Thứ Hai, 10 tháng 11, 2008

Chuyện không nên kể - HaMeoK6



Chuyện không nên kể

Đúng là xung quanh chuyện cuốn “Nhật ký trong tù” có rất nhiều vấn đề “tế nhị” (không kể các chuyện do tụi phản động hoặc vô học dựng ra). Tôi chỉ xin kể lại đây chuyện của chính tôi được nghe:

Vốn là hè năm 1970, sau khi rời trường Trỗi, tôi được ông bà già tôi dắt vào thăm nhà sàn Bác Hồ. Khi đó, mọi thứ vẫn gần như còn y nguyên giống như lúc Bác mới ra đi, ví dụ như: lịch trong khu nhà Bác (nhà sàn, nhà hầm, nhà bên kia hồ - nơi mà theo sử sách nói là của tay thợ điện ở khi còn thời Pháp) vẫn được thay / bóc đều đặn hàng ngày, chiếc đồng hồ ở đầu giường Bác vẫn chạy đều đúng giờ (nên nhớ đồng hồ hồi đó phải lên giây hàng ngày mới hoạt động), hàng ngày hoa lan mới vẫn được thay trong phòng Bác,…. Chú Vũ Kỳ vẫn lo lắng cho khu nhà như khi xưa, chú đi cùng ông bà già tôi và nói: Bác vẫn còn, không có gì thay đổi cả.

Chú Vũ Kỳ, chắc ai cũng biết, là thư ký Bác suốt từ ngay sau khi nước VNDCCH ra đời cho tới lúc Bác mất. Do vậy, về “lý thuyết”, người hiểu cuộc đời riêng tư của Bác không ai bằng chú Vũ Kỳ - 24 năm làm thư ký riêng của Bác (Tôi vô cùng xin lỗi và xin thắp nén nhang mong chú xá tội nếu như có gì “phạm thượng” tại đây. Chú là người có quan hệ thân thiết với gia đình tôi và là cũng phụ huynh trường Trỗi).

Chuyến viếng thăm có rất nhiều những chi tiết lớn và nhỏ làm tôi không thể quên được cho tới nay. Đơn giản vì đó là lần đầu tiên kể từ khi có chút đỉnh hiểu biết (nhờ đã qua trường Trỗi ?), tôi được vào thăm nơi Bác sống và làm việc, còn trước đó thì quá nhỏ để quan tâm. Chú Vũ Kỳ đã nói rất nhiều, rất nhiều chuyện (mà đôi khi tôi thấy ông già tôi phải có những hành động giống như ngăn lại – Tất nhiên chỉ là cảm nhận của riệng tôi). Từ những chuyện như nơi họp BCT, xây nhà sàn… như nhiều báo chí đã đăng nghe tới thuộc lòng đến những chuyện mà tôi lần đầu tiên được nghe. Chú đưa ra một bài báo lúc bấy giờ đăng ca ngợi tính tiết kiệm của Bác tới mức Bác không dùng quạt máy, thậm chí cái quạt giấy cũ của Bác bị gẫy cán cũng được buộc lại bằng mấy sợ lạt (!). Chú cực kỳ tức giận vì cho là bêu xấu chú không chăm sóc Bác cận thận…. Mà thực chất Bác rất thích sử dụng cái quạt làm từ một cái lá cọ được tự tay Bác chọn và tỉa cắt rất điệu nghệ đúng phong cách một ông đồ nho sống trong căn nhà sàn thoáng mát xung quanh có cây cối, bãi cỏ, ao cá, chim hót… chớ đâu cần quạt trần, máy lạnh… (đúng là “…đời thanh bạch, chẳng vàng son”). Rồi nhiều chuyện, nhiều nữa, trong đó có chuyện về cuốn “Nhật ký trong tù” (mà tôi đã kể trong nhận xét của bài CHUYỆN MINH KÍNH VỚI : NHẬT KÍ TRONG TÙ tại Bờ lốc Bán trời K3) như sau :

Khi 1 số người có ý định gom thơ của Bác lại làm cuốn NKTT, chú có báo cáo với Bác và có ý xin Bác các bài Bác có. Bác nói: còn nhiều việc khác cần làm hơn và không đưa chú cái gì cả. Sau khi gom hết bài, chuẩn bị xuất bản, chú trình Bác xem. Bác cầm và để đấy, không trả lời (việc ít có - vì Bác bao giờ cũng có hồi âm rõ ràng). Chú không dám hỏi. Sau đó NXB cứ xuất bản như ta đã thấy và có gửi biếu Bác. Bác cũng không nói gì (không biết là có xem không?).

Nhưng ngày nay xuất hiện rất nhiều “khảo dị” về chuyện này, trong số đó có chuyện được kể lại là được nghe chú Vũ Kỳ nói (nhưng không giống như tôi đã được trực tiếp nghe! Hay là … sau này chú “nhớ thêm”? – Xin miễn bình luận). Lại có chuyện kể được nghe chính Bác nói (?) …. Tôi được biết, vào tháng 10/2003, một cuốn sách có lẽ tên là “Ngục trung nhật ký” đã được xuất bản bao gồm tất cả các bài thơ này bằng tiếng Tàu dưới dạng bản photo các tờ “nguyên gốc” của Bác (đáng tiếc tôi không có và chưa được thấy, mà có thấy cũng không đọc được tiếng Tàu!). Xin đăng ở đây trang bìa mà tôi tìm được trên mạng (được nói là từ cuốn đó trích ra (?). Có nhiều lời bình phẩm kèm theo mà tôi không muốn đăng tại đây vì không có cơ sở tin cậy. Xin AE hết sức chú ý nếu “chẳng may” tìm thấy!).

Chuyện này đúng ra không nên kể, nhưng tôi vẫn kể, có lẽ là vì “tính Trỗi” nó vậy. Thôi thì, …. cũng đành chịu thôi!

TB. Hồi nhỏ, lúc học ở nước ngoài, nhiều khi ngồi buồn, nhớ nhà, nhớ bạn bè, tôi cũng có làm mấy bài thơ “con cóc” và viết vào 1 cuốn sổ cho riêng mình. Trong cuốn số đó, tôi cũng đã chép lại hoặc nhớ và ghi lại (có khi cũng “chế” thêm chút đỉnh theo ý mình) các bài thơ của người khác (nhiều khi cũng chẳng nhớ là ai sáng tác) mà mình cảm thấy hay và “tức cảnh” ngay ở thời điểm đó. Vì chỉ cho riêng mình, nên thấy cũng không quan trọng. Đến nay mở cuốn số đó ra xem lại, nhiều khi chính mình cũng bị lẫn lộn “thơ người, thơ ta”. Nói “trèo” một chút: may mà mình không trở thành lãnh tụ!



Chuyện không nên kể

Đúng là xung quanh chuyện cuốn “Nhật ký trong tù” có rất nhiều vấn đề “tế nhị” (không kể các chuyện do tụi phản động hoặc vô học dựng ra). Tôi chỉ xin kể lại đây chuyện của chính tôi được nghe:

Vốn là hè năm 1970, sau khi rời trường Trỗi, tôi được ông bà già tôi dắt vào thăm nhà sàn Bác Hồ. Khi đó, mọi thứ vẫn gần như còn y nguyên giống như lúc Bác mới ra đi, ví dụ như: lịch trong khu nhà Bác (nhà sàn, nhà hầm, nhà bên kia hồ - nơi mà theo sử sách nói là của tay thợ điện ở khi còn thời Pháp) vẫn được thay / bóc đều đặn hàng ngày, chiếc đồng hồ ở đầu giường Bác vẫn chạy đều đúng giờ (nên nhớ đồng hồ hồi đó phải lên giây hàng ngày mới hoạt động), hàng ngày hoa lan mới vẫn được thay trong phòng Bác,…. Chú Vũ Kỳ vẫn lo lắng cho khu nhà như khi xưa, chú đi cùng ông bà già tôi và nói: Bác vẫn còn, không có gì thay đổi cả.

Chú Vũ Kỳ, chắc ai cũng biết, là thư ký Bác suốt từ ngay sau khi nước VNDCCH ra đời cho tới lúc Bác mất. Do vậy, về “lý thuyết”, người hiểu cuộc đời riêng tư của Bác không ai bằng chú Vũ Kỳ - 24 năm làm thư ký riêng của Bác (Tôi vô cùng xin lỗi và xin thắp nén nhang mong chú xá tội nếu như có gì “phạm thượng” tại đây. Chú là người có quan hệ thân thiết với gia đình tôi và là cũng phụ huynh trường Trỗi).

Chuyến viếng thăm có rất nhiều những chi tiết lớn và nhỏ làm tôi không thể quên được cho tới nay. Đơn giản vì đó là lần đầu tiên kể từ khi có chút đỉnh hiểu biết (nhờ đã qua trường Trỗi ?), tôi được vào thăm nơi Bác sống và làm việc, còn trước đó thì quá nhỏ để quan tâm. Chú Vũ Kỳ đã nói rất nhiều, rất nhiều chuyện (mà đôi khi tôi thấy ông già tôi phải có những hành động giống như ngăn lại – Tất nhiên chỉ là cảm nhận của riệng tôi). Từ những chuyện như nơi họp BCT, xây nhà sàn… như nhiều báo chí đã đăng nghe tới thuộc lòng đến những chuyện mà tôi lần đầu tiên được nghe. Chú đưa ra một bài báo lúc bấy giờ đăng ca ngợi tính tiết kiệm của Bác tới mức Bác không dùng quạt máy, thậm chí cái quạt giấy cũ của Bác bị gẫy cán cũng được buộc lại bằng mấy sợ lạt (!). Chú cực kỳ tức giận vì cho là bêu xấu chú không chăm sóc Bác cận thận…. Mà thực chất Bác rất thích sử dụng cái quạt làm từ một cái lá cọ được tự tay Bác chọn và tỉa cắt rất điệu nghệ đúng phong cách một ông đồ nho sống trong căn nhà sàn thoáng mát xung quanh có cây cối, bãi cỏ, ao cá, chim hót… chớ đâu cần quạt trần, máy lạnh… (đúng là “…đời thanh bạch, chẳng vàng son”). Rồi nhiều chuyện, nhiều nữa, trong đó có chuyện về cuốn “Nhật ký trong tù” (mà tôi đã kể trong nhận xét của bài CHUYỆN MINH KÍNH VỚI : NHẬT KÍ TRONG TÙ tại Bờ lốc Bán trời K3) như sau :

Khi 1 số người có ý định gom thơ của Bác lại làm cuốn NKTT, chú có báo cáo với Bác và có ý xin Bác các bài Bác có. Bác nói: còn nhiều việc khác cần làm hơn và không đưa chú cái gì cả. Sau khi gom hết bài, chuẩn bị xuất bản, chú trình Bác xem. Bác cầm và để đấy, không trả lời (việc ít có - vì Bác bao giờ cũng có hồi âm rõ ràng). Chú không dám hỏi. Sau đó NXB cứ xuất bản như ta đã thấy và có gửi biếu Bác. Bác cũng không nói gì (không biết là có xem không?).

Nhưng ngày nay xuất hiện rất nhiều “khảo dị” về chuyện này, trong số đó có chuyện được kể lại là được nghe chú Vũ Kỳ nói (nhưng không giống như tôi đã được trực tiếp nghe! Hay là … sau này chú “nhớ thêm”? – Xin miễn bình luận). Lại có chuyện kể được nghe chính Bác nói (?) …. Tôi được biết, vào tháng 10/2003, một cuốn sách có lẽ tên là “Ngục trung nhật ký” đã được xuất bản bao gồm tất cả các bài thơ này bằng tiếng Tàu dưới dạng bản photo các tờ “nguyên gốc” của Bác (đáng tiếc tôi không có và chưa được thấy, mà có thấy cũng không đọc được tiếng Tàu!). Xin đăng ở đây trang bìa mà tôi tìm được trên mạng (được nói là từ cuốn đó trích ra (?). Có nhiều lời bình phẩm kèm theo mà tôi không muốn đăng tại đây vì không có cơ sở tin cậy. Xin AE hết sức chú ý nếu “chẳng may” tìm thấy!).

