụ? Chẳng hạn không thể xác định được mức độ dũng cảm hay hèn nhát một hành vi nếu không qui ước. Trong khái niệm "dũng cảm" phải hàm chứa khái niệm "hèn nhát", nếu không, không có khái niệm ấy. Cũng vậy, khó mà xác định được lòng yêu nước chân chính khi chưa có qui ước. -Tôi đặt niềm tin vào tính tất nhiên và sự chắc chắn của nguyên lý nhân quả trong các quá trình chuyển hóa Vũ Trụ. Một khi còn thấy tính ngẫu nhiên, sự bất định, sự không chắc chắn, tính phi nhân quả...trong các quá trình chuyển hóa ấy, thì chỉ có nghĩa rằng vật lý học chưa đi đến tận cùng sự hiểu biết về Vũ Trụ. Nghĩa là, phải chăng đến nay, Vũ Trụ là tất định đối với Tạo Hóa, nhưng bất định đối với con người? -Ánh sáng là hạt khi nó đóng vai trò giới hạn cuối cùng của vật chất, và là sóng khi nó đóng vai trò là tiền vật chất. Hoặc có thể gọi ánh sáng là giả hạt. chính vì vậy chỉ có thể thấy ánh sáng thể hiện tính sóng hay tính hạt, chứ không đồng thời thấy được cả hai. -Có thể hình dung ánh sáng như nước. Ở mức độ nào đó nước được thấy như là thực thể sóng, ở mức độ khác nó lại được thấy như một tập hợp hạt. Không thể thấy đồng thời hai thể hiện ấy. -Có thể cho rằng thế giới hạ nguyên tử là miền trung gian giữa thế giới vĩ mô và thế giới vi mô? -Bảo vệ chủ nghĩa Marx làm gì khi nó đã quá lạc hậu rồi và bộc lộ sai lầm? Chỉ riêng luận điểm đấu tranh giai cấp mang tính bạo lực và sắt máu, tiêu trừ một tầng lớp xuất sinh tự nhiên của xã hội (giai cấp tư sản) để xây dựng một xã hội phi giai cấp đầy lòng nhân ái, nghe đã phản khoa học và trái khoáy rồi.
LẠM BÀN VIII:
-Nếu không tin là có Chúa, thì phải tin là ý thức có nguồn gốc từ vật chất. -Nhưng muốn tin như thế, phải thấy được cách thức nào hình thành nên ý thức từ vật chất. -Muốn biết điều đó, cần phải bắt đầu từ nguồn gốc sự sống. -Trước hết cần hiểu, ý thức là gì? -Theo quan điểm của Mác - Ănghen thì: Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan: Thể hiện rằng nội dung của ý thức do thế giới khách quan quy định. Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan vì nó nằm trong bộ não con người. Ý thức là cái phản ánh thế giới khách quan nhưng nó là cái thuộc phạm vi chủ quan, là thực tại chủ quan. Ý thức không có tính vật chất, nó chỉ là hình ảnh tinh thần, gắn liền với hoạt động khái quát hóa, trừu tượng hóa, có định hướng, có lựa chọn. ý thức là sự phản ánh thế giới bởi bộ não con người. Mác từng nói: "Ý thức chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi trong đó". -Vật chất hun đúc nên những thực thể vô tri. -Vật vô tri chắc chắn là không có ý thức nhưng cũng không thể gọi là vật vô giác. Theo quan niệm của chúng ta, thế giới này chỉ có Tồn Tại, không thể có Hư Vô. Nghĩa là vạn vật vô tri trong khi vận động để thể hiện sự tồn tại, phải vận động tuân theo những qui định của tự nhiên (những quy luật) sao cho chỉ có thể biến đổi trạng thái tồn tại hoặc chuyển sang dạng tồn tại khác chứ không thể Hư Vô đi. Muốn thế, vật vô tri phải có cái gọi là "giác", một thứ như sự "biết" sơ khai, tự phát, thụ động,là tiền đề của cảm giác. -Ở thế giới vô tri, vạn vật đều có giác để tuân theo nguyên lý "cố gắng" duy trì trạng thái tồn tại vốn dĩ của chúng. Với sự "cố gắng" ấy, trong những điều kiện chín muồi nào đó, sẽ hình thành nên "cảm", một thứ tinh tế hóa của giác, để từ đó hun đúc nên cảm giác. -Khi cảm giác xuất hiện, thì cũng chính là đồng thời xuất hiện sự sống. -Trong thế giới vô tri, vạn vật đều có tính cố gắng duy trì tồn tại, thì vì cũng thuộc thế giới ấy nên sinh vật cũng có tính ấy. Nhưng sinh vật cũng hợp thành tương đối một thế giới riêng vì vậy tính ấy cũng có nét đặc thù nên gọi là "cố gắng sống còn". Mục đích nguyên thủy của cảm giác chính là "báo nguy" và định hướng cho sinh vật tìm cách duy trì tồn tại hay "cố gắng sống còn". -Trong thiên nhiên hữu hạn, sự trái chiều của cố gắng sống còn và quy luật tăng - giảm lạm phát số lượng cá thể sinh vật khi gặp điều kiện môi trường thuận lợi hay bất lợi đã làm xuất hiện trong thế giới muôn loài quá trình đấu tranh sinh tồn và tiến hóa thích nghi. -Quá trình tiến hóa thích nghi được thực hiện theo hai hướng cơ bản: hướng thứ nhất là hoàn thiện cấu trúc sinh học cơ thể cho phù hợp hơn với vận động và môi trường, hướng thứ hai là tăng cường và mở rộng khả năng cảm giác (đây là nguồn gốc của việc xuất hiện năm giác quan với xúc giác là giác quan nền tảng). Mục đích của hai hướng tiến hóa thích nghi ấy đều nhằm tăng cường thích ứng với môi trường, tăng cường khả năng tìm kiếm thứ ăn hoặc tránh né kẻ thù, tức là tăng cường sống còn. -Việc tăng cường cảm giác và hoàn thiện cấu trúc sinh học cơ thể sẽ dẫn tới làm xuất hiện hệ thần kinh trung ương và sự hồi ức. -Hồi ức có tính chủ động, là cảm giác lại cảm giác đã qua mà không có đối tượng, là kết quả từ quá trình lâu dài của sự lặp đi lặp lại một cảm giác. -Có thể nói hồi ức là bước đầu tiên của quá trình tiến hóa thích nghi theo định hướng tăng cường cảm giác làm xuất hiện ý thức, tức là làm xuất hiện tư duy trừu tượng. -Lúc đầu là hồi ức (nhớ lại), đến tưởng tượng, rồi đến so sánh và lựa chọn (bước sơ khởi của sự biết, sáng tạo), đó là con đường hình thành nên ý thức. -Tóm lại, không có gì huyền bí, ý thức là kết quả trình đấu tranh sinh tồn và tiến hóa thích nghi. Tương tự như vậy, tình cảm cũng được hình thành nên chủ yếu từ sự đấu tranh xã hội để tìm kế mưu sinh (xã hội nào càng khó khăn trong mưu sinh thì tình cảm càng trở nên sâu sắc!). Và linh hồn được hun đúc nên từ đó. -Qua trên cũng thấy, tôn giáo phải dựa vào khoa học và theo khoa học nếu còn muốn bảo vệ niềm tin tín ngưỡng, còn khoa học muốn giữ vững niềm tin khoa học của mình và là chỗ dựa vững chắc cho nhận thức tự nhiên của loài người thì phải kiên định (nhưng không bảo thủ!), không lung lạc trước phủ dụ tôn giáo.
--------------------------------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm trên NET)
“Bản chất của Ý thức”: Vấn đề khó nhất từ khi khai sinh khoa học hiện đại
3:50 pm - 12/08/2017
Từ khi bắt đầu có suy nghĩ riêng của mình, có ai từng thử suy nghĩ xem những suy nghĩ này xuất phát từ đâu chưa? Tại sao tôi thích màu vàng, còn người khác thích màu xanh. Vì sao có người giỏi hội hoạ, có người giỏi âm nhạc… Đã nhiều nhà khoa học nghiên cứu bản chất, nguồn gốc của Ý Thức và dần dần khám phá ra nhiều điều thú vị.
Chuyện 15: "1 + 1 = 2" Ông A nhìn xuống đất nhả khói, lưỡng lự một hồi lâu, rồi chậm rãi nói: -Thế giới mà chúng ta đang sống thật kỳ dị! Có những điều chúng ta tưởng đã thấy rành rành trong hiện thực, biết mười mươi, con nít thuộc lòng, nhưng nằm ngẫm kỹ, thì lại thấy rất hoang mang, cực khó hiểu. Chẳng hạn biểu thức toán học: 1 + 1 = 2, ai mà không "biết tỏng", nhưng để nhận thức nó một cách đúng đắn, ngay cả đối với học giả uyên bác ngày nay cũng không phải là dễ dàng, vì thực ra nó chỉ là biểu tượng phản ánh không đầy đủ hiện thực, chứ không hề "có" theo đúng nghĩa đen, nghĩa là không hề tồn tại trong thực tại khách quan trước khi có toán học. Sở dĩ có nó là vì có con người biết tư duy trừu tượng trong quan sát, suy tưởng thành biểu tượng, thành một tồn tại trong thế giới ảo toán học. Theo tôi, trên đời này không có gì khác ngoài Tự Nhiên Tồn Tại, ngoài Tồn Tại theo nguyên lý Tự Nhiên. Tồn Tại có nghĩa là "Có", Tự Nhiên có nghĩa là phải "Có kiểu như thế" chứ không thể "không có", không thể "có kiểu khác". Chẳng hạn, trong hiện thực Trái Đất,chỉ thấy có những hòn đá lăn xuống núi chứ không hề có hòn đá nào tự nhiên (!) lăn từ chân núi lên đỉnh núi. Vì Tồn Tại là cái "Có" duy nhất nên nó phải bảo toàn và vì nó phải liên tục thể hiện đến "chân tơ kẽ tóc" để phân biệt được nên nó phải biến đổi, chuyển hóa không ngừng. Nói cách khác, bản chất của Tồn Tại là vận động. Khi ta nói Tồn Tại (viết hoa), thì nên hiểu rằng đó là danh từ chung, nói về tồn tại tuyệt đối, khi ta nói tồn tại (viết thường), thì có nghĩa ta đang nói đến tồn tại cụ thể (như sông, núi, rừng, biển, không gian, thời gian,...), tồn tại tương đối. Có thể phân tồn tại tương đối thành hai loại là tồn tại thực và tồn tại ảo. Tồn tại thực là cái có thực trong thực tại, không cần qua tư duy trừu tượng. Ví dụ: một cái cây là một tồn tại thực. con vật tuy không có tư duy trừu tượng thì cũng phải biết có chướng ngại ở đó mà tránh. Còn tồn tại ảo là tồn tại phải thông qua tư duy trừu tượng mới có. Chẳng hạn toán học, vật lý học, thời gian... Từ đó, chúng ta rút ra được nguyên lý Tự Nhiên. Như vậy, không có tồn tại thực thì không có tồn tại ảo, nói cách khác, tồn tại ảo là phản ánh hay là thể hiện của tồn tại thực. Không có tư duy trừu tượng thì không có thời gian, hay thời gian là cảm giác lâu, mau của một quá trình vận động hoặc chuyển hóa nào đó của tồn tại thực. Toàn bộ thế giới này đều vận động tuân theo tuyệt đối và duy nhất nguyên lý Tự Nhiên. Có thể nói nguyên lý Tự Nhiên được coi như tiên đề nguyên lý- là nguyên lý cội rễ chung nhất của mọi nguyên lý, qui luật của thế giới này. Nó phát biểu rằng, Tự Nhiên Tồn Tại là không thể bị tiêu diệt (nghĩa là không có Hư Vô). Mọi vận động, chuyển hóa phải đảm bảo bảo toàn Tự Nhiên Tồn Tại. Ba nguyên lý lớn nhất (luật tự nhiên): nguyên lý Nhân Quả (tồn tại "chỉ" nảy sinh từ Tồn Tại chứ không thể từ Hư Vô), nguyên lý Tác dụng tương hỗ (mọi tồn tại đều cố gắng tồn tại, nghĩa là đều cố gắng duy trì trạng thái "đang" tồn tại) và nguyên lý bảo toàn (số lượng Tồn Tại là vốn dĩ và bất biến) được coi là ba hệ quả chi phối toàn bộ sự tồn tại và hoạt động của thế giới tự nhiên, được rút ra trực tiếp từ nguyên lý Tự Nhiên...