Chuyện này đúng ra không nên kể, nhưng tôi vẫn kể, có lẽ là vì “tính Trỗi” nó vậy. Thôi thì, …. cũng đành chịu thôi!

TB. Hồi nhỏ, lúc học ở nước ngoài, nhiều khi ngồi buồn, nhớ nhà, nhớ bạn bè, tôi cũng có làm mấy bài thơ “con cóc” và viết vào 1 cuốn sổ cho riêng mình. Trong cuốn số đó, tôi cũng đã chép lại hoặc nhớ và ghi lại (có khi cũng “chế” thêm chút đỉnh theo ý mình) các bài thơ của người khác (nhiều khi cũng chẳng nhớ là ai sáng tác) mà mình cảm thấy hay và “tức cảnh” ngay ở thời điểm đó. Vì chỉ cho riêng mình, nên thấy cũng không quan trọng. Đến nay mở cuốn số đó ra xem lại, nhiều khi chính mình cũng bị lẫn lộn “thơ người, thơ ta”. Nói “trèo” một chút: may mà mình không trở thành lãnh tụ!

Thứ Sáu, 7 tháng 11, 2008

Chân dung khóa 6 - hameok6



Xem comment,

Select  All


Xem comment,

Select  All

Thứ Ba, 4 tháng 11, 2008

"Ốm" - HaMeoK6








"Ốm"

 haeok6

Nhớ hồi ở Trỗi, thỉnh thoảng tôi cũng ốm và nghỉ học. Ốm thật thì quá chán rồi, khỏi phải nói cũng biết. Nhưng giả vờ thì thích lắm !

Trước hết là sáng ra, nhất là mùa đông ở Quế Lâm không phải dậy tập thể dục chỉ cần thều thào: Tao ốm! Thế là cuộn chăn ngủ tít, nghe văng vẳng tiếng hô “1 – 2 – 3 – 4 !” ngoài sân của tụi bạn trong tiếng gió rét buốt (phải tưởng tượng ra một chút) thì mới thấy hết giá trị của cái việc được nằm lại trong chăn ấm! Rồi lại ngủ tiếp cho tới khi tất cả đã lên lớp mình mới từ từ dậy đi đánh răng rửa mặt một mình không phải chen lấn giành giật nước nóng với ai. Sướng thật! Nhưng vì “xuất đầu lộ diện”, nên lúc này phải luôn luôn giữ bộ mặt nhăn nhó đau khổ cho giống ốm, nếu lỡ mấy “gián điệp” nhìn thấy báo thầy thì “toi”. Sau đó quay về giường lục tìm trong đồ tụi bạn cố kiếm lấy được 1 cuốn truyện, nằm dài ra mà nghiền ngẫm.

Một bữa, tôi “ốm” đúng ngay ngày kiểm tra nội vụ toàn Đại đội. Ôi, chẳng ra cái giống gì. Mình phải gấp màn lại rồi nằm trùm chăn kín mít tỏ ra rất mệt mỏi rồi trở thành vật “triển lãm sống” cho nguyên đoàn kiểm tra cả chục người từ các thầy cho tới bọn đại diện các trung đội lượn ra, lượn vô. Ai cũng hỏi: Đứa nào vậy? Ốm à? Ốm sao vậy?.... Đủ thứ linh tinh làm tôi cứ phải rên hừ hừ tới phát mệt cả người, chẳng “chơi” được gì. Chán muốn chết !

Khoảng vào cuối tiết thứ nhất, chú Quân y sẽ đến xem ai có ốm không. Lúc này là “gay cấn” nhất. Ăn nói loạng quạng là “chết ngay”. Nhưng theo kinh nghiệm bản thân lúc bấy giờ, cứ bệnh đau bụng hay nhức đầu là “chắc ăn như bắp”. Không biết đến giờ các bác sĩ Trỗi có biết không, chớ hồi đó, mấy chú y tá Đại đôi là “chịu chết”. 2 cái bệnh này chẳng thấy cái gì, nhất nhất đều phải nghe theo mình khai: Đau quá … cháu đau chỗ này … chỗ này nữa … chỗ này thì ít thôi … còn ở đây thì không ạ … Cứ như vậy mà chỉ tứa lung tung - Dạ lâu lâu đau nhói lên, rồi lại từ từ hết – Đó là câu thòng “bào hiểm” không thể quên để lỡ ai nhìn thấy mình đang cười toét vì chuyện gì đó hay đang chạy đi chơi ngòai đường.



Có một lần vì thấy cứ “đau bụng” quanh quanh hoài (hết bên trái rồi sang bên phải) tới mức chú Quân y cũng thuộc lòng, nên tôi chỉ ngay vào giữa rốn: Cháu đau chỗ này! Chú im lặng không nói gì rồi sau đó chẳng cho tôi cái thuốc gì cả. Có lẽ chú biết (?). Tôi hoảng quá, vội “khỏi” ngay và tự giác cắp sách lên lớp vào giờ tiếp theo một cách nghiêm chỉnh chưa từng thấy. Nhưng cũng được bù lại vào giờ điểm danh Trung đội hôm đó tôi được biểu dương tinh thần ham học khắc phục bệnh tật (!)

Bệnh đau bụng thì thích hơn vì không cần phải làm bộ mặt nhăn nhó mà nhiều khi dễ quên lắm và nếu có chạy ra ngoài thì cũng có lý do chính đáng để bào chữa “Đi cầu”. Nhưng ốm nhiều quá mà cứ đau bụng hoài thì lâu lâu cũng phải “đổi bài” sang đau đầu cho nó có vẻ thật chớ. “Bệnh” này thì không được phép cười nên hơi chán …

Sau khi chú Quân y khám bệnh và cho thuốc xong thì còn được đăng ký ăn trưa suất ốm. Thích nhất hồi ở Quế Lâm là được chọn ăn mỳ hoặc cháo. Cả 2 thứ đều được nấu với thịt bằm và hành. Một suất được hẳn một cái thau to ăn mệt nghỉ. Tôi thường chọn món mỳ, nhưng thỉnh thoảng cũng đổi món cháo cho lạ miệng. Còn về Hưng Hóa thì chỉ có mỗi món cháo với một tí thịt, không hành, không gì hết, nhưng như thế cũng đã là “đặc sản” của thời bấy giờ rồi. Quan trọng nhất là tự do ăn tới hết (mà phần ốm bao giờ cũng nhiều hơn bình thường) chẳng phải tranh giành với ai. Sướng !

Hôm nào mà có hai ba đứa cùng “ốm” thì vui phải biết. Nằm tán dóc cho tới khi chú Quân y cho thuốc xong là có quyền cùng nhau “đi dạo” quanh trường cho tới trước giờ cơm trưa mới về. Mà phải về đúng giờ để khỏi lộ, nhưng căn bản nhất là để “thưởng thức” món “cháo ốm”, không thì tụi khác sẽ “ăn giùm” ngay… Tôi nhớ hồi học lớp 8 ở Hưng Hóa, mấy thằng “ốm” ham vui, đi chơi về trễ quá, mất phần “cháo ốm” rồi mà còn bị thầy Khoát bắt ngồi làm kiểm điểm tới hết “ốm” cả mấy tháng liền !

Nói chung “ốm” chỉ kéo dài tới khoảng giữa buổi chiều là phải “khỏi”, thì tới giờ Thể thao mới chạy chơi được, nếu không, phải nằm dài vào giờ này thì có nước “tự tử mà chết”. Đã vậy tranh thủ ngay sau khi “khỏi” là “bay” ra giếng trước lo tắm giặt thoải mái không phải tranh giành gầu múc nước.

Tóm lại “ốm” cũng không phải là dễ nhỉ!

Đăng lại bài viết của hameok6 (đã đăng tại Blog K4: Thứ hai, tháng mười một 03, 2008.
 











"Ốm"

 haeok6

Nhớ hồi ở Trỗi, thỉnh thoảng tôi cũng ốm và nghỉ học. Ốm thật thì quá chán rồi, khỏi phải nói cũng biết. Nhưng giả vờ thì thích lắm !

Trước hết là sáng ra, nhất là mùa đông ở Quế Lâm không phải dậy tập thể dục chỉ cần thều thào: Tao ốm! Thế là cuộn chăn ngủ tít, nghe văng vẳng tiếng hô “1 – 2 – 3 – 4 !” ngoài sân của tụi bạn trong tiếng gió rét buốt (phải tưởng tượng ra một chút) thì mới thấy hết giá trị của cái việc được nằm lại trong chăn ấm! Rồi lại ngủ tiếp cho tới khi tất cả đã lên lớp mình mới từ từ dậy đi đánh răng rửa mặt một mình không phải chen lấn giành giật nước nóng với ai. Sướng thật! Nhưng vì “xuất đầu lộ diện”, nên lúc này phải luôn luôn giữ bộ mặt nhăn nhó đau khổ cho giống ốm, nếu lỡ mấy “gián điệp” nhìn thấy báo thầy thì “toi”. Sau đó quay về giường lục tìm trong đồ tụi bạn cố kiếm lấy được 1 cuốn truyện, nằm dài ra mà nghiền ngẫm.

Một bữa, tôi “ốm” đúng ngay ngày kiểm tra nội vụ toàn Đại đội. Ôi, chẳng ra cái giống gì. Mình phải gấp màn lại rồi nằm trùm chăn kín mít tỏ ra rất mệt mỏi rồi trở thành vật “triển lãm sống” cho nguyên đoàn kiểm tra cả chục người từ các thầy cho tới bọn đại diện các trung đội lượn ra, lượn vô. Ai cũng hỏi: Đứa nào vậy? Ốm à? Ốm sao vậy?.... Đủ thứ linh tinh làm tôi cứ phải rên hừ hừ tới phát mệt cả người, chẳng “chơi” được gì. Chán muốn chết !

Khoảng vào cuối tiết thứ nhất, chú Quân y sẽ đến xem ai có ốm không. Lúc này là “gay cấn” nhất. Ăn nói loạng quạng là “chết ngay”. Nhưng theo kinh nghiệm bản thân lúc bấy giờ, cứ bệnh đau bụng hay nhức đầu là “chắc ăn như bắp”. Không biết đến giờ các bác sĩ Trỗi có biết không, chớ hồi đó, mấy chú y tá Đại đôi là “chịu chết”. 2 cái bệnh này chẳng thấy cái gì, nhất nhất đều phải nghe theo mình khai: Đau quá … cháu đau chỗ này … chỗ này nữa … chỗ này thì ít thôi … còn ở đây thì không ạ … Cứ như vậy mà chỉ tứa lung tung - Dạ lâu lâu đau nhói lên, rồi lại từ từ hết – Đó là câu thòng “bào hiểm” không thể quên để lỡ ai nhìn thấy mình đang cười toét vì chuyện gì đó hay đang chạy đi chơi ngòai đường.



Có một lần vì thấy cứ “đau bụng” quanh quanh hoài (hết bên trái rồi sang bên phải) tới mức chú Quân y cũng thuộc lòng, nên tôi chỉ ngay vào giữa rốn: Cháu đau chỗ này! Chú im lặng không nói gì rồi sau đó chẳng cho tôi cái thuốc gì cả. Có lẽ chú biết (?). Tôi hoảng quá, vội “khỏi” ngay và tự giác cắp sách lên lớp vào giờ tiếp theo một cách nghiêm chỉnh chưa từng thấy. Nhưng cũng được bù lại vào giờ điểm danh Trung đội hôm đó tôi được biểu dương tinh thần ham học khắc phục bệnh tật (!)