Sự kết thúc của vũ trụ
Chuyện 15: "1 + 1 = 2" Ông A nhìn xuống đất nhả khói, lưỡng lự một hồi lâu, rồi chậm rãi nói: -Thế giới mà chúng ta đang sống thật kỳ dị! Có những điều chúng ta tưởng đã thấy rành rành trong hiện thực, biết mười mươi, con nít thuộc lòng, nhưng nằm ngẫm kỹ, thì lại thấy rất hoang mang, cực khó hiểu. Chẳng hạn biểu thức toán học: 1 + 1 = 2, ai mà không "biết tỏng", nhưng để nhận thức nó một cách đúng đắn, ngay cả đối với học giả uyên bác ngày nay cũng không phải là dễ dàng, vì thực ra nó chỉ là biểu tượng phản ánh không đầy đủ hiện thực, chứ không hề "có" theo đúng nghĩa đen, nghĩa là không hề tồn tại trong thực tại khách quan trước khi có toán học. Sở dĩ có nó là vì có con người biết tư duy trừu tượng trong quan sát, suy tưởng thành biểu tượng, thành một tồn tại trong thế giới ảo toán học. Theo tôi, trên đời này không có gì khác ngoài Tự Nhiên Tồn Tại, ngoài Tồn Tại theo nguyên lý Tự Nhiên. Tồn Tại có nghĩa là "Có", Tự Nhiên có nghĩa là phải "Có kiểu như thế" chứ không thể "không có", không thể "có kiểu khác". Chẳng hạn, trong hiện thực Trái Đất,chỉ thấy có những hòn đá lăn xuống núi chứ không hề có hòn đá nào tự nhiên (!) lăn từ chân núi lên đỉnh núi. Vì Tồn Tại là cái "Có" duy nhất nên nó phải bảo toàn và vì nó phải liên tục thể hiện đến "chân tơ kẽ tóc" để phân biệt được nên nó phải biến đổi, chuyển hóa không ngừng. Nói cách khác, bản chất của Tồn Tại là vận động. Khi ta nói Tồn Tại (viết hoa), thì nên hiểu rằng đó là danh từ chung, nói về tồn tại tuyệt đối, khi ta nói tồn tại (viết thường), thì có nghĩa ta đang nói đến tồn tại cụ thể (như sông, núi, rừng, biển, không gian, thời gian,...), tồn tại tương đối. Có thể phân tồn tại tương đối thành hai loại là tồn tại thực và tồn tại ảo. Tồn tại thực là cái có thực trong thực tại, không cần qua tư duy trừu tượng. Ví dụ: một cái cây là một tồn tại thực. con vật tuy không có tư duy trừu tượng thì cũng phải biết có chướng ngại ở đó mà tránh. Còn tồn tại ảo là tồn tại phải thông qua tư duy trừu tượng mới có. Chẳng hạn toán học, vật lý học, thời gian... Từ đó, chúng ta rút ra được nguyên lý Tự Nhiên. Như vậy, không có tồn tại thực thì không có tồn tại ảo, nói cách khác, tồn tại ảo là phản ánh hay là thể hiện của tồn tại thực. Không có tư duy trừu tượng thì không có thời gian, hay thời gian là cảm giác lâu, mau của một quá trình vận động hoặc chuyển hóa nào đó của tồn tại thực. Toàn bộ thế giới này đều vận động tuân theo tuyệt đối và duy nhất nguyên lý Tự Nhiên. Có thể nói nguyên lý Tự Nhiên được coi như tiên đề nguyên lý- là nguyên lý cội rễ chung nhất của mọi nguyên lý, qui luật của thế giới này. Nó phát biểu rằng, Tự Nhiên Tồn Tại là không thể bị tiêu diệt (nghĩa là không có Hư Vô). Mọi vận động, chuyển hóa phải đảm bảo bảo toàn Tự Nhiên Tồn Tại. Ba nguyên lý lớn nhất (luật tự nhiên): nguyên lý Nhân Quả (tồn tại "chỉ" nảy sinh từ Tồn Tại chứ không thể từ Hư Vô), nguyên lý Tác dụng tương hỗ (mọi tồn tại đều cố gắng tồn tại, nghĩa là đều cố gắng duy trì trạng thái "đang" tồn tại) và nguyên lý bảo toàn (số lượng Tồn Tại là vốn dĩ và bất biến) được coi là ba hệ quả chi phối toàn bộ sự tồn tại và hoạt động của thế giới tự nhiên, được rút ra trực tiếp từ nguyên lý Tự Nhiên...
Sáng nay thức dậy
Thấy bình minh đang lên
Vầng hồng rực rỡ thần tiên
Lòng anh ca vang tình yêu cuộc sống
Gió ban mai hùa theo mát lành lay động
Nắng ban mai sóng soài, mơ mộng mê man
Ôi, buổi sáng dát vàng
Của "Chân trời đã mất"*
Mà anh đã tìm suốt một đời chân thật
Trong bon chen bề bộn trần gian
Trong mồ hôi, nước mắt, lăn lộn gian nan
Thế rồi sáng nay thức dậy
Anh đã thấy được một ban mai huyền thoại
Hiện ra từ đêm tối mông lung, chết chóc điêu tàn
Sống động lòng anh, tươi sáng huy hoàng
Cất vang bài ca tình yêu cuộc sống!
Chứa chan, ngập tràn hi vọng...
Em của ngày xưa ơi!
Đã vĩnh viễn lạc trong quá khứ lâu rồi
Sáng nay cố về mà nghe lòng anh hát
Để hiểu những lời ca ngân lên từ cuộc đời đau rát
Để cùng anh chung hưởng chút Địa Đàng
Dù tất cả đã muộn màng, em đã sang ngang!...
Sáng nay bừng tỉnh giấc
Tưởng như mọi sáng "Chân trời đã mất"
Nào ngờ trước mắt là cả vầng hồng
Buổi sáng dát vàng, rạng rỡ mênh mông
Nảy mầm lại tình yêu cuộc sống
Vươn thành xum xuê yêu thương, xanh đời lồng lộng
Thấm đẫm tình người
Đằm thắm, lung linh, huyền bí đất, trời!...
Trần Hạnh Thu
Bình minh sẽ mang em đi
BUỔI SÁNG DÁT VÀNG
Sáng nay thức dậy
Thấy bình minh đang lên
Vầng hồng rực rỡ thần tiên
Lòng anh ca vang tình yêu cuộc sống
Gió ban mai hùa theo mát lành lay động
Nắng ban mai sóng soài, mơ mộng mê man
Ôi, buổi sáng dát vàng
Của "Chân trời đã mất"*
Mà anh đã tìm suốt một đời chân thật
Trong bon chen bề bộn trần gian
Trong mồ hôi, nước mắt, lăn lộn gian nan
Thế rồi sáng nay thức dậy
Anh đã thấy được một ban mai huyền thoại
Hiện ra từ đêm tối mông lung, chết chóc điêu tàn
Sống động lòng anh, tươi sáng huy hoàng
Cất vang bài ca tình yêu cuộc sống!
Chứa chan, ngập tràn hi vọng...
Em của ngày xưa ơi!
Đã vĩnh viễn lạc trong quá khứ lâu rồi
Sáng nay cố về mà nghe lòng anh hát
Để hiểu những lời ca ngân lên từ cuộc đời đau rát
Để cùng anh chung hưởng chút Địa Đàng
Dù tất cả đã muộn màng, em đã sang ngang!...
Sáng nay bừng tỉnh giấc
Tưởng như mọi sáng "Chân trời đã mất"
Nào ngờ trước mắt là cả vầng hồng
Buổi sáng dát vàng, rạng rỡ mênh mông
Nảy mầm lại tình yêu cuộc sống
Vươn thành xum xuê yêu thương, xanh đời lồng lộng
Thấm đẫm tình người
Đằm thắm, lung linh, huyền bí đất, trời!...
BÀI THƠ "VIẾT BÊN MỘ LIỆT SĨ VÔ DANH" CỦA NHÀ THƠ TUYẾT NGA ĐƯỢC KHẮC VÀO BIA ĐÁ GẮN TRÊN NGHĨA TRANG Ở HẢI LĂNG, QUẢNG TRỊ.
(BanTroi: Đặng Bá Linh K6 và Trần Hữu Dân K7 cũng yên nghỉ tại Hải Lăng! Mời xem bên dưới)
Nghĩa trang này có gần 2000 ngôi mộ Liệt sĩ chưa biết tên.
Vào 11h30 ngày 13.7.2015 vừa qua, lãnh đạo địa phương và một nhóm đồng đội, bạn hữu từ Hà Nội vào đã trịnh trọng làm lễ gắn bia.
Từ nay, bài thơ luôn hiện diện nơi gần 2000 trái tim Liệt sĩ đang yên nghỉ. Nó là lời ru mà tất cả chúng ta muốn ru giấc ngủ các anh, những người đã hy sinh vì đất nước.
Ảnh: Bài thơ và tác giả Tuyết Nga.
Theo báo điện tử Dân trí
Bài thơ được tác giả viết vào quãng những năm 1988-1990 nhưng chưa công bố. Cách đây 2 tháng, Hội nhà văn Việt Nam đã chọn dịch ra tiếng Anh cho Tuyển tập thơ Viết về chiến tranh để giới thiệu ra thế giới.
Vừa qua, bài thơ được nhóm cựu chiến binh do một Trung tướng dẫn đầu, khắc lên bia đá và mang vào dựng tại một nghĩa trang ở huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, nơi quy tập gần 2000 ngôi mộ liệt sĩ chưa tìm ra tên tuổi.
Nhà thơ Tuyết Nga hiện đang làm việc tại báo Dân trí.
có một ước mơ trời xanh còn nhớ
có một tình yêu mùa thu còn giữ
có một tuổi 20 đất nước ủ trong lòng.
12h trưa nay nhà thơ Hoàng Cát gọi điện cho Tuyết Nga từ Phong Điền-Quảng Trị. Anh nói anh đang ở giữa một vùng sa mạc nắng giữa chiến trường xưa nơi anh từng chiến đấu từng chết đi sống lại mấy lần rằng anh vừa gặp lại 2 người chị đã từng chăm nuôi anh và các đồng đội của mình... giọng anh chan chứa.
Anh Hoàng Cát!
Dù sinh ra nơi vùng quê đầy đạn lửa nhưng trong ký ức tuổi thơ của TN chiến tranh chỉ như một ảo giác xa xăm. Dù vậy TN đã từng trào nước mắt khi đứng trước một nấm mộ có tấm bia khắc dòng chữ "Tên anh chúng tôi không biết nhưng chiến công của anh tổ quốc mãi mãi ghi nhớ". TN xin chép bài thơ TN đã viết trước nấm mộ đó ( cách đây tròn 20 năm) như một sự chia sẻ cảm xúc cùng anh. Đây là lần đầu tiên bài thơ được công bố.
Thăm các LS trường Trỗi - HữuThành.Nguyễn, 06/2012, Blog "Bạn Trỗi K6"
Ghé NTLS huyện Hải Lăng, Quảng Trị, thắp hương cho Đặng Bá Linh K6 mất tên trên mộ. 27/05/2012, 16gi 20:
Cuối ngày hôm nay chúng tôi tìm viếng bạn Đặng Bá Linh K6. Trong danh sách Ls chúng tôi không đọc thấy Bá Linh. Bạn là một trong số những LS này ư?
Ngày thứ hai, thứ ba trên đường đi gặp bạn- HữuThành.Nguyễn, Thứ Năm, tháng 6 25, 2009 - Blog K4
Bổ sung 17h30, 30/6/2009:
Từ nhà tôi ra cả nhóm rẽ vào NTLS Huyện Hải Lăng. Theo danh sách thì trường ta có 2 LS nằm tại đây là Bùi Hữu Thích k1 và Đặng Bá Linh k6. Trời đã bắt đầu tối, chúng tôi không có thời gian tìm từng mộ, và cũng biết Bá Linh bị lạc tên, nên thắp... thuốc lá thay hương cho các LS nằm đây, trong đó có bạn Trỗi. Đây là điểm thăm viếng ngoài kế hoạch trong ngày nên chúng tôi không nhớ mua hương trước.
QUẢNG TRỊ VÀ MÓN CHÁO CÁ (Tiếp theo)- dathb136 vào lúc 05:28 Thứ Năm, 9 tháng 4, 2009, Blog K8.
... Nghĩa trang nằm sau đường tàu hỏa nên không có lối vào, phải bỏ xe bên vệ đường. Nghĩa trang tương đối lớn với hàng trăm ngôi mộ. Vào thẳng nhà người quản trang nằm bên trái. Quản trang là một đôi vợ chồng già, cán bộ về hưu. Ông đã 79 tuổi, bà trẻ hơn 63 tuổi nhưng trông như bà lão. Khi biết chúng tôi đi tìm bạn hy sinh ở đó, năm đó thì ông đưa ngay cuốn danh sách từng ngôi mộ. Trong khi Khánh dò tìm, tôi hỏi thăm gia cảnh của ông, được biết gia đình ông cũng có 11 người hy sinh, mà chỉ tìm được có 3 người. Ông vô làm ở đây sau khi về hưu được 2 năm là do có một cái gì đó thôi thúc ông phải làm? Dự định làm 1 năm rồi thôi, nhưng ông đã làm từ đó đến giờ mấy chục năm...
Ảnh sưu tầm trên mạng
Học sinh trường THCS Thị Trấn Hải Lăng tri ân các Liệt sĩ
BÀI THƠ "VIẾT BÊN MỘ LIỆT SĨ VÔ DANH" CỦA NHÀ THƠ TUYẾT NGA ĐƯỢC KHẮC VÀO BIA ĐÁ GẮN TRÊN NGHĨA TRANG Ở HẢI LĂNG, QUẢNG TRỊ.
(BanTroi: Đặng Bá Linh K6 và Trần Hữu Dân K7 cũng yên nghỉ tại Hải Lăng! Mời xem bên dưới)
Nghĩa trang này có gần 2000 ngôi mộ Liệt sĩ chưa biết tên.
Vào 11h30 ngày 13.7.2015 vừa qua, lãnh đạo địa phương và một nhóm đồng đội, bạn hữu từ Hà Nội vào đã trịnh trọng làm lễ gắn bia.
Từ nay, bài thơ luôn hiện diện nơi gần 2000 trái tim Liệt sĩ đang yên nghỉ. Nó là lời ru mà tất cả chúng ta muốn ru giấc ngủ các anh, những người đã hy sinh vì đất nước.
Ảnh: Bài thơ và tác giả Tuyết Nga.
Theo báo điện tử Dân trí
Bài thơ được tác giả viết vào quãng những năm 1988-1990 nhưng chưa công bố. Cách đây 2 tháng, Hội nhà văn Việt Nam đã chọn dịch ra tiếng Anh cho Tuyển tập thơ Viết về chiến tranh để giới thiệu ra thế giới.
Vừa qua, bài thơ được nhóm cựu chiến binh do một Trung tướng dẫn đầu, khắc lên bia đá và mang vào dựng tại một nghĩa trang ở huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, nơi quy tập gần 2000 ngôi mộ liệt sĩ chưa tìm ra tên tuổi.
Nhà thơ Tuyết Nga hiện đang làm việc tại báo Dân trí.
có một ước mơ trời xanh còn nhớ
có một tình yêu mùa thu còn giữ
có một tuổi 20 đất nước ủ trong lòng.
12h trưa nay nhà thơ Hoàng Cát gọi điện cho Tuyết Nga từ Phong Điền-Quảng Trị. Anh nói anh đang ở giữa một vùng sa mạc nắng giữa chiến trường xưa nơi anh từng chiến đấu từng chết đi sống lại mấy lần rằng anh vừa gặp lại 2 người chị đã từng chăm nuôi anh và các đồng đội của mình... giọng anh chan chứa.
Anh Hoàng Cát!