Bệnh đau bụng thì thích hơn vì không cần phải làm bộ mặt nhăn nhó mà nhiều khi dễ quên lắm và nếu có chạy ra ngoài thì cũng có lý do chính đáng để bào chữa “Đi cầu”. Nhưng ốm nhiều quá mà cứ đau bụng hoài thì lâu lâu cũng phải “đổi bài” sang đau đầu cho nó có vẻ thật chớ. “Bệnh” này thì không được phép cười nên hơi chán …

Sau khi chú Quân y khám bệnh và cho thuốc xong thì còn được đăng ký ăn trưa suất ốm. Thích nhất hồi ở Quế Lâm là được chọn ăn mỳ hoặc cháo. Cả 2 thứ đều được nấu với thịt bằm và hành. Một suất được hẳn một cái thau to ăn mệt nghỉ. Tôi thường chọn món mỳ, nhưng thỉnh thoảng cũng đổi món cháo cho lạ miệng. Còn về Hưng Hóa thì chỉ có mỗi món cháo với một tí thịt, không hành, không gì hết, nhưng như thế cũng đã là “đặc sản” của thời bấy giờ rồi. Quan trọng nhất là tự do ăn tới hết (mà phần ốm bao giờ cũng nhiều hơn bình thường) chẳng phải tranh giành với ai. Sướng !

Hôm nào mà có hai ba đứa cùng “ốm” thì vui phải biết. Nằm tán dóc cho tới khi chú Quân y cho thuốc xong là có quyền cùng nhau “đi dạo” quanh trường cho tới trước giờ cơm trưa mới về. Mà phải về đúng giờ để khỏi lộ, nhưng căn bản nhất là để “thưởng thức” món “cháo ốm”, không thì tụi khác sẽ “ăn giùm” ngay… Tôi nhớ hồi học lớp 8 ở Hưng Hóa, mấy thằng “ốm” ham vui, đi chơi về trễ quá, mất phần “cháo ốm” rồi mà còn bị thầy Khoát bắt ngồi làm kiểm điểm tới hết “ốm” cả mấy tháng liền !

Nói chung “ốm” chỉ kéo dài tới khoảng giữa buổi chiều là phải “khỏi”, thì tới giờ Thể thao mới chạy chơi được, nếu không, phải nằm dài vào giờ này thì có nước “tự tử mà chết”. Đã vậy tranh thủ ngay sau khi “khỏi” là “bay” ra giếng trước lo tắm giặt thoải mái không phải tranh giành gầu múc nước.

Tóm lại “ốm” cũng không phải là dễ nhỉ!

Đăng lại bài viết của hameok6 (đã đăng tại Blog K4: Thứ hai, tháng mười một 03, 2008.
 




Thứ Bảy, 1 tháng 11, 2008

Cafe giao ban Tháng 11 + Uống bia nhân ngày sinh nhật blog bantroi

Start:     Nov 2, '08 08:00a
Location:     Café "Đôi khi": 21/3 - Lý Chính Thắng - Q.3 - Tp.HCM
Mời các bạn Trỗi và những người có liên quan tới dự buổi cafe giao ban tổ chức vào sáng chủ nhật đầu tiên của các tháng:
Thời gian: từ (sau) 08g sáng chủ nhật ngày 02/11/2008.
Địa điểm: Cafe "Đôi khi" số 21/3 - Lý Chính Thắng - Q.3 - HCMC.
Nội dung: 1/kỉ niệm ngày sinh nhật blog bantroi, 2/tùy ý bạn.
Tài chính: mạnh ai nấy kêu, kêu gì trả nấy.

T/báo bổ sung:
tới 11g30 xin mời anh em đi uống bia nhân ngày sinh nhật blog bantroi (tài chính: ăn đồng chia đủ). Địa điểm sẽ thống nhất tại cuộc họp.

Trung Liêm, ĐT.0989787868.

Xem:

1. Cafe giao ban Tháng 11 - Hà Chí Quang , 31/10/2008 tại "Blog Bạn Trỗi".

Xem thêm:
1. Tin thời sự - cafe giao ban - Hà Chí Quang K4 (Về phiên khai mạc cafe giao ban 02/03/2008).


Start:     Nov 2, '08 08:00a
Location:     Café "Đôi khi": 21/3 - Lý Chính Thắng - Q.3 - Tp.HCM
Mời các bạn Trỗi và những người có liên quan tới dự buổi cafe giao ban tổ chức vào sáng chủ nhật đầu tiên của các tháng:
Thời gian: từ (sau) 08g sáng chủ nhật ngày 02/11/2008.
Địa điểm: Cafe "Đôi khi" số 21/3 - Lý Chính Thắng - Q.3 - HCMC.
Nội dung: 1/kỉ niệm ngày sinh nhật blog bantroi, 2/tùy ý bạn.
Tài chính: mạnh ai nấy kêu, kêu gì trả nấy.

T/báo bổ sung:
tới 11g30 xin mời anh em đi uống bia nhân ngày sinh nhật blog bantroi (tài chính: ăn đồng chia đủ). Địa điểm sẽ thống nhất tại cuộc họp.

Trung Liêm, ĐT.0989787868.

Xem:

1. Cafe giao ban Tháng 11 - Hà Chí Quang , 31/10/2008 tại "Blog Bạn Trỗi".

Xem thêm:
1. Tin thời sự - cafe giao ban - Hà Chí Quang K4 (Về phiên khai mạc cafe giao ban 02/03/2008).


Con người chuyên nghiệp - HaMeoK6



Con người chuyên nghiệp



“Chuyên nghiệp” hiện đang là cụm từ rất thịnh hành được nhiều người, nhất là các Doanh nghiệp rất thích dùng. Nhưng hiểu thế nào là chuyên nghiệp và nhất là làm sao là “con người chuyên nghiệp” thì không phải ai cũng có thể. Tôi xin kể một chuyện về “con người chuyên nghiệp” mà tôi đã gặp cách đây hơn 30 năm. Hồi đó thì tôi chưa hiểu đấy là chuyên nghiệp, nhưng nay nghĩ lại thì đúng là chỉ có người chuyên nghiệp mới làm vậy. Câu chuyện như sau:

Hồi đó, khi tôi còn học tại CHDC Đức, một lần có chuyện phải đi Berlin. Sau khi xong việc, sắp tới giờ tàu (lửa) chạy (hồi đó chưa có tàu điện – E.Bahn – như ngày nay, mà là tàu với đầu máy Diesel), tôi từ từ ra ga. Rất chắc ăn, chiếu theo vé tàu đã mua, xem bảng giờ khởi hành ở sân ga, tôi ra bến tàu (Bahnsteig), thấy tàu của mình đã đứng đó. Còn 5 phút nữa tàu chạy. Rất vừa phải. Lên tàu kiếm ngay một chỗ ngả lưng ngủ một giấc sau mấy ly bia vừa uống với thằng bạn ở Berlin. Yên chí lớn, sau khoảng 3 tiếng đồng hồ nữa sẽ về tới Dresden, nơi tôi ở, một thành phố đẹp thuộc miền Nam Đông Đức gần biên giới Tiệp Khắc.

Hành khách lên tàu ồn ào - kệ mẹ nó! ngủ đã. Tàu bắt đầu lăn bánh – kệ mẹ nó! đang ngủ mà. Có người lắc lắc vai tôi kêu dậy. Cái gì vậy? – Soát vé – Đây, kiểm lẹ để tao còn ngủ. Tôi uể oải rút vé đưa ra. Xin lỗi, anh đi đâu vậy? – Cái gì? Dresden chứ còn đâu – Đi đâu? Thằng cha soát vé gằn giọng hỏi lại – Vé ghi rõ Dresden rồi còn gì? Chớ bộ mày muốn tao mua vé đi Rostock (một thành phố cảng ở miền Bắc) à? Thật bực mình. Tôi càu nhàu vì bị phá giấc ngủ. – Thằng soát vé bỗng cười ngất, xung quanh, hành khách đang chăm chú nhìn vì tôi là thằng ngoại quốc duy nhất trong toa cũng bật cười theo. Giật mình tôi hỏi: Cái gì vậy? Tại sao tụi mày cười? – Đúng vậy, đây là tàu đi Rostock chớ đâu phải Dresden! – Hả? Tao lên tàu ở bến số… vào lúc …giờ trước lúc khởi hành đúng 5 phút mà sao lại là Rostock? Xin tụi mày đừng đùa nữa, để tao ngủ một chút! Ha, ha… đám thanh niên trong toa cười rộ, còn đám già thì lắc đầu nói với thằng soát vé: Thôi, mày bỏ qua đi. Nó là ngoại quốc nên không biết …. Tôi bỗng tỉnh ngủ và hoảng thực sự: Cái gì vậy?.... Sau một hồi nghe giải thích tôi mới biết thì ra tàu của tôi bị trễ giờ 10 phút và do vậy 3 phút trước giờ chạy theo dự kiến của tàu tôi, tàu đi Rostock mới khởi hành, mà tôi leo lên 2 phút trước đó. Thông báo có ghi trên bảng điện tại ngay bến, nhưng tại buồn ngủ quá nên tôi không chịu xem, lại thấy tàu đậu ngay đúng chỗ phải đậu thế là quên hết. Bấy giờ nhớ lại mới thấy hèn nào lúc ở sân ga tụi hành khách đứng đợi trông ngóng đông thế và nãy giờ trên tàu thấy toàn tụi nói giọng miền Bắc mà mình không để ý. Thôi chết mẹ rồi, làm sao đây? Tàu vẫn lao vun vút về phía Bắc đã gần 1 tiếng đồng hồ. Đây lại là tàu nhanh chỉ dừng ở một vài ga chính… Tôi lắp bắp nhìn thằng soát vé: Tôi, tôi… hết tiền rồi. Nó mà bắt mua vé thì bỏ mẹ, lại còn phạt nữa chứ. Chết cái chắc. Thằng soát vé cũng lúng túng một lúc rồi nói: Thôi, đến ga tới, tàu sẽ dừng 2 phút, anh xuống đón tàu quay lại. Nói rồi nó trả tôi cái vé còn nguyên chưa bấm lỗ kiểm soát – Cám ơn! Không thể nói gì hơn câu đó. Tôi ngồi thừ mặt ra trong sự thông cảm của hành khách cùng toa. May mà trời bắt đầu tối, nếu không cái mặt tôi chắc trông “chẳng ra cái giống gì!”

Tàu sắp đến ga tới, thằng soát vé lại tìm tôi dẫn ra gần cửa đứng đợi và nói: Tàu chỉ dừng 2 phút, anh phải xuống nhanh. Tôi đã báo với Trực ban ga rồi, họ sẽ có cách giải quyết cho anh về Dresden – Cám ơn nhiều! Tàu dừng, cửa mở, tôi nhẩy xuống, một sĩ quan Đường sắt đã đứng đợi sẵn. Thằng soát vé nói xuống: Ông chăm sóc nó giùm tôi. Cám ơn! – Không sao, tao sẽ giải quyết tốt! Tàu tiếp tục lắn bánh. Tôi đứng lại trên một cái ga lẻ, sân ga chỉ có một bến tàu duy nhất. Gió thổi ào ào, lạnh buốt, trước mặt là ông già trực ga cần cái đèn pin ngoắc ngoắc: Theo tao. Tôi lúi cúi theo ổng đi vô nhà hàng ga nhỏ xíu, vắng hoe. Một bà mập ú đứng sau quầy hỏi: Bia? – 2 bia! Ông già nói và nhìn thấy bộ mặt miễn cưỡng của tôi, ổng nói thêm: Tao trả. Rồi ổng dắt tôi lại một cái bàn ngồi xuống hỏi: Chuyện gì xảy ra với mày vậy? – Tôi ngượng ngùng trình bày sự việc.