Dù sinh ra nơi vùng quê đầy đạn lửa nhưng trong ký ức tuổi thơ của TN chiến tranh chỉ như một ảo giác xa xăm. Dù vậy TN đã từng trào nước mắt khi đứng trước một nấm mộ có tấm bia khắc dòng chữ "Tên anh chúng tôi không biết nhưng chiến công của anh tổ quốc mãi mãi ghi nhớ". TN xin chép bài thơ TN đã viết trước nấm mộ đó ( cách đây tròn 20 năm) như một sự chia sẻ cảm xúc cùng anh. Đây là lần đầu tiên bài thơ được công bố.
Thăm các LS trường Trỗi - HữuThành.Nguyễn, 06/2012, Blog "Bạn Trỗi K6"
Ghé NTLS huyện Hải Lăng, Quảng Trị, thắp hương cho Đặng Bá Linh K6 mất tên trên mộ. 27/05/2012, 16gi 20:
Cuối ngày hôm nay chúng tôi tìm viếng bạn Đặng Bá Linh K6. Trong danh sách Ls chúng tôi không đọc thấy Bá Linh. Bạn là một trong số những LS này ư?
Ngày thứ hai, thứ ba trên đường đi gặp bạn- HữuThành.Nguyễn, Thứ Năm, tháng 6 25, 2009 - Blog K4
Bổ sung 17h30, 30/6/2009:
Từ nhà tôi ra cả nhóm rẽ vào NTLS Huyện Hải Lăng. Theo danh sách thì trường ta có 2 LS nằm tại đây là Bùi Hữu Thích k1 và Đặng Bá Linh k6. Trời đã bắt đầu tối, chúng tôi không có thời gian tìm từng mộ, và cũng biết Bá Linh bị lạc tên, nên thắp... thuốc lá thay hương cho các LS nằm đây, trong đó có bạn Trỗi. Đây là điểm thăm viếng ngoài kế hoạch trong ngày nên chúng tôi không nhớ mua hương trước.
QUẢNG TRỊ VÀ MÓN CHÁO CÁ (Tiếp theo)- dathb136 vào lúc 05:28 Thứ Năm, 9 tháng 4, 2009, Blog K8.
... Nghĩa trang nằm sau đường tàu hỏa nên không có lối vào, phải bỏ xe bên vệ đường. Nghĩa trang tương đối lớn với hàng trăm ngôi mộ. Vào thẳng nhà người quản trang nằm bên trái. Quản trang là một đôi vợ chồng già, cán bộ về hưu. Ông đã 79 tuổi, bà trẻ hơn 63 tuổi nhưng trông như bà lão. Khi biết chúng tôi đi tìm bạn hy sinh ở đó, năm đó thì ông đưa ngay cuốn danh sách từng ngôi mộ. Trong khi Khánh dò tìm, tôi hỏi thăm gia cảnh của ông, được biết gia đình ông cũng có 11 người hy sinh, mà chỉ tìm được có 3 người. Ông vô làm ở đây sau khi về hưu được 2 năm là do có một cái gì đó thôi thúc ông phải làm? Dự định làm 1 năm rồi thôi, nhưng ông đã làm từ đó đến giờ mấy chục năm...
Ảnh sưu tầm trên mạng
Học sinh trường THCS Thị Trấn Hải Lăng tri ân các Liệt sĩ
Ngày xưa em hỏi:
"Thế nào là tình yêu thương?"
Ôi, câu hỏi tưởng bình thường
Ai cũng biết, nhẹ nhàng như hơi thở
Mà sao anh trăn trở hoài lại quá khó
Qua bao tháng năm vẫn không thể trả lời em
Phải chăng những câu hỏi xuất phát từ trái tim
Thường vô cùng nan giải
Đối với những ai chưa qua từng trải
Chưa từng bon chen và thấm thía đau thương?
Hôm nay
Trong chặng cuối đời thường
Anh mới ngộ ra tình yêu thương đồng loại
Đậm nghĩa vợ chồng cũng thuộc tình yêu ấy
Khi ta yêu ta là có nghĩa yêu người
Khi ta yêu người là hạnh phúc, yên vui
Tình yêu thương là tình yêu cuộc đời,
Là nhẫn nhịn, khoan hòa, không hề khắc khẩu
Đó là thứ sinh ra từ lòng lành nhân hậu!?
Ngày xưa em hỏi:
"Thế nào là tình yêu thương?"
Ôi, câu hỏi tưởng bình thường
Ai cũng biết, nhẹ nhàng như hơi thở
Mà sao anh trăn trở hoài lại quá khó
Qua bao tháng năm vẫn không thể trả lời em
Phải chăng những câu hỏi xuất phát từ trái tim
Thường vô cùng nan giải
Đối với những ai chưa qua từng trải
Chưa từng bon chen và thấm thía đau thương?
Hôm nay
Trong chặng cuối đời thường
Anh mới ngộ ra tình yêu thương đồng loại
Đậm nghĩa vợ chồng cũng thuộc tình yêu ấy
Khi ta yêu ta là có nghĩa yêu người
Khi ta yêu người là hạnh phúc, yên vui
Tình yêu thương là tình yêu cuộc đời,
Là nhẫn nhịn, khoan hòa, không hề khắc khẩu
Đó là thứ sinh ra từ lòng lành nhân hậu!?
Ôm cây đàn ghitar
Ông già rề rà lời ca hy vọng
Lòng thiết tha tình yêu cuộc sống
Trong chiều thu buồn trên chiếc xe lăn
Trầm bổng du dương réo rắt cung đàn
Rủ rê hồn già lạc về quá khứ
Phủi bụi thời gian cho mối tình thuở cũ
Cựa quậy, nhoẻn cười tươi rói không gian
Ôi tình yêu đôi lứa muôn năm
Ôi tình yêu thuở đầu đời bất diệt
Dù bị lãng quên trong những linh hồn chết
Hay đành ngậm ngùi, nhường nhịn nghĩa vợ chồng
Ngày xưa có thể chia lìa do ngại núi, e sông
Có thể không thành vì mẹ cha không thuận
Vẫy tay biệt nhau khi duyên phần kẻ xuôi người ngược
Nhưng mối tình đầu vẫn sống mãi, trinh nguyên!
Lá rụng bạt ngàn, chiều thu vàng công viên
Lắc lư nhớ quên, lão già mê, rên cùng tiếng nhạc
Người vợ hiền đẩy xe, gió ru tình hai mái đầu tóc bạc
Phất phơ bình yên, viên mãn cõi trần gian
Dội lên niềm thương nỗi nhớ vô vàn
Dàn dụa tâm can, lão già chứa chan ký ức.
Chiều thu hôm nay bỗng ngời lên vàng rực
Chiếc xe đời muốn lăn hoài, mãi mãi...miên man!?...
Ôm cây đàn ghitar
Ông già rề rà lời ca hy vọng
Lòng thiết tha tình yêu cuộc sống
Trong chiều thu buồn trên chiếc xe lăn
Trầm bổng du dương réo rắt cung đàn
Rủ rê hồn già lạc về quá khứ
Phủi bụi thời gian cho mối tình thuở cũ
Cựa quậy, nhoẻn cười tươi rói không gian
Ôi tình yêu đôi lứa muôn năm
Ôi tình yêu thuở đầu đời bất diệt
Dù bị lãng quên trong những linh hồn chết
Hay đành ngậm ngùi, nhường nhịn nghĩa vợ chồng
Ngày xưa có thể chia lìa do ngại núi, e sông
Có thể không thành vì mẹ cha không thuận
Vẫy tay biệt nhau khi duyên phần kẻ xuôi người ngược
Nhưng mối tình đầu vẫn sống mãi, trinh nguyên!
Lá rụng bạt ngàn, chiều thu vàng công viên
Lắc lư nhớ quên, lão già mê, rên cùng tiếng nhạc
Người vợ hiền đẩy xe, gió ru tình hai mái đầu tóc bạc
Phất phơ bình yên, viên mãn cõi trần gian
Dội lên niềm thương nỗi nhớ vô vàn
Dàn dụa tâm can, lão già chứa chan ký ức.
Chiều thu hôm nay bỗng ngời lên vàng rực
Chiếc xe đời muốn lăn hoài, mãi mãi...miên man!?...
Chuyện 14: THỰC TẾ Từ ngày bác A nói về triết học Mác, tôi không còn tin "sái cổ" vào triết học ấy nữa mà tin vào triết học duy tồn của bác A hơn. Theo như bác A giải thích thì trong thế giới sinh vật có hai lối sống là du cư và định cư. khi sự sống lần đầu tiên xuất hiện trên Trái Đất thì "lựa chọn tất nhiên" về lối sống phải là định cư (do thức ăn tự nhiên "tại chỗ" dồi dào, do chưa tiến hóa...). Đây có thể là một yếu tố quan trọng để chứng minh rằng, sự sống chỉ có thể sinh ra trong môi trường nước (trong đại dương!). Du cư là lối sống chẳng đặng đừng, khi sinh vật "ở một chỗ" không còn cái "ăn", phải tiến hóa để biết di chuyển mới kiếm "ăn" được. Phải cho rằng, lối sống định cư ưu việt hơn lối sống du cư vì với lối sống du cư, sinh vật cần nhiều thức ăn để sống hơn (cần nhiều năng lượng hơn!), cho nên lối sống định cư luôn được ưu tiên lựa chọn một khi có cơ hội (bán định cư). Khi loài người phát hiện ra cây lúa nước (lúa mì, ngô...) là loại cây thực phẩm sinh sản lạm phát (tăng trưởng lạm-giảm phát số lượng phải chắc chắn phải là một quy luật phổ biến của thế giới sinh vật!), có thể tích lũy lâu dài làm lương thực để sống, thì họ cũng chọn lối sống định cư, lấy trồng trọt-chăn nuôi thay cho săn bắt-hái lượm, làm phương thức sống chủ yếu. Xã hội loài người, lao động-sản xuất, tình cảm yêu- ghét sâu sắc của con người, bóc lột, chiến tranh-đấu tranh và...mọi chuyện của loài người xuất phát từ đó. Có thể nói, lịch sử xã hội loài người (do bị ảnh hưởng bởi quy luật tăng trưởng lạm phát) là lịch sử của các thời kỳ thịnh vượng-suy tàn kế tiếp nhau. Sự trải qua các thời kỳ đó và do tác động của nguyên lý "cố gắng tồn tại" đã nâng cao mức độ sâu sắc trong cảm xúc tình cảm của con người có tư duy, khiến họ phát hiện ra một phương thức kiếm ăn mới đầy cực đoan, đó là chiến tranh, là huy động lực lượng săn bắt vốn có của xã hội mình đi cướp đoạt, nô dịch, bóc lột thành quả lao động của xã hội người khác để sống còn, hơn nữa, để phè phỡn, sung sướng. Phải nói, chiến tranh thuở đầu tiên là sử dụng bạo lực (lực lượng lao động kiếm sống kết hợp với công cụ lao động đã biến tướng thành vũ khí) đi tranh giành, khuất phục, cướp bóc xã hội người khác để kiếm sống, và do tác động của nguyên lý "cố gắng tốn tại", ai cũng mong sống còn cả, nên chiến tranh đồng nghĩa với giết chóc đồng loại, hay nói cách khác, chiến tranh là nuôi dưỡng sự sống bằng triệt hạ sự sống đồng loại! Có thể thấy, chiến tranh và giết chóc lẫn nhau trong đồng loại là hiện tượng phổ biến gần như tất yếu và có tính đặc thù của xã hội loài người, chỉ ở loài người mới có. Có chiến tranh thì rồi phải có đấu tranh (hay còn gọi là kháng chiến!). Nếu chiến tranh là giết chóc, cướp đoạt, nô dịch và bóc lột, thì đấu tranh nhằm chống lại các đều ấy (cũng buộc phải giết chóc!). Vậy thì đấu tranh thuở đầu tiên là một thể tương phản của chiến tranh, người ta dùng từ "phi nghĩa" và "chính nghĩa" để phân biệt chúng, nếu gọi chiến tranh là phi nghĩa thì đấu tranh là chính nghĩa, nếu chiến tranh là đi cướp danh lợi, thì đấu tranh là đi đòi quyền lợi, nếu mục đích duy nhất của chiến tranh là để bóc lột, thì mục đích duy nhất của đấu tranh là để chống bóc lột. Trong suốt chiếu dài của lịch sử xã hội loài người, trong suốt quá trình vận động chuyển hóa qua các hình thái KTXH, đã có biết bao cuộc đấu tranh cách mạng chống bóc lột xảy ra, nhưng chưa có cuộc đấu tranh nào xóa bỏ được triệt để sự bóc lột, chưa có cuộc đấu tranh nào xây dựng được một xã hội triệt để không còn bóc lột, kể cả cách mạng vô sản. Điều đó cho thấy rằng, đến nay loài người vẫn chưa nhận thức chính xác được nguyên nhân chính gây ra sự bóc lột. Triết học Mác cũng chỉ nêu ra gần đúng khi cho rằng tầng lớp tư sản là nguyên nhân gây ra bóc lột. Ông A cho rằng (mà tôi thấy cũng đúng!), trong điều kiện bình thường của xã hội tư bản, mọi thứ, kể cả sức lao động, đều được mua bán sòng phẳng với giá thỏa thuận, cạnh tranh, , thì làm sao mà tầng lớp tư sản bóc lột, hoặc bóc lột thái quá được? Muốn bóc lột được, thì kẻ đi bóc lột phải có bạo lực (ngầm hoặc công khai), hoặc người bị bóc lột phải trong điều kiện bị ép buộc vào tình thế chẳng đặng đừng nào đó (chẳng hạn: bị kiệt quệ nguồn sống)! Vì vậy ông A mới đi đến kết luận: ở thời đại nào cũng vậy thôi, khi một tầng lớp nào đó trong xã hội chiếm đoạt nhà nước và lũng đoạn được nhà nước (kể cả tầng lớp vô sản!), sẽ trở thành giai cấp thống trị (dưới chế độ cộng sản, đó chính là giai cấp "tư sản đỏ"!) đi bóc lột giai cấp bị trị (tầng lớp nhân dân lao động: công, nông, binh, trí). Do đó, cũng theo ông A, cuộc đấu tranh chống bóc lột chân chính nhất của loài người là cuộc đấu tranh lật đổ nhà nước cũ với hiến pháp dung túng quyền lực thống trịcủa nó, xây dựng mội nhà nước mới không dung túng bóc lột gọi là nhà nước nhân dân với mục đích duy nhất là vì hạnh phúc mọi người, có một hiến pháp thực chất là tất cả "của dân, do dân và vì dân" (cũng có thể gọi là nhà nước công sản chứ không phải là nhà nước vô sản như hiện nay quan niệm! "Vô sản" và "nhân dân" là hai khái niệm gần nhau nhưng khác nhau!).
Chuyện 14: THỰC TẾ Từ ngày bác A nói về triết học Mác, tôi không còn tin "sái cổ" vào triết học ấy nữa mà tin vào triết học duy tồn của bác A hơn. Theo như bác A giải thích thì trong thế giới sinh vật có hai lối sống là du cư và định cư. khi sự sống lần đầu tiên xuất hiện trên Trái Đất thì "lựa chọn tất nhiên" về lối sống phải là định cư (do thức ăn tự nhiên "tại chỗ" dồi dào, do chưa tiến hóa...). Đây có thể là một yếu tố quan trọng để chứng minh rằng, sự sống chỉ có thể sinh ra trong môi trường nước (trong đại dương!). Du cư là lối sống chẳng đặng đừng, khi sinh vật "ở một chỗ" không còn cái "ăn", phải tiến hóa để biết di chuyển mới kiếm "ăn" được. Phải cho rằng, lối sống định cư ưu việt hơn lối sống du cư vì với lối sống du cư, sinh vật cần nhiều thức ăn để sống hơn (cần nhiều năng lượng hơn!), cho nên lối sống định cư luôn được ưu tiên lựa chọn một khi có cơ hội (bán định cư). Khi loài người phát hiện ra cây lúa nước (lúa mì, ngô...) là loại cây thực phẩm sinh sản lạm phát (tăng trưởng lạm-giảm phát số lượng phải chắc chắn phải là một quy luật phổ biến của thế giới sinh vật!), có thể tích lũy lâu dài làm lương thực để sống, thì họ cũng chọn lối sống định cư, lấy trồng trọt-chăn nuôi thay cho săn bắt-hái lượm, làm phương thức sống chủ yếu. Xã hội loài người, lao động-sản xuất, tình cảm yêu- ghét sâu sắc của con người, bóc lột, chiến tranh-đấu tranh và...mọi chuyện của loài người xuất phát từ đó. Có thể nói, lịch sử xã hội loài người (do bị ảnh hưởng bởi quy luật tăng trưởng lạm phát) là lịch sử của các thời kỳ thịnh vượng-suy tàn kế tiếp nhau. Sự trải qua các thời kỳ đó và do tác động của nguyên lý "cố gắng tồn tại" đã nâng cao mức độ sâu sắc trong cảm xúc tình cảm của con người có tư duy, khiến họ phát hiện ra một phương thức kiếm ăn mới đầy cực đoan, đó là chiến tranh, là huy động lực lượng săn bắt vốn có của xã hội mình đi cướp đoạt, nô dịch, bóc lột thành quả lao động của xã hội người khác để sống còn, hơn nữa, để phè phỡn, sung sướng. Phải nói, chiến tranh thuở đầu tiên là sử dụng bạo lực (lực lượng lao động kiếm sống kết hợp với công cụ lao động đã biến tướng thành vũ khí) đi tranh giành, khuất phục, cướp bóc xã hội người khác để kiếm sống, và do tác động của nguyên lý "cố gắng tốn tại", ai cũng mong sống còn cả, nên chiến tranh đồng nghĩa với giết chóc đồng loại, hay nói cách khác, chiến tranh là nuôi dưỡng sự sống bằng triệt hạ sự sống đồng loại! Có thể thấy, chiến tranh và giết chóc lẫn nhau trong đồng loại là hiện tượng phổ biến gần như tất yếu và có tính đặc thù của xã hội loài người, chỉ ở loài người mới có. Có chiến tranh thì rồi phải có đấu tranh (hay còn gọi là kháng chiến!). Nếu chiến tranh là giết chóc, cướp đoạt, nô dịch và bóc lột, thì đấu tranh nhằm chống lại các đều ấy (cũng buộc phải giết chóc!). Vậy thì đấu tranh thuở đầu tiên là một thể tương phản của chiến tranh, người ta dùng từ "phi nghĩa" và "chính nghĩa" để phân biệt chúng, nếu gọi chiến tranh là phi nghĩa thì đấu tranh là chính nghĩa, nếu chiến tranh là đi cướp danh lợi, thì đấu tranh là đi đòi quyền lợi, nếu mục đích duy nhất của chiến tranh là để bóc lột, thì mục đích duy nhất của đấu tranh là để chống bóc lột. Trong suốt chiếu dài của lịch sử xã hội loài người, trong suốt quá trình vận động chuyển hóa qua các hình thái KTXH, đã có biết bao cuộc đấu tranh cách mạng chống bóc lột xảy ra, nhưng chưa có cuộc đấu tranh nào xóa bỏ được triệt để sự bóc lột, chưa có cuộc đấu tranh nào xây dựng được một xã hội triệt để không còn bóc lột, kể cả cách mạng vô sản. Điều đó cho thấy rằng, đến nay loài người vẫn chưa nhận thức chính xác được nguyên nhân chính gây ra sự bóc lột. Triết học Mác cũng chỉ nêu ra gần đúng khi cho rằng tầng lớp tư sản là nguyên nhân gây ra bóc lột. Ông A cho rằng (mà tôi thấy cũng đúng!), trong điều kiện bình thường của xã hội tư bản, mọi thứ, kể cả sức lao động, đều được mua bán sòng phẳng với giá thỏa thuận, cạnh tranh, , thì làm sao mà tầng lớp tư sản bóc lột, hoặc bóc lột thái quá được? Muốn bóc lột được, thì kẻ đi bóc lột phải có bạo lực (ngầm hoặc công khai), hoặc người bị bóc lột phải trong điều kiện bị ép buộc vào tình thế chẳng đặng đừng nào đó (chẳng hạn: bị kiệt quệ nguồn sống)! Vì vậy ông A mới đi đến kết luận: ở thời đại nào cũng vậy thôi, khi một tầng lớp nào đó trong xã hội chiếm đoạt nhà nước và lũng đoạn được nhà nước (kể cả tầng lớp vô sản!), sẽ trở thành giai cấp thống trị (dưới chế độ cộng sản, đó chính là giai cấp "tư sản đỏ"!) đi bóc lột giai cấp bị trị (tầng lớp nhân dân lao động: công, nông, binh, trí). Do đó, cũng theo ông A, cuộc đấu tranh chống bóc lột chân chính nhất của loài người là cuộc đấu tranh lật đổ nhà nước cũ với hiến pháp dung túng quyền lực thống trịcủa nó, xây dựng mội nhà nước mới không dung túng bóc lột gọi là nhà nước nhân dân với mục đích duy nhất là vì hạnh phúc mọi người, có một hiến pháp thực chất là tất cả "của dân, do dân và vì dân" (cũng có thể gọi là nhà nước công sản chứ không phải là nhà nước vô sản như hiện nay quan niệm! "Vô sản" và "nhân dân" là hai khái niệm gần nhau nhưng khác nhau!).
Ca khúc Lớp 10 Gạc Ma là sáng tác mới của nhạc sĩ Trần Bắc Hải gợi nhớ về ngày lịch sử khi 64 liệt sĩ đã hy sinh để bảo vệ biển đảo quê hương. Đúng ngày 14/3 cách đây 28 năm, Trung Quốc cho tàu hộ vệ tên lửa và binh lính tấn công, xâm chiếm cụm đá Gạc Ma - Cô Lin - Len Đao (quần đảo Trường Sa), bắn chìm 2 tàu vận tải HQ 604, HQ 605, thảm sát 64 chiến sĩ, chiếm trái phép bãi đá Gạc Ma của Việt Nam.
Trên hành trình đi tìm tài liệu sáng tác ca khúc về những người anh hùng, nhạc sĩ Trần Bắc Hải tình cờ biết thông tin về một lớp học được đặt tên là "Lớp 10 Gạc Ma" ở giữa Sài Gòn. Đó là một trường Phổ thông trung học ở quận Tân Phú. Trường có 15 lớp học mang tên 15 hòn đảo trải dài khắp vùng biển Việt Nam từ Gạc Ma, Trường Sa Lớn, Song Tử Tây đến Cô Tô, Côn Đảo...
Học trò trường này cũng mặc đồng phục giống lính hải quân. "Ngay trên cánh cửa vào lớp Mười Gạc Ma là những dòng thơ về Gạc Ma, để các em nhớ đến Gạc Ma mỗi khi ra vào lớp", nhạc sĩ kể về lớp học.
Kết nối hình ảnh của ngôi trường và thông tin về trận hải chiến năm 1988, nhạc sĩ viết nên bài hát Lớp Mười Gạc Ma với giai điệu, ca từ dung dị. "Sang năm, các học sinh sẽ lên lớp 11, rồi lớp 12... tên ca khúc có thể sẽ trở nên lạc hậu. Nhưng tôi rất muốn giới thiệu bản nhạc đến mọi người vì nhạc đã chảy ra cùng với nước mắt của tôi", nam nhạc sĩ bày tỏ.
Ngày 14/3 năm nay, Trần Bắc Hải tự đệm đàn guitar, rưng rưng hát bài Lớp mười Gạc Ma.
(Trích thư điện tử từ Australia của tác giả bài hát “Lớp 10 Gạc Ma” – ông Trần Bắc Hải)
“Nhiều vị lớn tuổi kêu ca những người trẻ bây giờ không biết lịch sử Việt Nam, khóc vì được gặp thần tượng K-pop nhưng không biết uất ức khi đồng bào mình bị quân Tàu cướp giết trên biển, rành rẽ 3 ngày Valentine Đỏ-Trắng-Đen nhưng không biết họa xâm lăng cận kề.
Quả thật nếu gõ vào Google tiếng Việt “14/3 là ngày gì?” bạn sẽ nhận được câu trả lời phần lớn là về Valentine Trắng, thông tin ngày giỗ 64 chiến sỹ công binh hải quân Việt Nam hy sinh tại Gạc Ma là ít hỏi.
Cách đây 2 năm tôi đã viết trên Facebook về chuyện này, nhưng hôm nay thấy chưa hết bức xúc, bèn quyết ngồi xuống viết một ca khúc với tựa đề “Valentine trắng Gạc Ma”. Trên giấy trắng tôi đã viết “64 đôi đũa và 64 chiếc bát”, tức là chuyện về một ông lão nghèo ở Quảng Bình hàng năm làm giỗ cho con trai cùng với đồng đội của anh ấy, bảo rằng bây giờ cả 64 chúng nó còn đang bám bấu vào nhau dưới đáy biển, làm sao gọi riêng một đứa về được.
Trên đường đi tìm thêm tư liệu để viết lyrics cho bài hát, tôi bỗng gặp “Lớp Mười Gạc Ma ở giữa Sài Gòn”. Đó là một ngôi trường THPT tư thục ở quận Tân Phú. Rất đặc biệt. Giờ giáo dục công dân, trong khi thày cô các trường khác kêu… “vô lý như SGK Giáo dục công dân” thì tại đây, học trò được hỏi “Nếu chỉ còn một ngày để sống thì bạn sẽ làm gì?”. Có câu trả lời dễ thương “Con sẽ chạy về nhà để ăn món canh khổ qua và thịt kho trứng của mẹ” cũng được ghi nhận. Vâng, ngay cả người lớn chúng ta chưa chắc đã biết cách sống mỗi ngày cho thật ý nghĩa, như rằng đó là chỉ một ngày duy nhất trong cuộc sống.
Rất độc đáo. Học trò trường này mang đồng phục giống lính hải quân, còn các lớp học thì được gọi tên theo các đảo của Việt Nam. Ngay trên cánh cửa vào lớp Mười Gạc Ma là những dòng thơ về Gạc Ma, để các em nhớ đến Gạc Ma mỗi khi ra vào lớp. Gạc Ma đang nằm trong tay kẻ cướp phương Bắc và bị chúng xây thành căn cứ quân sự, nhưng sẽ mãi còn là của Việt Nam khi Gạc Ma ở trong tim mỗi người dân Việt, từ thế hệ này qua thế hệ khác. Tôi chân thành tin rằng ngôi trường này đang dạy học trò rất nhiều điều, để học sinh sống không vô cảm, bàng quan với vận mệnh đất nước.
Vậy là tôi quyết định thay đổi chủ đề bài hát của mình. Không còn lấn cấn gì nhiều nữa về Valentine Trắng hay là Đỏ hay là Đen, quà tặng là chocolate hay là hoa hồng. Bây giờ bài hát sẽ mang tên là “Lớp Mười Gạc Ma”. Sang năm, các em ấy sẽ lên lớp Mười Một, năm sau nữa là lớp Mười Hai… Lớp Mười Gạc Ma rồi sẽ có còn nữa hay không? Bài hát của tôi có bị lạc hậu không ai hát nữa hay không? Nhưng tôi cứ viết vì nhạc đã chảy ra cùng với lệ. Ít nhất thì bài hát đã làm cho tôi tin tưởng rằng ngày mai, Tổ Quốc của tôi sẽ vẫn còn những người chủ đích thực.
Ca khúc Lớp 10 Gạc Ma là sáng tác mới của nhạc sĩ Trần Bắc Hải gợi nhớ về ngày lịch sử khi 64 liệt sĩ đã hy sinh để bảo vệ biển đảo quê hương. Đúng ngày 14/3 cách đây 28 năm, Trung Quốc cho tàu hộ vệ tên lửa và binh lính tấn công, xâm chiếm cụm đá Gạc Ma - Cô Lin - Len Đao (quần đảo Trường Sa), bắn chìm 2 tàu vận tải HQ 604, HQ 605, thảm sát 64 chiến sĩ, chiếm trái phép bãi đá Gạc Ma của Việt Nam.
Trên hành trình đi tìm tài liệu sáng tác ca khúc về những người anh hùng, nhạc sĩ Trần Bắc Hải tình cờ biết thông tin về một lớp học được đặt tên là "Lớp 10 Gạc Ma" ở giữa Sài Gòn. Đó là một trường Phổ thông trung học ở quận Tân Phú. Trường có 15 lớp học mang tên 15 hòn đảo trải dài khắp vùng biển Việt Nam từ Gạc Ma, Trường Sa Lớn, Song Tử Tây đến Cô Tô, Côn Đảo...