- Uống miếng bia đi - Ổng nói – Mày hết tiền rồi phải không? Tôi mở ví …, Ổng gạt đi - Mày là sinh viên? – Tôi móc thẻ đưa ổng coi. Ổng hý hoáy ghi chép vài con số gì đó rồi trả lại - Được rồi, nửa tiếng nữa tàu sẽ tới. Uống hết thì kêu thêm – Quay sang bà mập: Tính tiền thằng nhỏ nước ngoài này cho tao nghe.

Tôi lắp bắp: Cám ơn ông. Với tôi thế là đủ rồi – Mà không đủ sao được, cũng chỉ vì mấy ly bia mà tôi bị rơi vào tình cảnh này. Ông già phẩy tay, đứng lên đi ra ngoài bỏ tôi ngồi lại một mình trong im lặng. Nhà hàng vắng lặng không có ai trừ bà mập đang lim dim ngủ gật sau quầy. Tôi vôi rút cuốn “Bảng hướng dẫn giờ tàu trên toàn quốc” lúc nào cũng thủ sẵn trong túi ra xem. Mồi điếu thuốc, nhấm nháp ly bia, tôi thử tính toán xem từ cái ga lẻ này tôi có thể đi đâu đến chỗ gần nhất có các bạn có thể giúp đỡ mình. Từ từ vì mệt và căng thẳng tính mãi không ra, tôi gục xuống ngủ lúc nào không hay….

Ông già trực ga quay lại dẫn tôi tới giao cho một xe Cảnh sát đậu sẵn trước cửa từ hồi nào đưa tôi về đồn. Tại đây tôi được vào một phòng tạm giam không khóa cửa và ngủ tạm qua đêm trên một cái giường gỗ cứng ngắt với tấm mền len y như hồi sơ tán. Sáng ra tôi được cảnh sát áp tải tới ga bàn giao cho một sĩ quan Đường sắt đi kèm về tới Dresden do đã có sự bảo lãnh của nhà trường. Sau đó, suốt mấy hơn tháng trời, tôi đã phải nai lưng ra đi “cày” cật lực để trả nợ tiền nhà trường đã mua vé và đóng phạt cho tôi đúng theo quy định. Một quy định nghặt nghèo nhưng có lẽ là hợp lý. Theo đó, thẻ sinh viên chưa đủ để giảm giá (vé sinh viên chỉ bằng 1/3 vé chính thức) mà còn cần phải có giấy của trường (Bescheinigung) ghi rõ tuyến đường sinh viên đó đi. Thứ này tôi làm gì có, vì đi nhầm tàu mà. Và cũng theo quy định, vé bán trên tàu không có giá cho sinh viên mà còn phải cộng thêm 1 Mark và bị phạt thêm tối thiểu 50% giá vé (đấy là chưa kể “dịch vụ áp tải và coi giữ tôi của cảnh sát và ngành đường sắt). Ôi thôi đủ thứ rắc rối! Đã thế, Sứ quán còn không tha, gọi lên, gọi xuống bắt làm kiểm điểm, truy hỏi tôi đi đâu? làm gì? để làm mất “uy tín” của người VN tại Đức….

- Dậy, tàu đến rồi! Tiếng gọi của ông già làm tôi giật mình. Thì ra là một giấc mơ. Trời lạnh mà mồ hôi tôi ứa ra ướt sũng áo. Tôi vội uống nốt miếng bia còn lại trong ly, xách túi chạy theo và không quên quay lại cám ơn bà mập đã chào tạm biệt, chúc tôi may mắn.

Trong chốc lát, đoàn tàu từ miến Bắc đã lao tới thắng ken két trên sân ga. Cũng vội vã như khi tới, tôi được lên một toa tàu đã mở cửa sẵn với sự đón tiếp của chính ông Trưởng tàu.

- Đây là thằng nhỏ ông đã nói? Ông Trưởng tàu hỏi - Ừ, hãy giúp nó như có thể! Cám ơn nhiều!- Ông già nói xong quay sang tôi: Lên lẹ đi! Tạm biệt và mong không gặp lại mày trong tình trạng này nữa nhé – Tôi bối rối cám ơn ông và lên tàu. Tàu lập tức lại lao đi trong bóng tối…

Ngay sau khi tàu rời khỏi cái ga lẻ, ông Trưởng tàu quay sang tôi lúc đó vẫn còn đứng lớ xớ đó không biết phải làm gì và đi đâu. Mà đi đâu trên con tàu khuya vắng hoe chỉ có vài ba hành khách đang ngủ khì – Rồi, mày còn bao nhiêu tiền? - Dạ khoảng 12 Mark. Tôi dốc hết số tiền trong ví cầm ở tay đưa ông - A hà, để tao tính xem … 12 Mark … thì vừa đủ … tiền vé sinh viên từ đây về tới Oranienburg (nơi có ga xe điện nhanh – S.Bahn - của Berlin xa nhất về hướng Bắc). Tao bán cho mày một vé tới đó mày xuống đi xe điện về Ga Trung tâm rồi chuyển sang tàu lửa về Dresden bằng vé mày đã có – Ông cắt một vé đưa tôi, nhận tiền rối nói tiếp: Đó là giá vé tàu thường, còn vé tàu nhanh có thêm phụ thu (Zuschlag) 3 Mark thì tao mua giùm mày – Vừa nói, ông vừa cắt thêm vé phụ thu đưa tôi trong sự ngạc nhiên cực kỳ. Mẹ, thằng cha này có khùng không nhỉ? Trên tàu chẳng có một ai. Hắn không nói, tôi thì chắc chắn là không rồi, việc gì hắn phải mất thêm 3 Mark. Không hiểu được!!! Nhưng cũng chẳng thể làm gì hơn ngoài câu: Cám ông rất nhiều – Không có gì! Thôi mày kiếm chỗ ngủ đi, khi nào tới tao kêu - Ổng dợm bước đi, nhưng bỗng quay lại: Chắc mày không còn tiền để đi xe điện về Ga Trung tâm. Đây, cầm lấy 1 Mark! Ổng đưa tiền rối bước đi thẳng không thèm nghe câu cám ơn của tôi.

Từ đây trở đi thì mọi chuyện đã qua, không có gì để kể nữa. Song lúc bấy giờ tôi vô cùng ngạc nhiện về sự “điên khùng” của tụi Đức, đặc biệt là ông Trưởng tàu đã phải cố gắng suy nghĩ, tính toán vận dụng và lại còn móc tiền túi (một sự hiếm có đối với dân Đức nổi tiếng “keo kiệt”) chỉ để giải quyết cho đúng quy tắc vì một thằng nhóc nước ngoài không quen biết. Câu chuyện đọng mãi trong tôi cho tới khi tôi hiểu ra cụm từ “chuyên nghiệp” thực chất là như thế nào. Tối hôm đó tôi đã được gặp những con người chuyên nghiệp chứ không phải như những cái máy. Chất “chuyên nghiệp” của họ đã ngấm vào máu xương trở thành bản tính tự nhiên trong mọi hành động và suy nghĩ rất nguyên tắc và rất “con người”! Đó mới là “tính chuyên nghiệp” thực thụ.



Con người chuyên nghiệp



“Chuyên nghiệp” hiện đang là cụm từ rất thịnh hành được nhiều người, nhất là các Doanh nghiệp rất thích dùng. Nhưng hiểu thế nào là chuyên nghiệp và nhất là làm sao là “con người chuyên nghiệp” thì không phải ai cũng có thể. Tôi xin kể một chuyện về “con người chuyên nghiệp” mà tôi đã gặp cách đây hơn 30 năm. Hồi đó thì tôi chưa hiểu đấy là chuyên nghiệp, nhưng nay nghĩ lại thì đúng là chỉ có người chuyên nghiệp mới làm vậy. Câu chuyện như sau:

Hồi đó, khi tôi còn học tại CHDC Đức, một lần có chuyện phải đi Berlin. Sau khi xong việc, sắp tới giờ tàu (lửa) chạy (hồi đó chưa có tàu điện – E.Bahn – như ngày nay, mà là tàu với đầu máy Diesel), tôi từ từ ra ga. Rất chắc ăn, chiếu theo vé tàu đã mua, xem bảng giờ khởi hành ở sân ga, tôi ra bến tàu (Bahnsteig), thấy tàu của mình đã đứng đó. Còn 5 phút nữa tàu chạy. Rất vừa phải. Lên tàu kiếm ngay một chỗ ngả lưng ngủ một giấc sau mấy ly bia vừa uống với thằng bạn ở Berlin. Yên chí lớn, sau khoảng 3 tiếng đồng hồ nữa sẽ về tới Dresden, nơi tôi ở, một thành phố đẹp thuộc miền Nam Đông Đức gần biên giới Tiệp Khắc.

Hành khách lên tàu ồn ào - kệ mẹ nó! ngủ đã. Tàu bắt đầu lăn bánh – kệ mẹ nó! đang ngủ mà. Có người lắc lắc vai tôi kêu dậy. Cái gì vậy? – Soát vé – Đây, kiểm lẹ để tao còn ngủ. Tôi uể oải rút vé đưa ra. Xin lỗi, anh đi đâu vậy? – Cái gì? Dresden chứ còn đâu – Đi đâu? Thằng cha soát vé gằn giọng hỏi lại – Vé ghi rõ Dresden rồi còn gì? Chớ bộ mày muốn tao mua vé đi Rostock (một thành phố cảng ở miền Bắc) à? Thật bực mình. Tôi càu nhàu vì bị phá giấc ngủ. – Thằng soát vé bỗng cười ngất, xung quanh, hành khách đang chăm chú nhìn vì tôi là thằng ngoại quốc duy nhất trong toa cũng bật cười theo. Giật mình tôi hỏi: Cái gì vậy? Tại sao tụi mày cười? – Đúng vậy, đây là tàu đi Rostock chớ đâu phải Dresden! – Hả? Tao lên tàu ở bến số… vào lúc …giờ trước lúc khởi hành đúng 5 phút mà sao lại là Rostock? Xin tụi mày đừng đùa nữa, để tao ngủ một chút! Ha, ha… đám thanh niên trong toa cười rộ, còn đám già thì lắc đầu nói với thằng soát vé: Thôi, mày bỏ qua đi. Nó là ngoại quốc nên không biết …. Tôi bỗng tỉnh ngủ và hoảng thực sự: Cái gì vậy?.... Sau một hồi nghe giải thích tôi mới biết thì ra tàu của tôi bị trễ giờ 10 phút và do vậy 3 phút trước giờ chạy theo dự kiến của tàu tôi, tàu đi Rostock mới khởi hành, mà tôi leo lên 2 phút trước đó. Thông báo có ghi trên bảng điện tại ngay bến, nhưng tại buồn ngủ quá nên tôi không chịu xem, lại thấy tàu đậu ngay đúng chỗ phải đậu thế là quên hết. Bấy giờ nhớ lại mới thấy hèn nào lúc ở sân ga tụi hành khách đứng đợi trông ngóng đông thế và nãy giờ trên tàu thấy toàn tụi nói giọng miền Bắc mà mình không để ý. Thôi chết mẹ rồi, làm sao đây? Tàu vẫn lao vun vút về phía Bắc đã gần 1 tiếng đồng hồ. Đây lại là tàu nhanh chỉ dừng ở một vài ga chính… Tôi lắp bắp nhìn thằng soát vé: Tôi, tôi… hết tiền rồi. Nó mà bắt mua vé thì bỏ mẹ, lại còn phạt nữa chứ. Chết cái chắc. Thằng soát vé cũng lúng túng một lúc rồi nói: Thôi, đến ga tới, tàu sẽ dừng 2 phút, anh xuống đón tàu quay lại. Nói rồi nó trả tôi cái vé còn nguyên chưa bấm lỗ kiểm soát – Cám ơn! Không thể nói gì hơn câu đó. Tôi ngồi thừ mặt ra trong sự thông cảm của hành khách cùng toa. May mà trời bắt đầu tối, nếu không cái mặt tôi chắc trông “chẳng ra cái giống gì!”

Tàu sắp đến ga tới, thằng soát vé lại tìm tôi dẫn ra gần cửa đứng đợi và nói: Tàu chỉ dừng 2 phút, anh phải xuống nhanh. Tôi đã báo với Trực ban ga rồi, họ sẽ có cách giải quyết cho anh về Dresden – Cám ơn nhiều! Tàu dừng, cửa mở, tôi nhẩy xuống, một sĩ quan Đường sắt đã đứng đợi sẵn. Thằng soát vé nói xuống: Ông chăm sóc nó giùm tôi. Cám ơn! – Không sao, tao sẽ giải quyết tốt! Tàu tiếp tục lắn bánh. Tôi đứng lại trên một cái ga lẻ, sân ga chỉ có một bến tàu duy nhất. Gió thổi ào ào, lạnh buốt, trước mặt là ông già trực ga cần cái đèn pin ngoắc ngoắc: Theo tao. Tôi lúi cúi theo ổng đi vô nhà hàng ga nhỏ xíu, vắng hoe. Một bà mập ú đứng sau quầy hỏi: Bia? – 2 bia! Ông già nói và nhìn thấy bộ mặt miễn cưỡng của tôi, ổng nói thêm: Tao trả. Rồi ổng dắt tôi lại một cái bàn ngồi xuống hỏi: Chuyện gì xảy ra với mày vậy? – Tôi ngượng ngùng trình bày sự việc.

- Uống miếng bia đi - Ổng nói – Mày hết tiền rồi phải không? Tôi mở ví …, Ổng gạt đi - Mày là sinh viên? – Tôi móc thẻ đưa ổng coi. Ổng hý hoáy ghi chép vài con số gì đó rồi trả lại - Được rồi, nửa tiếng nữa tàu sẽ tới. Uống hết thì kêu thêm – Quay sang bà mập: Tính tiền thằng nhỏ nước ngoài này cho tao nghe.

Tôi lắp bắp: Cám ơn ông. Với tôi thế là đủ rồi – Mà không đủ sao được, cũng chỉ vì mấy ly bia mà tôi bị rơi vào tình cảnh này. Ông già phẩy tay, đứng lên đi ra ngoài bỏ tôi ngồi lại một mình trong im lặng. Nhà hàng vắng lặng không có ai trừ bà mập đang lim dim ngủ gật sau quầy. Tôi vôi rút cuốn “Bảng hướng dẫn giờ tàu trên toàn quốc” lúc nào cũng thủ sẵn trong túi ra xem. Mồi điếu thuốc, nhấm nháp ly bia, tôi thử tính toán xem từ cái ga lẻ này tôi có thể đi đâu đến chỗ gần nhất có các bạn có thể giúp đỡ mình. Từ từ vì mệt và căng thẳng tính mãi không ra, tôi gục xuống ngủ lúc nào không hay….

Ông già trực ga quay lại dẫn tôi tới giao cho một xe Cảnh sát đậu sẵn trước cửa từ hồi nào đưa tôi về đồn. Tại đây tôi được vào một phòng tạm giam không khóa cửa và ngủ tạm qua đêm trên một cái giường gỗ cứng ngắt với tấm mền len y như hồi sơ tán. Sáng ra tôi được cảnh sát áp tải tới ga bàn giao cho một sĩ quan Đường sắt đi kèm về tới Dresden do đã có sự bảo lãnh của nhà trường. Sau đó, suốt mấy hơn tháng trời, tôi đã phải nai lưng ra đi “cày” cật lực để trả nợ tiền nhà trường đã mua vé và đóng phạt cho tôi đúng theo quy định. Một quy định nghặt nghèo nhưng có lẽ là hợp lý. Theo đó, thẻ sinh viên chưa đủ để giảm giá (vé sinh viên chỉ bằng 1/3 vé chính thức) mà còn cần phải có giấy của trường (Bescheinigung) ghi rõ tuyến đường sinh viên đó đi. Thứ này tôi làm gì có, vì đi nhầm tàu mà. Và cũng theo quy định, vé bán trên tàu không có giá cho sinh viên mà còn phải cộng thêm 1 Mark và bị phạt thêm tối thiểu 50% giá vé (đấy là chưa kể “dịch vụ áp tải và coi giữ tôi của cảnh sát và ngành đường sắt). Ôi thôi đủ thứ rắc rối! Đã thế, Sứ quán còn không tha, gọi lên, gọi xuống bắt làm kiểm điểm, truy hỏi tôi đi đâu? làm gì? để làm mất “uy tín” của người VN tại Đức….

- Dậy, tàu đến rồi! Tiếng gọi của ông già làm tôi giật mình. Thì ra là một giấc mơ. Trời lạnh mà mồ hôi tôi ứa ra ướt sũng áo. Tôi vội uống nốt miếng bia còn lại trong ly, xách túi chạy theo và không quên quay lại cám ơn bà mập đã chào tạm biệt, chúc tôi may mắn.

Trong chốc lát, đoàn tàu từ miến Bắc đã lao tới thắng ken két trên sân ga. Cũng vội vã như khi tới, tôi được lên một toa tàu đã mở cửa sẵn với sự đón tiếp của chính ông Trưởng tàu.

- Đây là thằng nhỏ ông đã nói? Ông Trưởng tàu hỏi - Ừ, hãy giúp nó như có thể! Cám ơn nhiều!- Ông già nói xong quay sang tôi: Lên lẹ đi! Tạm biệt và mong không gặp lại mày trong tình trạng này nữa nhé – Tôi bối rối cám ơn ông và lên tàu. Tàu lập tức lại lao đi trong bóng tối…

Ngay sau khi tàu rời khỏi cái ga lẻ, ông Trưởng tàu quay sang tôi lúc đó vẫn còn đứng lớ xớ đó không biết phải làm gì và đi đâu. Mà đi đâu trên con tàu khuya vắng hoe chỉ có vài ba hành khách đang ngủ khì – Rồi, mày còn bao nhiêu tiền? - Dạ khoảng 12 Mark. Tôi dốc hết số tiền trong ví cầm ở tay đưa ông - A hà, để tao tính xem … 12 Mark … thì vừa đủ … tiền vé sinh viên từ đây về tới Oranienburg (nơi có ga xe điện nhanh – S.Bahn - của Berlin xa nhất về hướng Bắc). Tao bán cho mày một vé tới đó mày xuống đi xe điện về Ga Trung tâm rồi chuyển sang tàu lửa về Dresden bằng vé mày đã có – Ông cắt một vé đưa tôi, nhận tiền rối nói tiếp: Đó là giá vé tàu thường, còn vé tàu nhanh có thêm phụ thu (Zuschlag) 3 Mark thì tao mua giùm mày – Vừa nói, ông vừa cắt thêm vé phụ thu đưa tôi trong sự ngạc nhiên cực kỳ. Mẹ, thằng cha này có khùng không nhỉ? Trên tàu chẳng có một ai. Hắn không nói, tôi thì chắc chắn là không rồi, việc gì hắn phải mất thêm 3 Mark. Không hiểu được!!! Nhưng cũng chẳng thể làm gì hơn ngoài câu: Cám ông rất nhiều – Không có gì! Thôi mày kiếm chỗ ngủ đi, khi nào tới tao kêu - Ổng dợm bước đi, nhưng bỗng quay lại: Chắc mày không còn tiền để đi xe điện về Ga Trung tâm. Đây, cầm lấy 1 Mark! Ổng đưa tiền rối bước đi thẳng không thèm nghe câu cám ơn của tôi.

Từ đây trở đi thì mọi chuyện đã qua, không có gì để kể nữa. Song lúc bấy giờ tôi vô cùng ngạc nhiện về sự “điên khùng” của tụi Đức, đặc biệt là ông Trưởng tàu đã phải cố gắng suy nghĩ, tính toán vận dụng và lại còn móc tiền túi (một sự hiếm có đối với dân Đức nổi tiếng “keo kiệt”) chỉ để giải quyết cho đúng quy tắc vì một thằng nhóc nước ngoài không quen biết. Câu chuyện đọng mãi trong tôi cho tới khi tôi hiểu ra cụm từ “chuyên nghiệp” thực chất là như thế nào. Tối hôm đó tôi đã được gặp những con người chuyên nghiệp chứ không phải như những cái máy. Chất “chuyên nghiệp” của họ đã ngấm vào máu xương trở thành bản tính tự nhiên trong mọi hành động và suy nghĩ rất nguyên tắc và rất “con người”! Đó mới là “tính chuyên nghiệp” thực thụ.

Thứ Năm, 30 tháng 10, 2008

K6 họp khoá

Start:     Jun 7, '08 10:00a
Location:     Hà Nội
Mời các bác xem Ảnh do Quang (Quảng tì?) chụp buổi họp khóa ngày 7 tháng 6 năm 2008 tại Hà Nội.
Kể ra thì cũng hơi muộn, nhưng vẫn rất có giá trị đối với những ai không được tham dự.
Có thêm thuyết minh nữa thì tuyệt    

Xem:

* Ảnh do Quang (Quảng tì?) chụp – Blog K6 - 29/10/2008


Start:     Jun 7, '08 10:00a
Location:     Hà Nội
Mời các bác xem Ảnh do Quang (Quảng tì?) chụp buổi họp khóa ngày 7 tháng 6 năm 2008 tại Hà Nội.
Kể ra thì cũng hơi muộn, nhưng vẫn rất có giá trị đối với những ai không được tham dự.
Có thêm thuyết minh nữa thì tuyệt    

Xem:

* Ảnh do Quang (Quảng tì?) chụp – Blog K6 - 29/10/2008


Thứ Tư, 29 tháng 10, 2008

Họp Trỗi K6 - 7/6/2008




Anh do Quang chup tai buoi hop thang 6 nawm 2008 tai Ha noi





Anh do Quang chup tai buoi hop thang 6 nawm 2008 tai Ha noi


Chủ Nhật, 26 tháng 10, 2008

Chuyện của người đồng nghiệp - Đào Duy



CHUYỆN CỦA NGƯỜI ĐỒNG NGHIỆP


Đào Duy

Cho tới bây giờ tôi cũng không biết số phận của người đàn bà ấy ra sao? Còn hay mất và nếu còn thì chị lưu lạc nơi đâu. Người đàn bà ấy tên Quyết tôi vẫn thường gọi chị Quyết.

Ba mươi năm xa quê đời lính đưa tôi xiêu bạt: Từ Nghệ An nắng gió cháy da tới mảnh đất Trung Lào muỗi vắt, phỉ Vàng Pao rình rập. Ba bốn năm phơi mình rèn luyện trong lò sỹ quan trên mảnh đất Sơn Tây sỏi đá. Ra trường quân hàm trung úy, mấy tháng ăn đợi nằm chờ ở nhà khách bộ tư lệnh hải quân. Buồn, tôi theo thằng bạn rủ rê đi Thái Nguyên buôn chè kiếm tiền tiêu vặt.