Học trò trường này cũng mặc đồng phục giống lính hải quân. "Ngay trên cánh cửa vào lớp Mười Gạc Ma là những dòng thơ về Gạc Ma, để các em nhớ đến Gạc Ma mỗi khi ra vào lớp", nhạc sĩ kể về lớp học.
Kết nối hình ảnh của ngôi trường và thông tin về trận hải chiến năm 1988, nhạc sĩ viết nên bài hát Lớp Mười Gạc Ma với giai điệu, ca từ dung dị. "Sang năm, các học sinh sẽ lên lớp 11, rồi lớp 12... tên ca khúc có thể sẽ trở nên lạc hậu. Nhưng tôi rất muốn giới thiệu bản nhạc đến mọi người vì nhạc đã chảy ra cùng với nước mắt của tôi", nam nhạc sĩ bày tỏ.
Ngày 14/3 năm nay, Trần Bắc Hải tự đệm đàn guitar, rưng rưng hát bài Lớp mười Gạc Ma.
(Trích thư điện tử từ Australia của tác giả bài hát “Lớp 10 Gạc Ma” – ông Trần Bắc Hải)
“Nhiều vị lớn tuổi kêu ca những người trẻ bây giờ không biết lịch sử Việt Nam, khóc vì được gặp thần tượng K-pop nhưng không biết uất ức khi đồng bào mình bị quân Tàu cướp giết trên biển, rành rẽ 3 ngày Valentine Đỏ-Trắng-Đen nhưng không biết họa xâm lăng cận kề.
Quả thật nếu gõ vào Google tiếng Việt “14/3 là ngày gì?” bạn sẽ nhận được câu trả lời phần lớn là về Valentine Trắng, thông tin ngày giỗ 64 chiến sỹ công binh hải quân Việt Nam hy sinh tại Gạc Ma là ít hỏi.
Cách đây 2 năm tôi đã viết trên Facebook về chuyện này, nhưng hôm nay thấy chưa hết bức xúc, bèn quyết ngồi xuống viết một ca khúc với tựa đề “Valentine trắng Gạc Ma”. Trên giấy trắng tôi đã viết “64 đôi đũa và 64 chiếc bát”, tức là chuyện về một ông lão nghèo ở Quảng Bình hàng năm làm giỗ cho con trai cùng với đồng đội của anh ấy, bảo rằng bây giờ cả 64 chúng nó còn đang bám bấu vào nhau dưới đáy biển, làm sao gọi riêng một đứa về được.
Trên đường đi tìm thêm tư liệu để viết lyrics cho bài hát, tôi bỗng gặp “Lớp Mười Gạc Ma ở giữa Sài Gòn”. Đó là một ngôi trường THPT tư thục ở quận Tân Phú. Rất đặc biệt. Giờ giáo dục công dân, trong khi thày cô các trường khác kêu… “vô lý như SGK Giáo dục công dân” thì tại đây, học trò được hỏi “Nếu chỉ còn một ngày để sống thì bạn sẽ làm gì?”. Có câu trả lời dễ thương “Con sẽ chạy về nhà để ăn món canh khổ qua và thịt kho trứng của mẹ” cũng được ghi nhận. Vâng, ngay cả người lớn chúng ta chưa chắc đã biết cách sống mỗi ngày cho thật ý nghĩa, như rằng đó là chỉ một ngày duy nhất trong cuộc sống.
Rất độc đáo. Học trò trường này mang đồng phục giống lính hải quân, còn các lớp học thì được gọi tên theo các đảo của Việt Nam. Ngay trên cánh cửa vào lớp Mười Gạc Ma là những dòng thơ về Gạc Ma, để các em nhớ đến Gạc Ma mỗi khi ra vào lớp. Gạc Ma đang nằm trong tay kẻ cướp phương Bắc và bị chúng xây thành căn cứ quân sự, nhưng sẽ mãi còn là của Việt Nam khi Gạc Ma ở trong tim mỗi người dân Việt, từ thế hệ này qua thế hệ khác. Tôi chân thành tin rằng ngôi trường này đang dạy học trò rất nhiều điều, để học sinh sống không vô cảm, bàng quan với vận mệnh đất nước.
Vậy là tôi quyết định thay đổi chủ đề bài hát của mình. Không còn lấn cấn gì nhiều nữa về Valentine Trắng hay là Đỏ hay là Đen, quà tặng là chocolate hay là hoa hồng. Bây giờ bài hát sẽ mang tên là “Lớp Mười Gạc Ma”. Sang năm, các em ấy sẽ lên lớp Mười Một, năm sau nữa là lớp Mười Hai… Lớp Mười Gạc Ma rồi sẽ có còn nữa hay không? Bài hát của tôi có bị lạc hậu không ai hát nữa hay không? Nhưng tôi cứ viết vì nhạc đã chảy ra cùng với lệ. Ít nhất thì bài hát đã làm cho tôi tin tưởng rằng ngày mai, Tổ Quốc của tôi sẽ vẫn còn những người chủ đích thực.
-Ngày xưa, trong cảnh nước mất nhà tan, ĐCS đứng lên phất cao ngọn cờ tiên phong, dẫn dắt Dân Tộc Đánh bại hai đế quốc to, đến bến bờ giải phóng. Vì đúng với ước nguyện lúc bấy giờ của toàn Dân Tộc, nên đã huy động được toàn bộ sức người, sức của của nhân dân vào cuộc kháng chiến vĩ đại và giành được thắng lợi vẻ vang, nhân dân mến phục, tôn vinh. Hồi đó, ĐCS thực sự là Đảng của Dân Tộc, của nhân dân, quên mình vì lợi ích của Dân Tộc, của nhân dân…Ngày nay, ĐCS không thể "quên mình" được nữa, không còn địa vị như xưa được nữa, dù muốn,vì như thế là ảo tưởng, vì mục đích của ĐCS mặc nhiên đã phần nào nhuốm màu danh lợi cá nhân, xa rời nguyện vọng nhân dân, vì ai cũng lấy danh lợi cá nhân làm mục đích cao trọng, vì không thể có những đảng viên kiên cường, "lấy thân mình lấp lỗ châu mai", "lấy thân mình làm giá súng" như xưa kia nữa...Giai đoạn lịch sử xuất hiện những con người mang não trạng "vì nước quên thân" qua lâu rồi! -Khi mục đích của ĐCS trở thành huyễn hoặc, mất hết ý nghĩa thực tế cũng như tính thiêng liêng, thì sự tồn tại của nó trở thành vật cản cho tiến bộ xã hội! -Thụy Sĩ đâu cần ĐCS mở đường, chỉ lối? -Phải chăng ở Việt Nam, tư duy chính trị vẫn đóng khung trong nhận thức bị xiềng xích bởi ý thức hệ? -Điều tất yếu: khi nhận thức bị ràng buộc thì tư duy cũng mất tự do (mà không biết) dẫn đến hành động khiên cưỡng, phạm nhiều sai lầm, mâu thuẫn với mục đích ban đầu! -Phải chăng Việt Nam (và cả thế giới) đang đứng trước một cuộc cách mạng về nhận thức triết học? Và cuộc cách mạng ấy nhất quyết sẽ xảy ra, nhưng không biết bao giờ và theo cách nào? -Phải chăng Việt Nam đang cần một thể chế lấy Nhà Nước làm lãnh đạo tối cao, lấy ĐCS (đã đổi mới nhận thức) làm cố vấn (nằm trong Quốc hội, chỉ được quyền biểu quyết, không có quyền áp đặt), hoạt động kiên định trên nền tảng "của dân, do dân và vì dân", thực hiện mọi chính sách, đường lối do Quốc Hội (đại diện chân chính duy nhất của quần chúng nhân dân) đề ra? -Vì sao một nhà nước hoạt động theo nguyên tắc tuyệt đối "của dân, do dân và vì dân" là một nhà nước tối ưu khả năng làm cho dân giàu, nước mạnh? Vì trong xã hội có nhiều người tài năng, hầu hết đều yêu nước và sẵn lòng đem hết trí tuệ, sức lực giúp nước, cho nên một nhà nước hoạt động theo nguyên tắc tuyệt đối "của dân, do dân và vì dân" sẽ phát huy được tối đa nhân tài, vật lực cho quyền lợi chung toàn xã hội. Và như vậy, sẽ giảm thiểu những tiêu cực xã hội như: lợi ích nhóm, thói lạm dụng quyền lực, tham nhũng, sự bất bình đẳng xã hội, lề trái... -Đúng không, đó là hình mẫu chân lý, là đích hướng tới cuối cùng của mọi xã hội trong xã hội loài người? Và đúng không, Định hướng XHCN , trước tiên, phải xây dựng cho được một thể chế nhà nước như vậy? -Trước mắt hãy xuất hiện một nhân tài như Hồ Chí Minh! -Hy vọng!
-----------------------------------
(ĐC sưu tầm trên NET)
Chúng ta đã thực sự tin nhân dân?
Tiến sĩ Lý Lê Kiên Thành |
377
Tiến sĩ Toán - Lý Lê Kiên Thành, con trai cố Tổng Bí thư Lê Duẩn.
Là con trai của một người Cộng sản đã hy sinh cả cuộc đời mình cho đất nước, Tiến sĩ Toán - Lý Lê Kiên Thành có một khao khát tột cùng, là Đảng sẽ thực sự vững mạnh, sẽ thực sự là Đảng của dân tộc, của nhân dân, quên mình vì lợi ích của dân tộc, của nhân dân…
Chỉ còn chưa đầy một tháng nữa, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII sẽ diễn ra. Đến thời điểm này, Đảng đã tròn 85 tuổi, với 70 năm lãnh đạo đất nước. Là con trai của một người Cộng sản đã hy sinh cả cuộc đời mình cho đất nước, tôi có một khao khát tột cùng, là Đảng sẽ thực sự vững mạnh, sẽ thực sự là Đảng của dân tộc, của nhân dân, quên mình vì lợi ích của dân tộc, của nhân dân… Nhưng những đêm vắt trán nằm suy nghĩ về đất nước, tôi hiểu chúng ta còn thiếu và sai nhiều. Một trong những cái sai đó là chúng ta chưa thực sự biết tin dân! Ở châu Âu, Thụy Sĩ là một quốc gia nhỏ bé, không giáp biển, không tài nguyên thiên nhiên. Đất nước Thụy Sĩ không có ngôn ngữ chung: 40% nói tiếng Pháp, 30% nói tiếng Đức, 20% nói tiếng Italia và một số nói thổ ngữ… Nhưng nước Thụy Sĩ có thịnh vượng không? Rất thịnh vượng! Vì sao nước Thụy Sĩ thịnh vượng, với hoàn cảnh đất nước phức tạp như thế? Đó là vì cái gì họ cũng trưng cầu dân ý. Mọi quyết định lớn nhỏ của đất nước giàu có đó, đều được Chính phủ Thụy Sỹ thực hiện trưng cầu dân ý, hỏi ý kiến nhân dân. Khi Chính phủ trưng cầu dân ý có nên hạn chế lương của người giám đốc công ty chỉ được cao hơn 12 lần so với lương của công nhân không? Người Thụy Sĩ bảo không. Họ nói người tài đã ít, chúng ta muốn giàu thì phải tôn trọng người tài! Khi Chính phủ hỏi nhân dân, người Pháp làm 35 giờ một tuần, chúng ta có nên làm theo không? Người Thụy Sĩ nói không, nước mình nghèo nên mình vẫn phải làm 40 giờ một tuần… Nhờ đó, Chính phủ Thụy Sĩ biết nhân dân cần gì, muốn gì. Mọi quyết định hệ trọng của đất nước đều được sự góp ý và đồng thuận của nhân dân. Nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan khi sang gặp Tổng thống Thụy Sĩ, đã từng được Tổng thống Thụy Sĩ tiếp đón trong một bốt bưu điện, với chỉ một cái giường, một cái bàn, hai cái ghế. Theo luật, Tổng thống nước họ không được ở khách sạn mà phải ở nhà của bưu điện. Và người làm Tổng thống của họ không có quyền hành gì ghê gớm mà là do các Bộ trưởng thay nhau làm tổng thống trong vài tháng. Tổng thống chỉ đơn thuần sẽ có vai trò báo cáo lại với nhân dân. Nghĩa là ở đất nước đó, người dân giám sát chính phủ một cách gần như tuyệt đối và có quyền đồng ý hay phủ quyết với mọi việc chính phủ làm. Đó chính là ví dụ rõ nét nhất về sự giám sát và làm chủ của nhân dân. Đó là lý do khiến Thụy Sĩ trở thành quốc gia được cả thế giới tôn trọng về những thành tựu đã đạt được. Việc thừa nhận vai trò của người dân và lắng nghe ý kiến của người dân là bài học mà chúng ta phải học từ đất nước này! Năm 1284, khi quân Nguyên Mông mang 50 vạn quân xâm lược nước ta lần thứ hai, nhà Trần đã biết tổ chức Hội nghị Diên Hồng, để hỏi ý kiến nhân dân về việc chủ hoà hay chủ chiến. Nhờ nhân dân cả nước đồng lòng đánh giặc, nhà Trần đã đánh bại đội quân hùng mạnh nhất thế giới khi đó. Nghĩa là từ cả nghìn năm trước, những người đứng đầu đất nước ta thời kỳ đó đã biết hỏi ý kiến nhân dân, biết tin nhân dân, và biết cách để quân dân trên dưới một lòng trong những quyết định lớn lao của dân tộc. Và thực tế đã chứng minh, khi có được sự đồng lòng, thì một dân tộc nhỏ bé cũng có thể trở thành vĩ đại. Cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc ta cũng mang vóc dáng đó, và cũng vì thế mà ta đã chiến thắng được Mỹ. Nhưng ngày hôm nay, Đảng còn tin vào sự sáng suốt của dân như đã từng tin trong quá khứ hay không? Tôi vẫn thường nghĩ đi nghĩ lại, là tại sao, Đảng Cộng sản Việt Nam chọn con đường theo tư tưởng của Karl Marx, lấy giai cấp công nhân là nòng cốt, ngay từ thuở ban đầu chưa có thành công gì mà lại có thể hấp dẫn quần chúng nhân dân ở một đất nước nông nghiệp như nước ta thuở trước? Điều đặc biệt là Đảng đã thu hút được những người tinh túy nhất của xã hội vào trong lòng nó, hấp dẫn được cả dân tộc tham gia vào sự nghiệp đó. Năm xưa, khi bà mẹ miền Bắc gửi con