Cầm quyết định về vùng 5 hải quân. Ra tới Phú Quốc tôi nói với tay trợ lý cán bộ: “Nơi nào xa nhất, khó khăn nhất thì cho tôi đi!”. Chả phải lý tưởng hay trách nhiệm gì đó cao siêu, tính tôi nó vậy. Từ bé tôi đã thích phiêu lưu, ưa mạo hiểm, khám phá và cấm biết sợ cái gì.

Trong danh sách mấy sỹ quan mới ra trường BTL hải quân bổ sung cho “vùng”, tôi là người có mặt sớm nhất: đúng ngày, đúng tháng trong tờ giấy điều động. Trưởng phòng tổ chức cán bộ ấn tượng trước khuôn mặt rắn rỏi, tác phong nhanh nhẹn và ý thức kỷ luật cộng với tấm bằng tốt nghiệp sỹ quan loại giỏi ông ưu tiên giữ tôi lại công tác tại BTL vùng. Tôi thuyết phục tay trợ lý cán bộ tác động với ông trưởng phòng chấp thuận yêu cầu của tôi.

Thời điểm ấy bộ tư lệnh vùng cũng đang đau đầu cần tìm một sỹ quan trẻ có năng lực trám vào vị trí phó trạm Rada trên đảo Kokong (Đảo này của Campuchia nằm sát biên giới Thai Lan năm 89 ta đã trả lại cho họ) đây là vị trí tiền tiêu quan trọng trong cuộc chiến biên giới tây nam chống Ponpot, nên đề nghị của tôi được bộ tư lệnh vùng chấp nhận.

Cầm tờ quyết định còn thơm mùi mực dấu: “Trung úy Trần Văn K giữ chức trạm phó trạm ra đa hải quân trên đảo Kokong”. Tôi lên đường ngay theo chuyến tàu chở hàng tết của đơn vị ra đảo.

Năm năm sau khi ra trường tất cả háo hức, nhiệt huyết tuổi trẻ hầu như tôi gửi lại hòn đảo Kokong xa xôi. Năm năm nhiều vùng đất, vùng biển đảo phía tây nam tôi đã tới. Suốt quãng đời sau này bao nhiêu hạng người tôi đã gặp và tôi cũng chẳng nhớ bao nhiêu đàn bà con gái đã bước qua cuộc đời mình … nhưng thật lạ, chả hiểu sao mỗi khi buồn cô quạnh bên ly rượu ngoái cổ lại quá khứ, chiêm nghiệm đời mình về mối quan hệ giữa đàn ông và đàn bà thì hình ảnh người đàn bà ấy - chị Quyết, ba mươi năm rồi vẫn ám ảnh đeo bám tôi cho tới mãi hôm nay.

Ra quân, lĩnh một cục lương thượng úy chấp nhận làm lại từ đầu. Chạy vạy may mắn tôi xin được chân nhân viên kỹ thuật của một sân bay phía Nam. Lương tháng chả nhiều, chả ít tùng tiệm đủ sống. Công việc nhàn và phù hợp. Tặc lưỡi, thôi tuổi tác cho tới nay đã ngoại tứ tuần như thế cũng là được, chả mong gì hơn, an phận.

Câu chuyện tôi đang kể với các bạn là của người đồng nghiệp cùng cơ quan. K tâm sự với tôi “Nói sợ anh chả tin nhưng sự thật là như vậy”. Cái sự thật mà tôi sắp kể tiếp với các bạn đây là mối quan hệ giữa K và người đàn bà tên Quyết, tôi muốn chia xẻ cùng các bạn để chúng ta hiểu thêm một góc khuất, một nỗi khổ đau khác, lặng lẽ, âm thầm không gì có thể đo đếm được của thân phận người đàn bà trong chiến tranh.

***

Quê tôi là đất phật, có Chùa Hương nổi tiếng. Tôi có người anh trai năm 1971 đi lính. Cùng đi đợt ấy trong làng gần nhà có anh Hướng trạc tuổi anh tôi, nếu còn sống năm nay anh khoảng 60 tuổi. Anh hy sinh khi cuộc chiến cận kề ngày cuối cùng trên mảnh đất Tây Nguyên. Vợ anh là chị Quyết.

Chị Quyết là người thiên hạ về làm dâu làng tôi. Tướng chị to cao phốp pháp da trắng nõn nà, ngực chị nở nang, chả biết nở cỡ nào nhưng tôi thấy chiếc áo nào của chị cũng rách, mà chỉ rách độc ở hai cái đầu chỏm trên ngực áo. Cặp mông chị to, chắc nổi phồng lên sau làn vải mỏng. Mỗi khi chị gánh lúa bọn trai làng choai choai mắt lấm la, lấm lét nhìn, rồi vội vã quay đi vươn cổ nuốt đi thứ nước nong nóng, sền sệt trong miệng tiết ra khi nhìn cặp mông chị nhún nhảy trên đường làng.

Nhà Chị ở gần nhà tôi, gần như ngày nào chị cũng sang chơi, chị thường giúp mẹ tôi những việc trong nhà như xay lúa, sàng sảy, giã gạo … có hôm trời mưa, lắm khi dở giời gió mùa đông bắc chợt về chị ngủ lại với mẹ tôi. Mẹ tôi thương chị coi chị như con gái trong nhà. Cũng là phận gái nên bà hiểu và thông cảm cho cảnh nàng dâu mẹ chồng, chồng chị biền biệt, con cái chưa có nhìn chị nghĩ tủi phận xót xa như chính đời mình đã từng trải qua.

Có hôm chị sang chơi, thấy mặt chị hây hây, người nóng hầm hập như phải cảm. Chị mượn mẹ tôi cái quạt mo, phành phạch quạt lấy, quạt để. Mẹ tôi nhìn chị rồi thở dài “Ôi dào! Cảm cúm gì" bà nghĩ trong bụng, rồi chạy vội ra sau nhà vơ nắm rau Răm rửa qua quýt, cho vào cối giã, thêm tí muối, lọc lấy bát nước đem vào nhà bắt chị uống. Cụ nói: Uống đi con, uống đi cho đỡ “bốc hỏa”. Bà nhìn chị nhăn mặt cố nuốt từng ngụm rồi ngao ngán lắc đầu “con gái hừng hực thế kia, vò võ xa chồng … rõ khổ ông trời, ông phật có thấu cho không.” Bất giác bà nhớ tới thời xuân sắc của mình vụt lóe lên như ánh sao băng nhưng nó đã qua từ lâu, từ lâu lắm rồi.

Chồng đi biền biệt, bốn, năm năm chả thư từ tin tức, nỗi chờ mong như niềm tin đặt nơi vô vọng. Việc đồng áng quần quật nhà chồng, từng ấy thứ cả tinh thần lẫn vật chất đổ xuống trái tim, xuống thân xác chị. Nhưng lạ thay nhu cầu bản năng vẫn cứ tràn ứ và lan tỏa, phô bày ra trên cơ thể, trên làn da, mớ tóc, trong cặp mắt long lanh, trong làn môi mọng đỏ, những thèm muốn khát khao dù có kiềm chế thế nào nó vẫn rực cháy trong cơ thể đang độ xuân thì của chị.

Những tháng năm làm dâu của chị không suôn sẻ. Mâu thuẫn nàng dâu mẹ chồng đẩy hai mẹ con chị xa nhau, tới độ hai mẹ con không còn muốn nhìn mặt nhau nữa. Chị bỏ nhà sang xin phép mẹ tôi ở nhờ. Thương chị, mẹ tôi thu xếp cho chị cái chõng tre kê dưới bếp. Nhà tôi có dãy nhà trên năm gian và khu nhà bếp. Hai dãy nhà cách nhau qua một cái sân gạch lớn.

Chị quý tôi, cậu con trai khỏe mạnh, khôi ngô đang tuổi lớn. Vào những buổi tối, buổi trưa nông nhàn chị hay đọc cho tôi nghe những chuyện tình cảm, phần nhiều là chuyện chép tay lưu truyền dấm dúi trong đám thanh niên lúc bấy giờ như: Lan và Điệp, Vụ án thành Pari …

Tôi còn nhớ một đêm đói quá giữa khuya tôi lần mò xuống bếp tìm khoai ăn. Quê tôi có giống khoai nước, củ như khoai sọ, sau khi luộc chín chắt hết nước rồi vùi nồi vào đống tro, sáng hôm sau lấy ăn thì không gì tuyệt hơn. Bóc củ khoai chín nóng hổi vỏ đã se khô lại, thịt khoai màu vàng nghệ vừa dẻo, vừa bùi, vừa thơm cái anh khoai chiên trong món lẩu dê Sài Gòn mà tôi đã từng thưởng thức chả ăn thua gì, chỉ đáng hàng con cháu.

Đêm trăng suông, hắt thứ ánh sáng đùng đục, yếu ớt qua bậu cửa đủ để tôi tìm thấy nồi khoai vùi còn nóng trong đống tro. Bỗng tôi nghe phành phạch, nhè nhẹ của tiếng quạt mo từ cái chõng tre phát ra. Nhìn về hướng đó trai tim bé bỏng của tôi như nghẹn lại. Trong chiếc màn màu cháo lòng tôi nhận ra hình dáng chị không một mảnh vải trên thân.

Dường như đắn đo dằng xé ghê gớm lắm trong sự đấu tranh giữa lý trí và bản năng tiếng chị dại đi ngắt quãng:

- Làm … gì … khuya … thế em?

Tôi ngồi bất động, thở hổn hển không nói lên lời. Bóng đêm dấu đi khuôn mặt đỏ, nóng bỏng như củ khoai tôi cầm trên tay rồi luống cuống tôi để tuột rơi, tôi cũng chẳng muốn tìm và cơn đói cũng theo củ khoai “rơi” đâu mất, lúc này chả ai còn đủ tâm trí đâu để nghĩ tới chuyện khác.

- Lại đây chị bảo, giọng chị khe khẽ.

Tôi run rẩy tiến dần về phía cái chõng tre nơi chị đang nằm, rồi len lén ngồi nơi mép chõng. Bỗng chị ngôi bật dậy, chị ôm lấy tôi dúi đầu tôi vào cặp ngực nóng hổi chắc nịch của mình. Tôi run lên từng chập như người sốt rét rừng rồi như người bị chứng nhồi máu cơ tim, tôi lả đi mộng mị chả còn biết gì nữa.

Từ đêm ấy trở đi tôi như trở thành một người khác, ngẩn ngơ như kẻ bị thần linh rút hết trí khôn, vật vã, phờ phạc … Linh cảm người mẹ mách bảo, mẹ tôi lờ mờ nhận ra điều gì đó không ổn xảy ra đối với tôi và rồi một đêm bà theo rõi và phát hiện ra mối quan hệ cuả chúng tôi. Bà ngồi vật xuống bậu cửa khóc. Một lúc lâu tiếng khóc của bà tắt hẳn thay vào đó là tiếng guốc thập thõm gõ trên nền sân gạch như báo hiệu có người thứ ba biết chuyện của chúng tôi.

Sáng hôm sau mẹ tôi dậy sớm xuống bếp tìm chị thì chỉ còn lại chiếc quạt mo nằm trơ trọi trên chiếc chõng tre.

Từ đó cho tới bây giờ dân làng cũng như gia đình tôi không biết chị đi đâu, về đâu biệt vô tăm tích.

Mấy chục năm xa quê, vài năm một lần, thậm chí có khi cả chục năm tôi mới có dịp về quê, thăm lại chốn xưa. Vật đổi sao rời, quá khứ đau buồn của một thời đã trở thành dĩ vãng. Mẹ tôi đã mất từ lâu, người làng chẳng còn ai nhớ, ai biết tới chị. Chỉ duy nhất có một người còn nhớ, người đó giờ cũng tha hương biền biệt nơi “đất khách” như chính cuộc đời chị vậy.

T/p Hồ Chí Minh – 10/2008




Hit Counter


CHUYỆN CỦA NGƯỜI ĐỒNG NGHIỆP


Đào Duy

Cho tới bây giờ tôi cũng không biết số phận của người đàn bà ấy ra sao? Còn hay mất và nếu còn thì chị lưu lạc nơi đâu. Người đàn bà ấy tên Quyết tôi vẫn thường gọi chị Quyết.

Ba mươi năm xa quê đời lính đưa tôi xiêu bạt: Từ Nghệ An nắng gió cháy da tới mảnh đất Trung Lào muỗi vắt, phỉ Vàng Pao rình rập. Ba bốn năm phơi mình rèn luyện trong lò sỹ quan trên mảnh đất Sơn Tây sỏi đá. Ra trường quân hàm trung úy, mấy tháng ăn đợi nằm chờ ở nhà khách bộ tư lệnh hải quân. Buồn, tôi theo thằng bạn rủ rê đi Thái Nguyên buôn chè kiếm tiền tiêu vặt.

Cầm quyết định về vùng 5 hải quân. Ra tới Phú Quốc tôi nói với tay trợ lý cán bộ: “Nơi nào xa nhất, khó khăn nhất thì cho tôi đi!”. Chả phải lý tưởng hay trách nhiệm gì đó cao siêu, tính tôi nó vậy. Từ bé tôi đã thích phiêu lưu, ưa mạo hiểm, khám phá và cấm biết sợ cái gì.

Trong danh sách mấy sỹ quan mới ra trường BTL hải quân bổ sung cho “vùng”, tôi là người có mặt sớm nhất: đúng ngày, đúng tháng trong tờ giấy điều động. Trưởng phòng tổ chức cán bộ ấn tượng trước khuôn mặt rắn rỏi, tác phong nhanh nhẹn và ý thức kỷ luật cộng với tấm bằng tốt nghiệp sỹ quan loại giỏi ông ưu tiên giữ tôi lại công tác tại BTL vùng. Tôi thuyết phục tay trợ lý cán bộ tác động với ông trưởng phòng chấp thuận yêu cầu của tôi.

Thời điểm ấy bộ tư lệnh vùng cũng đang đau đầu cần tìm một sỹ quan trẻ có năng lực trám vào vị trí phó trạm Rada trên đảo Kokong (Đảo này của Campuchia nằm sát biên giới Thai Lan năm 89 ta đã trả lại cho họ) đây là vị trí tiền tiêu quan trọng trong cuộc chiến biên giới tây nam chống Ponpot, nên đề nghị của tôi được bộ tư lệnh vùng chấp nhận.

Cầm tờ quyết định còn thơm mùi mực dấu: “Trung úy Trần Văn K giữ chức trạm phó trạm ra đa hải quân trên đảo Kokong”. Tôi lên đường ngay theo chuyến tàu chở hàng tết của đơn vị ra đảo.

Năm năm sau khi ra trường tất cả háo hức, nhiệt huyết tuổi trẻ hầu như tôi gửi lại hòn đảo Kokong xa xôi. Năm năm nhiều vùng đất, vùng biển đảo phía tây nam tôi đã tới. Suốt quãng đời sau này bao nhiêu hạng người tôi đã gặp và tôi cũng chẳng nhớ bao nhiêu đàn bà con gái đã bước qua cuộc đời mình … nhưng thật lạ, chả hiểu sao mỗi khi buồn cô quạnh bên ly rượu ngoái cổ lại quá khứ, chiêm nghiệm đời mình về mối quan hệ giữa đàn ông và đàn bà thì hình ảnh người đàn bà ấy - chị Quyết, ba mươi năm rồi vẫn ám ảnh đeo bám tôi cho tới mãi hôm nay.

Ra quân, lĩnh một cục lương thượng úy chấp nhận làm lại từ đầu. Chạy vạy may mắn tôi xin được chân nhân viên kỹ thuật của một sân bay phía Nam. Lương tháng chả nhiều, chả ít tùng tiệm đủ sống. Công việc nhàn và phù hợp. Tặc lưỡi, thôi tuổi tác cho tới nay đã ngoại tứ tuần như thế cũng là được, chả mong gì hơn, an phận.

Câu chuyện tôi đang kể với các bạn là của người đồng nghiệp cùng cơ quan. K tâm sự với tôi “Nói sợ anh chả tin nhưng sự thật là như vậy”. Cái sự thật mà tôi sắp kể tiếp với các bạn đây là mối quan hệ giữa K và người đàn bà tên Quyết, tôi muốn chia xẻ cùng các bạn để chúng ta hiểu thêm một góc khuất, một nỗi khổ đau khác, lặng lẽ, âm thầm không gì có thể đo đếm được của thân phận người đàn bà trong chiến tranh.

***

Quê tôi là đất phật, có Chùa Hương nổi tiếng. Tôi có người anh trai năm 1971 đi lính. Cùng đi đợt ấy trong làng gần nhà có anh Hướng trạc tuổi anh tôi, nếu còn sống năm nay anh khoảng 60 tuổi. Anh hy sinh khi cuộc chiến cận kề ngày cuối cùng trên mảnh đất Tây Nguyên. Vợ anh là chị Quyết.

Chị Quyết là người thiên hạ về làm dâu làng tôi. Tướng chị to cao phốp pháp da trắng nõn nà, ngực chị nở nang, chả biết nở cỡ nào nhưng tôi thấy chiếc áo nào của chị cũng rách, mà chỉ rách độc ở hai cái đầu chỏm trên ngực áo. Cặp mông chị to, chắc nổi phồng lên sau làn vải mỏng. Mỗi khi chị gánh lúa bọn trai làng choai choai mắt lấm la, lấm lét nhìn, rồi vội vã quay đi vươn cổ nuốt đi thứ nước nong nóng, sền sệt trong miệng tiết ra khi nhìn cặp mông chị nhún nhảy trên đường làng.

Nhà Chị ở gần nhà tôi, gần như ngày nào chị cũng sang chơi, chị thường giúp mẹ tôi những việc trong nhà như xay lúa, sàng sảy, giã gạo … có hôm trời mưa, lắm khi dở giời gió mùa đông bắc chợt về chị ngủ lại với mẹ tôi. Mẹ tôi thương chị coi chị như con gái trong nhà. Cũng là phận gái nên bà hiểu và thông cảm cho cảnh nàng dâu mẹ chồng, chồng chị biền biệt, con cái chưa có nhìn chị nghĩ tủi phận xót xa như chính đời mình đã từng trải qua.

Có hôm chị sang chơi, thấy mặt chị hây hây, người nóng hầm hập như phải cảm. Chị mượn mẹ tôi cái quạt mo, phành phạch quạt lấy, quạt để. Mẹ tôi nhìn chị rồi thở dài “Ôi dào! Cảm cúm gì" bà nghĩ trong bụng, rồi chạy vội ra sau nhà vơ nắm rau Răm rửa qua quýt, cho vào cối giã, thêm tí muối, lọc lấy bát nước đem vào nhà bắt chị uống. Cụ nói: Uống đi con, uống đi cho đỡ “bốc hỏa”. Bà nhìn chị nhăn mặt cố nuốt từng ngụm rồi ngao ngán lắc đầu “con gái hừng hực thế kia, vò võ xa chồng … rõ khổ ông trời, ông phật có thấu cho không.” Bất giác bà nhớ tới thời xuân sắc của mình vụt lóe lên như ánh sao băng nhưng nó đã qua từ lâu, từ lâu lắm rồi.

Chồng đi biền biệt, bốn, năm năm chả thư từ tin tức, nỗi chờ mong như niềm tin đặt nơi vô vọng. Việc đồng áng quần quật nhà chồng, từng ấy thứ cả tinh thần lẫn vật chất đổ xuống trái tim, xuống thân xác chị. Nhưng lạ thay nhu cầu bản năng vẫn cứ tràn ứ và lan tỏa, phô bày ra trên cơ thể, trên làn da, mớ tóc, trong cặp mắt long lanh, trong làn môi mọng đỏ, những thèm muốn khát khao dù có kiềm chế thế nào nó vẫn rực cháy trong cơ thể đang độ xuân thì của chị.

Những tháng năm làm dâu của chị không suôn sẻ. Mâu thuẫn nàng dâu mẹ chồng đẩy hai mẹ con chị xa nhau, tới độ hai mẹ con không còn muốn nhìn mặt nhau nữa. Chị bỏ nhà sang xin phép mẹ tôi ở nhờ. Thương chị, mẹ tôi thu xếp cho chị cái chõng tre kê dưới bếp. Nhà tôi có dãy nhà trên năm gian và khu nhà bếp. Hai dãy nhà cách nhau qua một cái sân gạch lớn.

Chị quý tôi, cậu con trai khỏe mạnh, khôi ngô đang tuổi lớn. Vào những buổi tối, buổi trưa nông nhàn chị hay đọc cho tôi nghe những chuyện tình cảm, phần nhiều là chuyện chép tay lưu truyền dấm dúi trong đám thanh niên lúc bấy giờ như: Lan và Điệp, Vụ án thành Pari …

Tôi còn nhớ một đêm đói quá giữa khuya tôi lần mò xuống bếp tìm khoai ăn. Quê tôi có giống khoai nước, củ như khoai sọ, sau khi luộc chín chắt hết nước rồi vùi nồi vào đống tro, sáng hôm sau lấy ăn thì không gì tuyệt hơn. Bóc củ khoai chín nóng hổi vỏ đã se khô lại, thịt khoai màu vàng nghệ vừa dẻo, vừa bùi, vừa thơm cái anh khoai chiên trong món lẩu dê Sài Gòn mà tôi đã từng thưởng thức chả ăn thua gì, chỉ đáng hàng con cháu.

Đêm trăng suông, hắt thứ ánh sáng đùng đục, yếu ớt qua bậu cửa đủ để tôi tìm thấy nồi khoai vùi còn nóng trong đống tro. Bỗng tôi nghe phành phạch, nhè nhẹ của tiếng quạt mo từ cái chõng tre phát ra. Nhìn về hướng đó trai tim bé bỏng của tôi như nghẹn lại. Trong chiếc màn màu cháo lòng tôi nhận ra hình dáng chị không một mảnh vải trên thân.

Dường như đắn đo dằng xé ghê gớm lắm trong sự đấu tranh giữa lý trí và bản năng tiếng chị dại đi ngắt quãng:

- Làm … gì … khuya … thế em?

Tôi ngồi bất động, thở hổn hển không nói lên lời. Bóng đêm dấu đi khuôn mặt đỏ, nóng bỏng như củ khoai tôi cầm trên tay rồi luống cuống tôi để tuột rơi, tôi cũng chẳng muốn tìm và cơn đói cũng theo củ khoai “rơi” đâu mất, lúc này chả ai còn đủ tâm trí đâu để nghĩ tới chuyện khác.

- Lại đây chị bảo, giọng chị khe khẽ.

Tôi run rẩy tiến dần về phía cái chõng tre nơi chị đang nằm, rồi len lén ngồi nơi mép chõng. Bỗng chị ngôi bật dậy, chị ôm lấy tôi dúi đầu tôi vào cặp ngực nóng hổi chắc nịch của mình. Tôi run lên từng chập như người sốt rét rừng rồi như người bị chứng nhồi máu cơ tim, tôi lả đi mộng mị chả còn biết gì nữa.

Từ đêm ấy trở đi tôi như trở thành một người khác, ngẩn ngơ như kẻ bị thần linh rút hết trí khôn, vật vã, phờ phạc … Linh cảm người mẹ mách bảo, mẹ tôi lờ mờ nhận ra điều gì đó không ổn xảy ra đối với tôi và rồi một đêm bà theo rõi và phát hiện ra mối quan hệ cuả chúng tôi. Bà ngồi vật xuống bậu cửa khóc. Một lúc lâu tiếng khóc của bà tắt hẳn thay vào đó là tiếng guốc thập thõm gõ trên nền sân gạch như báo hiệu có người thứ ba biết chuyện của chúng tôi.