vào miền Nam đánh giặc, khi bà má miền Nam đào hầm nuôi giấu bộ đội, họ - những người phụ nữ ấy, chẳng thể hiểu thế nào là Chủ nghĩa Xã hội, cũng chẳng biết ông Karl Marx, ông Lenin là ai. Nhưng họ vẫn theo Đảng, theo Bác Hồ. Không phải họ chọn chúng ta vì lý thuyết đó, mà vì thời điểm ấy, ngay khi ra đời Đảng đã đặt mục đích của giai cấp, mục tiêu của giai cấp nằm trong lòng mục đích, mục tiêu của dân tộc. Chưa bao giờ ở thời đó Đảng đặt vị trí của giai cấp, vị trí của Đảng lên cao hơn mục đích, lý tưởng của cả dân tộc này. Và khi biết đặt mục đích của dân tộc, của đất nước lên cao, không phải vì một nhóm người nào, Đảng đã quy tụ được những người ưu tú nhất vào trong hàng ngũ của mình và có được sự ủng hộ mãnh liệt nhất của cả đất nước này. Suốt một thời gian dài, Đảng gần như dựa hết vào người dân, người dân nuôi, người dân bảo vệ, người dân ủng hộ. Người Cộng sản có thể gửi gắm cả tính mạng mình cho nhân dân khi bị kẻ thù uy hiếp. Nhưng khi sự nghiệp lớn đã thành công, những người Cộng sản trở thành những người lãnh đạo đất nước, họ dần dần trở thành giai cấp cầm quyền và có lúc “nhìn xuống” nhân dân của mình. Bác Hồ nói “người lãnh đạo là người đầy tớ của nhân dân”. Nhưng một số người Cộng sản, khi đã trở thành quan chức, khi đã đi xe hơi, ở nhà lầu thì họ không còn nhìn thấy phần “đầy tớ” thực thụ của họ trước nhân dân. Tôi cho anh quyền ở cái nhà này, đi cái xe này, nhưng anh phải làm như trâu như ngựa cho tôi. Đó mới là thân phận thực sự, là ý nghĩa thực sự, bản chất thực sự của hai từ “đầy tớ”. Cũng có nghĩa là, anh chỉ là người lái xe ôtô, còn người chủ thực sự là tất cả những người mua xe đó, ngồi trong xe đó, và bất kể anh muốn lái chiếc xe đó đi theo con đường nào, lái nhanh hay lái chậm, đều phải có được sự đồng thuận từ chủ nhân thực sự của nó, là nhân dân. Người lãnh đạo ở Thụy Sĩ hiểu một điều, nếu người dân không đồng ý thì anh sẽ không được nắm quyền. Quyền đó là người dân trao cho anh, chứ không phải tự anh sinh ra đã có. Người Cộng sản Việt Nam cũng phải hiểu điều đó! Nhưng tôi vẫn lo sợ rằng, cách mà chúng ta đang điều hành bây giờ có thể đó đây phần nào đã làm lu mờ đi vai trò của nhân dân với tư cách “làm chủ”. Những cụm từ “Đảng soi đường”, “Đảng chỉ lối”, “Đảng dẫn dắt” mà chúng ta vẫn hay dùng, vô hình trung đã khiến cho tất cả chúng ta đều có cảm giác Đảng đang vượt lên cả dân tộc và làm cho vai trò rất lớn của nhân dân phần nào bị lu mờ đi. Tôi rất lo sợ, qua năm tháng, chính những câu chữ đó cũng đã tạo ra sự ngộ nhận cho chính những người trong Đảng. Nhưng người Cộng sản không được phép quên rằng, Đảng sinh ra là từ dân tộc này, tồn tại được cũng nhờ dân tộc này, vinh quang được cũng là nhờ dân tộc này, thành công này cũng là do cả dân tộc cùng đồng lòng trả bằng xương bằng máu. Vượt lên trên dân tộc là điều không bao giờ được phép! Năm nay là tròn 70 năm Đảng lãnh đạo đất nước, nhưng theo tôi nhớ chúng ta chưa một lần trưng cầu ý dân. Phải mãi đến ngày 25/11/2015, đúng một tháng trước, sau rất nhiều lần nâng lên đặt xuống, Luật Trưng cầu dân ý mới được Quốc hội chính thức thông qua, trong khi đó đáng lẽ là điều phải làm từ lâu lắm rồi! Lẽ nào đất nước mình tốt đẹp đến mức, hùng mạnh đến mức không còn bất cứ vấn đề nào cần thiết để trưng cầu ý dân? Tất cả chúng ta đều biết sự thật không phải vậy! Những người đứng đầu Đảng và Nhà nước đã báo động về sự tồn vong của Đảng, sự tồn vong của dân tộc trước sự tha hoá của một bộ phận không nhỏ đảng viên. Những ai thẳng thắn nhất, sòng phẳng nhất đều phải đối diện với sự thật này. Một đảng cộng sản đã từng được nhân dân che chở từ những ngày đầu, nhờ nhân dân mà trở nên hùng mạnh, nhờ dân tộc mà trở thành Đảng lãnh đạo, không có lý do gì lại không nhờ nhân dân hiến kế để sửa chữa những vấn đề của mình. Nếu không làm được việc này, chỉ có thể là vì chúng ta đã chưa thực sự tin vào nhân dân và không hiểu được đến tận cùng sức mạnh của nhân dân. Mà, muốn tin nhân dân, thì phải có trí tuệ, phải có lòng dũng cảm. Tôi mãi băn khoăn một điều, tại sao ở nước ta, hình thức bầu cử là “Đảng cử, dân bầu” mà không phải là “Đảng cử, dân cử, dân bầu”, để nhân dân cũng được quyền trực tiếp đề cử và lựa chọn những người lãnh đạo mà họ thực sự mong muốn? Tôi cũng mãi băn khoăn một điều, khi Quốc hội - cơ quan đại diện cho nhân dân giám sát Đảng và Nhà nước mà lại có đến 90% là đảng viên thì mình sẽ hình dung được cách làm của Quốc hội như thế nào? Khi một cơ quan của dân và không nhiều người dân ở trong đó đến như vậy, thì chúng ta đã tin dân hay chưa? Tất nhiên Quốc hội đang phấn đấu thay đổi tỷ lệ này trong khóa tới. Với những chính sách ràng buộc khiến 90% đại biểu Quốc hội là đảng viên, vô hình trung, chúng ta đã khiến Quốc hội không còn là cơ quan nói lên tiếng nói của dân. Mà cơ quan dân cử phải là của dân, đó là lẽ đương nhiên. Những sự ràng buộc đó chỉ chứng tỏ rằng bản thân chúng ta không tự tin vào sự sáng suốt của người dân, chúng ta không đủ dũng cảm để tin vào người dân như chúng ta đã từng tin trong quá khứ. Trước đây sự sống còn của Đảng là do người dân, và tất cả những đảng viên đều hiểu điều đó. Vậy mà giờ đây, khi vận mệnh của Đảng đang khó khăn như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói, chúng ta lại không dám hỏi ý kiến dân. Trước đây khi chúng ta muốn nói điều gì với dân, chỉ dùng một tờ truyền đơn là người dân tin. Trong khi đó hiện chúng ta có đến khoảng 800 đầu báo mà chúng ta lại lo sợ nhân dân sẽ hiểu sai về Đảng khi đọc những tiếng nói trái chiều trên những trang báo lề trái. Đó là điều phi lý mà tôi không cắt nghĩa được. Lẽ nào chúng ta không đủ tự tin vào sự nhận thức của nhân dân? Vào khả năng phân biệt đúng sai của nhân dân trước những luận điệu đó? Thật ra có lẽ điều đáng sợ nhất hôm nay, điều mà người Cộng sản nên lo lắng nhất hôm nay, không phải là những bài viết mà chúng ta quy kết là “phản động”, là “chống phá” trên mạng xã hội. Điều đáng sợ là tại sao người dân bây giờ lại ít mua báo? Ngày xưa những bài báo làm nức lòng người nhất là trên báo Nhân Dân, ngược lại ngày nay những tờ báo như vậy hầu như không bán được ở sạp, vậy mà không lãnh đạo nào để ý, hay cảm thấy lo lắng, khi mà điều đó đã đánh động rằng, tiếng nói của Đảng và dân đang ngày càng cách xa nhau. Thế giới đang thay đổi theo từng giờ, từng ngày. Mọi thứ đều phải đổi mới, đương nhiên dòng sông không chảy thì sẽ thành một vũng nước, con chim không đập cánh thì sẽ trở thành một bộ xương ở gốc cây và cá nhân một người Cộng sản, mặc dù vẫn là con người ấy, chính thể ấy nhưng vẫn phải đổi thay từng bước. Ngày hôm nay, Đảng Cộng sản cũng cần phải thay đổi để tránh những nguy cơ ấy. Đầu tiên, có lẽ là học cách tin vào sự sáng suốt của nhân dân!
'Tôi đồng ý với anh Lê Kiên Thành'
30 tháng 12 2015
TS. Vũ Cao Phan cho rằng nếu không 'quyết được' triệt để vấn đề nhân sự lãnh đạo ở Hội nghị 14, Đảng CSVN có thể sẽ phải cần thêm hội nghị 'phụ' hoặc thời gian.
Một nhà nghiên cứu và phân tích chính trị Việt Nam từ Đại học Bình Dương cho hay ông tán thành 'tất cả những ý kiến' được nêu ra trong một bài báo hôm 30/12/2015 của con trai cố Tổng bí thư Đảng CSVN, ông Lê Duẩn, trước thềm Đại hội toàn quốc Đảng cộng sản lần thứ 12.
Hôm thứ Tư, trên tờ 'An ninh Thế giới', một tờ báo của ngành công an Việt Nam, trong bài báo có tựa đề " Chúng ta đã thực sự tin nhân dân?", Tiến sỹ Lê Kiên Thành đề cập một loạt vấn đề có tính nhận thức luận liên quan đảng cộng sản, từ sự cần thiết đề cao niềm tin vào dân, các quyền của người dân như giám sát và làm chủ, quyền trưng cầu dân ý, tới khoảng cách giữa đảng và dân, hay 'siêu tỷ lệ đảng viên' trong Quốc Hội v.v... và kêu gọi đảng 'học cách tin vào sự sáng suốt của nhân dân'. Bình luận với BBC về bài báo của TS. Lê Kiên Thành, Tiến sỹ Vũ Cao Phan, Viện trưởng Viện Chính trị & Nghiên cứu Quan hệ quốc tế, từ Đại học Bình Dương, nói:
"Ông Lê Kiên Thành là một người tôi cũng biết. Ông ấy có những quan điểm của ông ấy. Hầu hết những quan điểm của Lê Kiên Thành tôi đồng ý. Tôi thấy tất cả những ý kiến của anh Thành là đều đúng cả."Thế còn người ta có thể làm được đến đâu hay chưa làm, thì cũng không dễ trả lời lúc này."
Ý kiến và thời điểm
Trả lời câu hỏi tại sao tại thời điểm hiện nay, lại có nhiều ý kiến, thông tin, bài viết, kiến nghị, được đưa ra, như kiểu ý kiến, quan điểm trong bài báo của TS Lê Kiên Thành, công bố ngay trên truyền thông chính thống, hoặc những bài viết, thông tin 'nhạy cảm' trên truyền thông và mạng xã hội, TS. Vũ Cao Phan nói: "Tại sao lại có những thông tin như thế, thì kỳ này rất đơn giản thôi, ta cũng biết rằng hiện nay Hội nghị Trung ương lần thứ 13 chưa quyết được vấn đề nhân sự, nhất là vấn đề nhân sự cấp cao. "Và phải chờ đến Hội nghị Trung ương lần thứ 14. Có một lần Đại hội Đảng còn phải tới Hội nghị Trung ương 14 rưỡi như Đại hội 9. "Tức là vấn đề nhân sự với Đảng là rất quan trọng, nhưng cách làm của Đảng để có thể quyết sớm, do cách làm của Đảng vẫn chưa được tốt lắm, cho nên hiện nay là đang có vấn đề nhân sự. "Và tôi nghĩ đang có cuộc đấu tranh giữa những người này, người khác, hay là như hay gọi là phái này, phái khác, tất cả những phát biểu trên báo chí, chính thức hay không chính thức, ta phải nhìn dưới góc cạnh là nó phản ảnh quan điểm của một số người nhất định nào đó, về vấn đề nhân sự."
Đánh giá tác động
Đánh giá về tác động của những bài báo, quan điểm, ý kiến như của Tiến sỹ Lê Kiên Thành tới lãnh đạo, nhà nước và xã hội Việt Nam, Tiến sỹ Vũ Cao Phan nói thêm:
"Tôi cho rằng nếu gọi là có tác động như thế nào ấy, thì ở thời điểm này khó có một tác động gì, nó chỉ là một tiếng nói để nó phản ảnh, ta gọi là của một phái nào đó, hay là của một số người nào đó cũng được, nói lên."Tôi tán thành với quan điểm của anh Thành vừa nêu, nhưng mà đó cũng chỉ để phản ảnh quan điểm của một số người mà thôi, của một xu hướng nào đó thôi, còn nó có tác động tức thời đến ngay không là rất khó. Còn có thể nó sẽ có tác động lâu dài. "Nhưng có tác động lâu dài đến mức độ nào đó thì cũng còn cần thêm nhiều tiếng nói nữa. "Tôi nói thật, như có lần tôi đã phát biểu, đảng này ai lên làm Tổng bí thư, ai làm người lãnh đạo cao nhất cũng được, 'cũng được' - tôi nói rõ, bởi vì nó không có khuôn mặt nào thật xuất sắc cả."
Quyền lực đích thực
Bài báo trên An ninh Thế giới hôm thứ Tư của tác giả Lê Kiên Thành có đoạn: "Suốt một thời gian dài, Đảng gần như dựa hết vào người dân, người dân nuôi, người dân bảo vệ, người dân ủng hộ. Người Cộng sản có thể gửi gắm cả tính mạng mình cho nhân dân khi bị kẻ thù uy hiếp.