Sáng hôm sau mẹ tôi dậy sớm xuống bếp tìm chị thì chỉ còn lại chiếc quạt mo nằm trơ trọi trên chiếc chõng tre.

Từ đó cho tới bây giờ dân làng cũng như gia đình tôi không biết chị đi đâu, về đâu biệt vô tăm tích.

Mấy chục năm xa quê, vài năm một lần, thậm chí có khi cả chục năm tôi mới có dịp về quê, thăm lại chốn xưa. Vật đổi sao rời, quá khứ đau buồn của một thời đã trở thành dĩ vãng. Mẹ tôi đã mất từ lâu, người làng chẳng còn ai nhớ, ai biết tới chị. Chỉ duy nhất có một người còn nhớ, người đó giờ cũng tha hương biền biệt nơi “đất khách” như chính cuộc đời chị vậy.

T/p Hồ Chí Minh – 10/2008




Hit Counter

Thứ Bảy, 25 tháng 10, 2008

Thi ăn - HaMeoK6






Thi ăn

 haeok6

Nghe chuyện Nhà hàng “Bánh mỳ vua” của a. DS K4 tổ chức thi ăn bánh mỳ với người Vô địch đã “nuốt” hết 6 cái (mỗi cái dài khoảng 3 tấc bao gồm cả nhân thịt, rau cỏ…) trong vòng có 20 phút, tôi bỗng nhớ tới chuyện “thi ăn” ở trường Trỗi.

Hồi học lớp 5, khi còn ở Đại từ, ở K6 cũng có mấy đứa “cá” nhau ăn nhiều cơm nhất – tất nhiên là chỉ có cơm chớ lấy đâu ra thịt và rau cỏ. Không biết “vòng loại” thì như thế nào, nhưng vào đến “chung kết” là T.“hăm” và KT (lúc đó đều ở B1). Hôm đó, sau khi cả Đại đội đã ăn xong đi về, trước sự “chứng giám” của 1 lô “trọng tài” (là đám đã tích cực đi gom lại toàn bộ cơm thừa của các mâm thành 2 nồi quân dụng), 2 đứa múc cơm đầy chén B52 rồi “tọng” vào miệng. “Mánh” của tụi nó là múc đầy cơm rồi chan nước trà vô (thực chất là nước cơm cháy của nhà ăn), rồi lại múc nước trà đổ đi để lợi dụng cho một vài hạt cơm theo đó ra ngoài. Lúc đầu thì còn “chửi” nhau là ăn gian, nhưng sau thì cà 2 bên đều thực hiện. Thế là “công bằng”. Ban trọng tài theo dõi từng chén một và cùng nhau gào lên đếm kết quả của mỗi bên. : một, hai, ba…. Rồi tám, chín, mười…. Thật là “sôi động và gay cấn”!


Kết quả cuối cùng: T.“hăm” dừng lại hình như ở chén thứ 11, còn KT “làm” xong chén thứ 12 là đã thắng, nhưng “khuyến mãi” thêm 1 chén nữa là 13 trong “vinh quang”! Cả 2 đứa đều “tự hào” một cách nặng nề “bò” về đến nhà và lên giường nằm ngay. Sau chừng nửa tiếng, T.”hăm” biến mất… rồi xuất hiện trở lại tươi tỉnh đi họp Đại đội. Còn KT thì báo ốm nghỉ họp nằm nhà. Nhưng chỉ 1 lúc thì nó quằn quại đau bụng và lên Quân y báo chú Thích (y tá đại đội). Chú Thích hoảng hồn rờ nắn bụng nó lung tung cả mà hình như cũng chẳng biết là bệnh gì? Sau có mấy đứa nói chuyện thi ăn, chú Thích mới cười ra tiếng, lấy 1 ngón tay thọc vào miệng nó…. Và nó ói ra 1 đống. Ôi thì một đống cơm còn nguyên xi chưa được nhai nghiền gì hết chứ đừng nói tới tiêu hóa. Sau 5 phút “bệnh” nó khỏi liền. Báo hại chú Thích chắc đã “nôn ruột” (vì sợ nó đau ruột thừa?).

Chuyện từ hồi trẻ con, lúc đó thật là vui, nhưng nay nghĩ lại mới thấy sợ. AE thử nghĩ xem, nếu hôm nay con mình khoảng 11, 12 tuổi “nốc” 1 lúc 13 chén cơm B52 thì sao nhỉ? Thật khủng khiếp! (Không biết 2 thằng này mà ăn “bánh mỳ vua” thì sao nhỉ?)

TB. Sau này, khi lên Đại học, KT cũng trở thành “vô địch” (không thi đấu) về ăn nhanh, nó chỉ lùa 3 lùa là hết 1 chén cơm! Bởi vậy chẳng bao giờ nó phải ăn ngô, mỳ độn (dù lúc bấy giờ độn tới 60%). Còn tụi cùng mâm thì chỉ “được phép” nếm mùi cơm qua chén đầu tiên. Thật tội nghiệp!

Đăng lại bài viết của hameok6 (đã đăng tại Blog K3: Thứ bảy, ngày 25 tháng mười năm 2008.
 









Thi ăn

 haeok6

Nghe chuyện Nhà hàng “Bánh mỳ vua” của a. DS K4 tổ chức thi ăn bánh mỳ với người Vô địch đã “nuốt” hết 6 cái (mỗi cái dài khoảng 3 tấc bao gồm cả nhân thịt, rau cỏ…) trong vòng có 20 phút, tôi bỗng nhớ tới chuyện “thi ăn” ở trường Trỗi.

Hồi học lớp 5, khi còn ở Đại từ, ở K6 cũng có mấy đứa “cá” nhau ăn nhiều cơm nhất – tất nhiên là chỉ có cơm chớ lấy đâu ra thịt và rau cỏ. Không biết “vòng loại” thì như thế nào, nhưng vào đến “chung kết” là T.“hăm” và KT (lúc đó đều ở B1). Hôm đó, sau khi cả Đại đội đã ăn xong đi về, trước sự “chứng giám” của 1 lô “trọng tài” (là đám đã tích cực đi gom lại toàn bộ cơm thừa của các mâm thành 2 nồi quân dụng), 2 đứa múc cơm đầy chén B52 rồi “tọng” vào miệng. “Mánh” của tụi nó là múc đầy cơm rồi chan nước trà vô (thực chất là nước cơm cháy của nhà ăn), rồi lại múc nước trà đổ đi để lợi dụng cho một vài hạt cơm theo đó ra ngoài. Lúc đầu thì còn “chửi” nhau là ăn gian, nhưng sau thì cà 2 bên đều thực hiện. Thế là “công bằng”. Ban trọng tài theo dõi từng chén một và cùng nhau gào lên đếm kết quả của mỗi bên. : một, hai, ba…. Rồi tám, chín, mười…. Thật là “sôi động và gay cấn”!


Kết quả cuối cùng: T.“hăm” dừng lại hình như ở chén thứ 11, còn KT “làm” xong chén thứ 12 là đã thắng, nhưng “khuyến mãi” thêm 1 chén nữa là 13 trong “vinh quang”! Cả 2 đứa đều “tự hào” một cách nặng nề “bò” về đến nhà và lên giường nằm ngay. Sau chừng nửa tiếng, T.”hăm” biến mất… rồi xuất hiện trở lại tươi tỉnh đi họp Đại đội. Còn KT thì báo ốm nghỉ họp nằm nhà. Nhưng chỉ 1 lúc thì nó quằn quại đau bụng và lên Quân y báo chú Thích (y tá đại đội). Chú Thích hoảng hồn rờ nắn bụng nó lung tung cả mà hình như cũng chẳng biết là bệnh gì? Sau có mấy đứa nói chuyện thi ăn, chú Thích mới cười ra tiếng, lấy 1 ngón tay thọc vào miệng nó…. Và nó ói ra 1 đống. Ôi thì một đống cơm còn nguyên xi chưa được nhai nghiền gì hết chứ đừng nói tới tiêu hóa. Sau 5 phút “bệnh” nó khỏi liền. Báo hại chú Thích chắc đã “nôn ruột” (vì sợ nó đau ruột thừa?).

Chuyện từ hồi trẻ con, lúc đó thật là vui, nhưng nay nghĩ lại mới thấy sợ. AE thử nghĩ xem, nếu hôm nay con mình khoảng 11, 12 tuổi “nốc” 1 lúc 13 chén cơm B52 thì sao nhỉ? Thật khủng khiếp! (Không biết 2 thằng này mà ăn “bánh mỳ vua” thì sao nhỉ?)

TB. Sau này, khi lên Đại học, KT cũng trở thành “vô địch” (không thi đấu) về ăn nhanh, nó chỉ lùa 3 lùa là hết 1 chén cơm! Bởi vậy chẳng bao giờ nó phải ăn ngô, mỳ độn (dù lúc bấy giờ độn tới 60%). Còn tụi cùng mâm thì chỉ “được phép” nếm mùi cơm qua chén đầu tiên. Thật tội nghiệp!

Đăng lại bài viết của hameok6 (đã đăng tại Blog K3: Thứ bảy, ngày 25 tháng mười năm 2008.
 




Cây ngô đồng - hameok6

Cây ngô đồng



Lần đầu tiên biết tới cái tên này là do có phim tên “Cây ngô đồng” của TQ chiếu trên TV, nhưng xem mãi cũng chẳng hiểu nó trông ra làm sao. Nghe tên thì cứ nghĩ nó đại loại giống mấy cây ngô (bắp) mà mình vẫn hái trộm hồi xưa. Tới hồi đi du lịch TQ mới được tụi HDV giới thiệu: đây là cây ngô đồng. Ô, trông nó chẳng có gì là "ngô" cả. Rồi nhìn kỹ, hóa ra đối diện nhà mình cũng có 1 cây mà ko biết (nó núp sau cây cột điện). Về hỏi ông hàng xóm: Cây gì vậy? – Ko biết, từ hồi tôi mua nhà nó đã có.

Vậy đúng là:
Mối tình hữu nghị Việt – Trung
Vừa là thành phố vừa là nhà quê.


Được đăng bởi hameok6
vào lúc 17:50
Đăng lại bài viết của Hà Mèo (đã đăng tại „Blog ÚT TRỖI”: Thứ sáu, ngày 24 tháng mười năm 2008)

Cây ngô đồng



Lần đầu tiên biết tới cái tên này là do có phim tên “Cây ngô đồng” của TQ chiếu trên TV, nhưng xem mãi cũng chẳng hiểu nó trông ra làm sao. Nghe tên thì cứ nghĩ nó đại loại giống mấy cây ngô (bắp) mà mình vẫn hái trộm hồi xưa. Tới hồi đi du lịch TQ mới được tụi HDV giới thiệu: đây là cây ngô đồng. Ô, trông nó chẳng có gì là "ngô" cả. Rồi nhìn kỹ, hóa ra đối diện nhà mình cũng có 1 cây mà ko biết (nó núp sau cây cột điện). Về hỏi ông hàng xóm: Cây gì vậy? – Ko biết, từ hồi tôi mua nhà nó đã có.

Vậy đúng là:
Mối tình hữu nghị Việt – Trung
Vừa là thành phố vừa là nhà quê.


Được đăng bởi hameok6
vào lúc 17:50
Đăng lại bài viết của Hà Mèo (đã đăng tại „Blog ÚT TRỖI”: Thứ sáu, ngày 24 tháng mười năm 2008)