Các lãnh đạo đảng và chính phủ Việt Nam (trái sang: Phạm Văn Đồng, Trường Chinh, Lê Duẩn) trong thập niên 1980. "Nhưng khi sự nghiệp lớn đã thành công, những người Cộng sản trở thành những người lãnh đạo đất nước, họ dần dần trở thành giai cấp cầm quyền và có lúc “nhìn xuống” nhân dân của mình."Bình luận về quyền lực, trong lối nói so sánh, ví von, TS. Lê Kiên Thành viết: "Anh chỉ là người lái xe ôtô, còn người chủ thực sự là tất cả những người mua xe đó, ngồi trong xe đó, và bất kể anh muốn lái chiếc xe đó đi theo con đường nào, lái nhanh hay lái chậm, đều phải có được sự đồng thuận từ chủ nhân thực sự của nó, là nhân dân. "Người lãnh đạo ở Thụy Sĩ hiểu một điều, nếu người dân không đồng ý thì anh sẽ không được nắm quyền. Quyền đó là người dân trao cho anh, chứ không phải tự anh sinh ra đã có. Người Cộng sản Việt Nam cũng phải hiểu điều đó!" Và tác giả Lê Kiên Thành kết luận: "Thế giới đang thay đổi theo từng giờ, từng ngày. Mọi thứ đều phải đổi mới, đương nhiên dòng sông không chảy thì sẽ thành một vũng nước, con chim không đập cánh thì sẽ trở thành một bộ xương ở gốc cây và cá nhân một người Cộng sản, mặc dù vẫn là con người ấy, chính thể ấy nhưng vẫn phải đổi thay từng bước. Ngày hôm nay, Đảng Cộng sản cũng cần phải thay đổi để tránh những nguy cơ ấy. "Đầu tiên, có lẽ là học cách tin vào sự sáng suốt của nhân dân!", tác giả viết trên tờ An ninh Thế giới.
-Ngày xưa, trong cảnh nước mất nhà tan, ĐCS đứng lên phất cao ngọn cờ tiên phong, dẫn dắt Dân Tộc Đánh bại hai đế quốc to, đến bến bờ giải phóng. Vì đúng với ước nguyện lúc bấy giờ của toàn Dân Tộc, nên đã huy động được toàn bộ sức người, sức của của nhân dân vào cuộc kháng chiến vĩ đại và giành được thắng lợi vẻ vang, nhân dân mến phục, tôn vinh. Hồi đó, ĐCS thực sự là Đảng của Dân Tộc, của nhân dân, quên mình vì lợi ích của Dân Tộc, của nhân dân…Ngày nay, ĐCS không thể "quên mình" được nữa, không còn địa vị như xưa được nữa, dù muốn,vì như thế là ảo tưởng, vì mục đích của ĐCS mặc nhiên đã phần nào nhuốm màu danh lợi cá nhân, xa rời nguyện vọng nhân dân, vì ai cũng lấy danh lợi cá nhân làm mục đích cao trọng, vì không thể có những đảng viên kiên cường, "lấy thân mình lấp lỗ châu mai", "lấy thân mình làm giá súng" như xưa kia nữa...Giai đoạn lịch sử xuất hiện những con người mang não trạng "vì nước quên thân" qua lâu rồi! -Khi mục đích của ĐCS trở thành huyễn hoặc, mất hết ý nghĩa thực tế cũng như tính thiêng liêng, thì sự tồn tại của nó trở thành vật cản cho tiến bộ xã hội! -Thụy Sĩ đâu cần ĐCS mở đường, chỉ lối? -Phải chăng ở Việt Nam, tư duy chính trị vẫn đóng khung trong nhận thức bị xiềng xích bởi ý thức hệ? -Điều tất yếu: khi nhận thức bị ràng buộc thì tư duy cũng mất tự do (mà không biết) dẫn đến hành động khiên cưỡng, phạm nhiều sai lầm, mâu thuẫn với mục đích ban đầu! -Phải chăng Việt Nam (và cả thế giới) đang đứng trước một cuộc cách mạng về nhận thức triết học? Và cuộc cách mạng ấy nhất quyết sẽ xảy ra, nhưng không biết bao giờ và theo cách nào? -Phải chăng Việt Nam đang cần một thể chế lấy Nhà Nước làm lãnh đạo tối cao, lấy ĐCS (đã đổi mới nhận thức) làm cố vấn (nằm trong Quốc hội, chỉ được quyền biểu quyết, không có quyền áp đặt), hoạt động kiên định trên nền tảng "của dân, do dân và vì dân", thực hiện mọi chính sách, đường lối do Quốc Hội (đại diện chân chính duy nhất của quần chúng nhân dân) đề ra? -Vì sao một nhà nước hoạt động theo nguyên tắc tuyệt đối "của dân, do dân và vì dân" là một nhà nước tối ưu khả năng làm cho dân giàu, nước mạnh? Vì trong xã hội có nhiều người tài năng, hầu hết đều yêu nước và sẵn lòng đem hết trí tuệ, sức lực giúp nước, cho nên một nhà nước hoạt động theo nguyên tắc tuyệt đối "của dân, do dân và vì dân" sẽ phát huy được tối đa nhân tài, vật lực cho quyền lợi chung toàn xã hội. Và như vậy, sẽ giảm thiểu những tiêu cực xã hội như: lợi ích nhóm, thói lạm dụng quyền lực, tham nhũng, sự bất bình đẳng xã hội, lề trái... -Đúng không, đó là hình mẫu chân lý, là đích hướng tới cuối cùng của mọi xã hội trong xã hội loài người? Và đúng không, Định hướng XHCN , trước tiên, phải xây dựng cho được một thể chế nhà nước như vậy? -Trước mắt hãy xuất hiện một nhân tài như Hồ Chí Minh! -Hy vọng!
-----------------------------------
(ĐC sưu tầm trên NET)
Chúng ta đã thực sự tin nhân dân?
Tiến sĩ Lý Lê Kiên Thành |
377
Tiến sĩ Toán - Lý Lê Kiên Thành, con trai cố Tổng Bí thư Lê Duẩn.
Là con trai của một người Cộng sản đã hy sinh cả cuộc đời mình cho đất nước, Tiến sĩ Toán - Lý Lê Kiên Thành có một khao khát tột cùng, là Đảng sẽ thực sự vững mạnh, sẽ thực sự là Đảng của dân tộc, của nhân dân, quên mình vì lợi ích của dân tộc, của nhân dân…
Chỉ còn chưa đầy một tháng nữa, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII sẽ diễn ra. Đến thời điểm này, Đảng đã tròn 85 tuổi, với 70 năm lãnh đạo đất nước. Là con trai của một người Cộng sản đã hy sinh cả cuộc đời mình cho đất nước, tôi có một khao khát tột cùng, là Đảng sẽ thực sự vững mạnh, sẽ thực sự là Đảng của dân tộc, của nhân dân, quên mình vì lợi ích của dân tộc, của nhân dân… Nhưng những đêm vắt trán nằm suy nghĩ về đất nước, tôi hiểu chúng ta còn thiếu và sai nhiều. Một trong những cái sai đó là chúng ta chưa thực sự biết tin dân! Ở châu Âu, Thụy Sĩ là một quốc gia nhỏ bé, không giáp biển, không tài nguyên thiên nhiên. Đất nước Thụy Sĩ không có ngôn ngữ chung: 40% nói tiếng Pháp, 30% nói tiếng Đức, 20% nói tiếng Italia và một số nói thổ ngữ… Nhưng nước Thụy Sĩ có thịnh vượng không? Rất thịnh vượng! Vì sao nước Thụy Sĩ thịnh vượng, với hoàn cảnh đất nước phức tạp như thế? Đó là vì cái gì họ cũng trưng cầu dân ý. Mọi quyết định lớn nhỏ của đất nước giàu có đó, đều được Chính phủ Thụy Sỹ thực hiện trưng cầu dân ý, hỏi ý kiến nhân dân. Khi Chính phủ trưng cầu dân ý có nên hạn chế lương của người giám đốc công ty chỉ được cao hơn 12 lần so với lương của công nhân không? Người Thụy Sĩ bảo không. Họ nói người tài đã ít, chúng ta muốn giàu thì phải tôn trọng người tài! Khi Chính phủ hỏi nhân dân, người Pháp làm 35 giờ một tuần, chúng ta có nên làm theo không? Người Thụy Sĩ nói không, nước mình nghèo nên mình vẫn phải làm 40 giờ một tuần… Nhờ đó, Chính phủ Thụy Sĩ biết nhân dân cần gì, muốn gì. Mọi quyết định hệ trọng của đất nước đều được sự góp ý và đồng thuận của nhân dân. Nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan khi sang gặp Tổng thống Thụy Sĩ, đã từng được Tổng thống Thụy Sĩ tiếp đón trong một bốt bưu điện, với chỉ một cái giường, một cái bàn, hai cái ghế. Theo luật, Tổng thống nước họ không được ở khách sạn mà phải ở nhà của bưu điện. Và người làm Tổng thống của họ không có quyền hành gì ghê gớm mà là do các Bộ trưởng thay nhau làm tổng thống trong vài tháng. Tổng thống chỉ đơn thuần sẽ có vai trò báo cáo lại với nhân dân. Nghĩa là ở đất nước đó, người dân giám sát chính phủ một cách gần như tuyệt đối và có quyền đồng ý hay phủ quyết với mọi việc chính phủ làm. Đó chính là ví dụ rõ nét nhất về sự giám sát và làm chủ của nhân dân. Đó là lý do khiến Thụy Sĩ trở thành quốc gia được cả thế giới tôn trọng về những thành tựu đã đạt được. Việc thừa nhận vai trò của người dân và lắng nghe ý kiến của người dân là bài học mà chúng ta phải học từ đất nước này! Năm 1284, khi quân Nguyên Mông mang 50 vạn quân xâm lược nước ta lần thứ hai, nhà Trần đã biết tổ chức Hội nghị Diên Hồng, để hỏi ý kiến nhân dân về việc chủ hoà hay chủ chiến. Nhờ nhân dân cả nước đồng lòng đánh giặc, nhà Trần đã đánh bại đội quân hùng mạnh nhất thế giới khi đó. Nghĩa là từ cả nghìn năm trước, những người đứng đầu đất nước ta thời kỳ đó đã biết hỏi ý kiến nhân dân, biết tin nhân dân, và biết cách để quân dân trên dưới một lòng trong những quyết định lớn lao của dân tộc. Và thực tế đã chứng minh, khi có được sự đồng lòng, thì một dân tộc nhỏ bé cũng có thể trở thành vĩ đại. Cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc ta cũng mang vóc dáng đó, và cũng vì thế mà ta đã chiến thắng được Mỹ. Nhưng ngày hôm nay, Đảng còn tin vào sự sáng suốt của dân như đã từng tin trong quá khứ hay không? Tôi vẫn thường nghĩ đi nghĩ lại, là tại sao, Đảng Cộng sản Việt Nam chọn con đường theo tư tưởng của Karl Marx, lấy giai cấp công nhân là nòng cốt, ngay từ thuở ban đầu chưa có thành công gì mà lại có thể hấp dẫn quần chúng nhân dân ở một đất nước nông nghiệp như nước ta thuở trước? Điều đặc biệt là Đảng đã thu hút được những người tinh túy nhất của xã hội vào trong lòng nó, hấp dẫn được cả dân tộc tham gia vào sự nghiệp đó. Năm xưa, khi bà mẹ miền Bắc gửi con vào miền Nam đánh giặc, khi bà má miền Nam đào hầm nuôi giấu bộ đội, họ - những người phụ nữ ấy, chẳng thể hiểu thế nào là Chủ nghĩa Xã hội, cũng chẳng biết ông Karl Marx, ông Lenin là ai. Nhưng họ vẫn theo Đảng, theo Bác Hồ. Không phải họ chọn chúng ta vì lý thuyết đó, mà vì thời điểm ấy, ngay khi ra đời Đảng đã đặt mục đích của giai cấp, mục tiêu của giai cấp nằm trong lòng mục đích, mục tiêu của dân tộc. Chưa bao giờ ở thời đó Đảng đặt vị trí của giai cấp, vị trí của Đảng lên cao hơn mục đích, lý tưởng của cả dân tộc này. Và khi biết đặt mục đích của dân tộc, của đất nước lên cao, không phải vì một nhóm người nào, Đảng đã quy tụ được những người ưu tú nhất vào trong hàng ngũ của mình và có được sự ủng hộ mãnh liệt nhất của cả đất nước này. Suốt một thời gian dài, Đảng gần như dựa hết vào người dân, người dân nuôi, người dân bảo vệ, người dân ủng hộ. Người Cộng sản có thể gửi gắm cả tính mạng mình cho nhân dân khi bị kẻ thù uy hiếp. Nhưng khi sự nghiệp lớn đã thành công, những người Cộng sản trở thành những người lãnh đạo đất nước, họ dần dần trở thành giai cấp cầm quyền và có lúc “nhìn xuống” nhân dân của mình. Bác Hồ nói “người lãnh đạo là người đầy tớ của nhân dân”. Nhưng một số người Cộng sản, khi đã trở thành quan chức, khi đã đi xe hơi, ở nhà lầu thì họ không còn nhìn thấy phần “đầy tớ” thực thụ của họ trước nhân dân. Tôi cho anh quyền ở cái nhà này, đi cái xe này, nhưng anh phải làm như trâu như ngựa cho tôi. Đó mới là thân phận thực sự, là ý nghĩa thực sự, bản chất thực sự của hai từ “đầy tớ”. Cũng có nghĩa là, anh chỉ là người lái xe ôtô, còn người chủ thực sự là tất cả những người mua xe đó, ngồi trong xe đó, và bất kể anh muốn lái chiếc xe đó đi theo con đường nào, lái nhanh hay lái chậm, đều phải có được sự đồng thuận từ chủ nhân thực sự của nó, là nhân dân. Người lãnh đạo ở Thụy Sĩ hiểu một điều, nếu người dân không đồng ý thì anh sẽ không được nắm quyền. Quyền đó là người dân trao cho anh, chứ không phải tự anh sinh ra đã có. Người Cộng sản Việt Nam cũng phải hiểu điều đó! Nhưng tôi vẫn lo sợ rằng, cách mà chúng ta đang điều hành bây giờ có thể đó đây phần nào đã làm lu mờ đi vai trò của nhân dân với tư cách “làm chủ”. Những cụm từ “Đảng soi đường”, “Đảng chỉ lối”, “Đảng dẫn dắt” mà chúng ta vẫn hay dùng, vô hình trung đã khiến cho tất cả chúng ta đều có cảm giác Đảng đang vượt lên cả dân tộc và làm cho vai trò rất lớn của nhân dân phần nào bị lu mờ đi. Tôi rất lo sợ, qua năm tháng, chính những câu chữ đó cũng đã tạo ra sự ngộ nhận cho chính những người trong Đảng. Nhưng người Cộng sản không được phép quên rằng, Đảng sinh ra là từ dân tộc này, tồn tại được cũng nhờ dân tộc này, vinh quang được cũng là nhờ dân tộc này, thành công này cũng là do cả dân tộc cùng đồng lòng trả bằng xương bằng máu. Vượt lên trên dân tộc là điều không bao giờ được phép! Năm nay là tròn 70 năm Đảng lãnh đạo đất nước, nhưng theo tôi nhớ chúng ta chưa một lần trưng cầu ý dân. Phải mãi đến ngày 25/11/2015, đúng một tháng trước, sau rất nhiều lần nâng lên đặt xuống, Luật Trưng cầu dân ý mới được Quốc hội chính thức thông qua, trong khi đó đáng lẽ là điều phải làm từ lâu lắm rồi! Lẽ nào đất nước mình tốt đẹp đến mức, hùng mạnh đến mức không còn bất cứ vấn đề nào cần thiết để trưng cầu ý dân? Tất cả chúng ta đều biết sự thật không phải vậy! Những người đứng đầu Đảng và Nhà nước đã báo động về sự tồn vong của Đảng, sự tồn vong của dân tộc trước sự tha hoá của một bộ phận không nhỏ đảng viên. Những ai thẳng thắn nhất, sòng phẳng nhất đều phải đối diện với sự thật này. Một đảng cộng sản đã từng được nhân dân che chở từ những ngày đầu, nhờ nhân dân mà trở nên hùng mạnh, nhờ dân tộc mà trở thành Đảng lãnh đạo, không có lý do gì lại không nhờ nhân dân hiến kế để sửa chữa những vấn đề của mình. Nếu không làm được việc này, chỉ có thể là vì chúng ta đã chưa thực sự tin vào nhân dân và không hiểu được đến tận cùng sức mạnh của nhân dân. Mà, muốn tin nhân dân, thì phải có trí tuệ, phải có lòng dũng cảm. Tôi mãi băn khoăn một điều, tại sao ở nước ta, hình thức bầu cử là “Đảng cử, dân bầu” mà không phải là “Đảng cử, dân cử, dân bầu”, để nhân dân cũng được quyền trực tiếp đề cử và lựa chọn những người lãnh đạo mà họ thực sự mong muốn? Tôi cũng mãi băn khoăn một điều, khi Quốc hội - cơ quan đại diện cho nhân dân giám sát Đảng và Nhà nước mà lại có đến 90% là đảng viên thì mình sẽ hình dung được cách làm của Quốc hội như thế nào? Khi một cơ quan của dân và không nhiều người dân ở trong đó đến như vậy, thì chúng ta đã tin dân hay chưa? Tất nhiên Quốc hội đang phấn đấu thay đổi tỷ lệ này trong khóa tới. Với những chính sách ràng buộc khiến 90% đại biểu Quốc hội là đảng viên, vô hình trung, chúng ta đã khiến Quốc hội không còn là cơ quan nói lên tiếng nói của dân. Mà cơ quan dân cử phải là của dân, đó là lẽ đương nhiên. Những sự ràng buộc đó chỉ chứng tỏ rằng bản thân chúng ta không tự tin vào sự sáng suốt của người dân, chúng ta không đủ dũng cảm để tin vào người dân như chúng ta đã từng tin trong quá khứ. Trước đây sự sống còn của Đảng là do người dân, và tất cả những đảng viên đều hiểu điều đó. Vậy mà giờ đây, khi vận mệnh của Đảng đang khó khăn như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói, chúng ta lại không dám hỏi ý kiến dân. Trước đây khi chúng ta muốn nói điều gì với dân, chỉ dùng một tờ truyền đơn là người dân tin. Trong khi đó hiện chúng ta có đến khoảng 800 đầu báo mà chúng ta lại lo sợ nhân dân sẽ hiểu sai về Đảng khi đọc những tiếng nói trái chiều trên những trang báo lề trái. Đó là điều phi lý mà tôi không cắt nghĩa được. Lẽ nào chúng ta không đủ tự tin vào sự nhận thức của nhân dân? Vào khả năng phân biệt đúng sai của nhân dân trước những luận điệu đó? Thật ra có lẽ điều đáng sợ nhất hôm nay, điều mà người Cộng sản nên lo lắng nhất hôm nay, không phải là những bài viết mà chúng ta quy kết là “phản động”, là “chống phá” trên mạng xã hội. Điều đáng sợ là tại sao người dân bây giờ lại ít mua báo? Ngày xưa những bài báo làm nức lòng người nhất là trên báo Nhân Dân, ngược lại ngày nay những tờ báo như vậy hầu như không bán được ở sạp, vậy mà không lãnh đạo nào để ý, hay cảm thấy lo lắng, khi mà điều đó đã đánh động rằng, tiếng nói của Đảng và dân đang ngày càng cách xa nhau. Thế giới đang thay đổi theo từng giờ, từng ngày. Mọi thứ đều phải đổi mới, đương nhiên dòng sông không chảy thì sẽ thành một vũng nước, con chim không đập cánh thì sẽ trở thành một bộ xương ở gốc cây và cá nhân một người Cộng sản, mặc dù vẫn là con người ấy, chính thể ấy nhưng vẫn phải đổi thay từng bước. Ngày hôm nay, Đảng Cộng sản cũng cần phải thay đổi để tránh những nguy cơ ấy. Đầu tiên, có lẽ là học cách tin vào sự sáng suốt của nhân dân!
'Tôi đồng ý với anh Lê Kiên Thành'
30 tháng 12 2015
TS. Vũ Cao Phan cho rằng nếu không 'quyết được' triệt để vấn đề nhân sự lãnh đạo ở Hội nghị 14, Đảng CSVN có thể sẽ phải cần thêm hội nghị 'phụ' hoặc thời gian.
Một nhà nghiên cứu và phân tích chính trị Việt Nam từ Đại học Bình Dương cho hay ông tán thành 'tất cả những ý kiến' được nêu ra trong một bài báo hôm 30/12/2015 của con trai cố Tổng bí thư Đảng CSVN, ông Lê Duẩn, trước thềm Đại hội toàn quốc Đảng cộng sản lần thứ 12.
Hôm thứ Tư, trên tờ 'An ninh Thế giới', một tờ báo của ngành công an Việt Nam, trong bài báo có tựa đề " Chúng ta đã thực sự tin nhân dân?", Tiến sỹ Lê Kiên Thành đề cập một loạt vấn đề có tính nhận thức luận liên quan đảng cộng sản, từ sự cần thiết đề cao niềm tin vào dân, các quyền của người dân như giám sát và làm chủ, quyền trưng cầu dân ý, tới khoảng cách giữa đảng và dân, hay 'siêu tỷ lệ đảng viên' trong Quốc Hội v.v... và kêu gọi đảng 'học cách tin vào sự sáng suốt của nhân dân'. Bình luận với BBC về bài báo của TS. Lê Kiên Thành, Tiến sỹ Vũ Cao Phan, Viện trưởng Viện Chính trị & Nghiên cứu Quan hệ quốc tế, từ Đại học Bình Dương, nói:
"Ông Lê Kiên Thành là một người tôi cũng biết. Ông ấy có những quan điểm của ông ấy. Hầu hết những quan điểm của Lê Kiên Thành tôi đồng ý. Tôi thấy tất cả những ý kiến của anh Thành là đều đúng cả."Thế còn người ta có thể làm được đến đâu hay chưa làm, thì cũng không dễ trả lời lúc này."
Ý kiến và thời điểm
Trả lời câu hỏi tại sao tại thời điểm hiện nay, lại có nhiều ý kiến, thông tin, bài viết, kiến nghị, được đưa ra, như kiểu ý kiến, quan điểm trong bài báo của TS Lê Kiên Thành, công bố ngay trên truyền thông chính thống, hoặc những bài viết, thông tin 'nhạy cảm' trên truyền thông và mạng xã hội, TS. Vũ Cao Phan nói: "Tại sao lại có những thông tin như thế, thì kỳ này rất đơn giản thôi, ta cũng biết rằng hiện nay Hội nghị Trung ương lần thứ 13 chưa quyết được vấn đề nhân sự, nhất là vấn đề nhân sự cấp cao. "Và phải chờ đến Hội nghị Trung ương lần thứ 14. Có một lần Đại hội Đảng còn phải tới Hội nghị Trung ương 14 rưỡi như Đại hội 9. "Tức là vấn đề nhân sự với Đảng là rất quan trọng, nhưng cách làm của Đảng để có thể quyết sớm, do cách làm của Đảng vẫn chưa được tốt lắm, cho nên hiện nay là đang có vấn đề nhân sự. "Và tôi nghĩ đang có cuộc đấu tranh giữa những người này, người khác, hay là như hay gọi là phái này, phái khác, tất cả những phát biểu trên báo chí, chính thức hay không chính thức, ta phải nhìn dưới góc cạnh là nó phản ảnh quan điểm của một số người nhất định nào đó, về vấn đề nhân sự."
Đánh giá tác động
Đánh giá về tác động của những bài báo, quan điểm, ý kiến như của Tiến sỹ Lê Kiên Thành tới lãnh đạo, nhà nước và xã hội Việt Nam, Tiến sỹ Vũ Cao Phan nói thêm:
"Tôi cho rằng nếu gọi là có tác động như thế nào ấy, thì ở thời điểm này khó có một tác động gì, nó chỉ là một tiếng nói để nó phản ảnh, ta gọi là của một phái nào đó, hay là của một số người nào đó cũng được, nói lên."Tôi tán thành với quan điểm của anh Thành vừa nêu, nhưng mà đó cũng chỉ để phản ảnh quan điểm của một số người mà thôi, của một xu hướng nào đó thôi, còn nó có tác động tức thời đến ngay không là rất khó. Còn có thể nó sẽ có tác động lâu dài. "Nhưng có tác động lâu dài đến mức độ nào đó thì cũng còn cần thêm nhiều tiếng nói nữa. "Tôi nói thật, như có lần tôi đã phát biểu, đảng này ai lên làm Tổng bí thư, ai làm người lãnh đạo cao nhất cũng được, 'cũng được' - tôi nói rõ, bởi vì nó không có khuôn mặt nào thật xuất sắc cả."
Quyền lực đích thực
Bài báo trên An ninh Thế giới hôm thứ Tư của tác giả Lê Kiên Thành có đoạn: "Suốt một thời gian dài, Đảng gần như dựa hết vào người dân, người dân nuôi, người dân bảo vệ, người dân ủng hộ. Người Cộng sản có thể gửi gắm cả tính mạng mình cho nhân dân khi bị kẻ thù uy hiếp.
Các lãnh đạo đảng và chính phủ Việt Nam (trái sang: Phạm Văn Đồng, Trường Chinh, Lê Duẩn) trong thập niên 1980. "Nhưng khi sự nghiệp lớn đã thành công, những người Cộng sản trở thành những người lãnh đạo đất nước, họ dần dần trở thành giai cấp cầm quyền và có lúc “nhìn xuống” nhân dân của mình."Bình luận về quyền lực, trong lối nói so sánh, ví von, TS. Lê Kiên Thành viết: "Anh chỉ là người lái xe ôtô, còn người chủ thực sự là tất cả những người mua xe đó, ngồi trong xe đó, và bất kể anh muốn lái chiếc xe đó đi theo con đường nào, lái nhanh hay lái chậm, đều phải có được sự đồng thuận từ chủ nhân thực sự của nó, là nhân dân. "Người lãnh đạo ở Thụy Sĩ hiểu một điều, nếu người dân không đồng ý thì anh sẽ không được nắm quyền. Quyền đó là người dân trao cho anh, chứ không phải tự anh sinh ra đã có. Người Cộng sản Việt Nam cũng phải hiểu điều đó!" Và tác giả Lê Kiên Thành kết luận: "Thế giới đang thay đổi theo từng giờ, từng ngày. Mọi thứ đều phải đổi mới, đương nhiên dòng sông không chảy thì sẽ thành một vũng nước, con chim không đập cánh thì sẽ trở thành một bộ xương ở gốc cây và cá nhân một người Cộng sản, mặc dù vẫn là con người ấy, chính thể ấy nhưng vẫn phải đổi thay từng bước. Ngày hôm nay, Đảng Cộng sản cũng cần phải thay đổi để tránh những nguy cơ ấy. "Đầu tiên, có lẽ là học cách tin vào sự sáng suốt của nhân dân!", tác giả viết trên tờ An ninh Thế giới.
Tin buồn: anh Trần Quyết Tâm vừa mất hôm qua
-
Theo như Cáo Phó của gia đình đăng (kèm đây) thì anh Trần Quyết Tâm, bạn
Trỗi K4, vừa mất hồi 16h13' ngày 1/1/2020 tại bệnh viện Sanh Pôn, thọ 68
tuổi.
Lễ ...
Thông báo mời gặp mặt của BLL K5 + K8
-
BLL K5 + K8 Trường VHQĐ - TSQ Nguyễn Văn Trỗi phối hợp đồng tổ chức gặp mặt
Truyền Thống năm 2019 chung cả hai Khóa.
BLL K5 + K8 trân trọng kính mời các Thầ...
THÔNG BÁO LẠI
-
THÔNG BÁO (ĐĂNG LẠI)
GIẤY MỜI (đăng lại).
GẶP MẶT K3 trường TSQ-NVT(1-8-2018)
Kính gửi ban liên lạc thầy cô giáo, ban LL nhà trường, ban liên lạc các
khóa 1...
Mục lục SRTKL tập 4
-
MỤC LỤC
* CHƯƠNG I: MỞ ĐẦU *
* 5-46 *
1 Tập IV “Sinh ra trong khói lửa” tình đời, tình người càng sâu nặng - *
Chi Phan * 5
2 Kỷ niệm 45 năm T...